Ban Truyền Thông

TÀI LIỆU

Ban Truyền Thông

Ban Truyền Thông

MI-CA-EN MA-GÔN ĐẠI TƯỚNG TÍ HON

LỜI PHI LỘ

Các bạn thân mến,

Mi-ca-en và Đaminh

Mi-ca-en Ma-gôn, một trong những người như các bạn đang nóng lòng chờ đợi ngày phát hành cuốn tiểu sử Đa-minh Savio. Thật vậy, Mi-ca-en đã cố thu lượm nơi mỗi người một chút, tất cả những nét đặc biệt em đã nghe người ta thuật lại về đời sống gương mẫu em bé Công giáo Đaminh Savio, rồi em đem hết sức lực ra đề bắt chước những đức tính đó/  Nhất là em ước ao được thảo bản liệt kê các nhân đức của Đaminh Savio, một thiếu niên em đã chọn làm Bổn Mạng. Nhưng khi mới đọc được vài trang các nhân đức này, Thiên Chúa đã mời em đi dự tiệc thánh bằng cách chấm dứt cuộc sống em trên gian trần này. Chúng ta có đủ lý do để hy vọng là em đã được nếm hưởng nguồn bình an của những người công chính mà các bạn thường đặt trước mặt để bắt chước.

Nguồn gốc cuốn tiểu sử:

Đời sống gương mẫu hay nói cách khác, đời hấp dẫn của người bạn đã gieo rắc trong tâm hồn mỗi bạn mối ước vọng người ta đem phát hành cuộc sống đó, và chính các bạn cũng đã xin tôi nhiều lần. Như thể một đàng tôi được sự yêu cầu của các bạn, đàng khác được mối tình tôi sẵn có đối với người bạn chung này cổ võ, đồng thời trong trí tôi vẫn nuôi tư tưởng là cuốn sách này sẽ làm cho các bạn hài lòng và đem lại lợi ích cho tâm hồn các bạn; vì lý do đó tôi mới quyết định thỏa mãn lòng mong ước các bạn bằng cách thu lượm tất cả những gì liên quan tới Mi-ca-en và tất cả những gì chính chúng ta đã mục kích để soạn thành cuốn sách nhỏ theo ý các bạn.

Ơn Chúa ban cho Mi-ca-en

Lần giở những trang sách đề cập tới Savio các bạn thấy Savio bẩm sinh đã có nhân đức rồi cứ tiếp tục lớn lên tới bậc anh hùng trong suốt thời gian Savio sống trên trần thế.

Đọc cuốn sách đề cập tới Mi-ca-en, Ma-gôn chúng ta lại thấy một em nhỏ bấp bênh trên đường tội ác nhưng Thiên Chúa đã xui cậu theo Ngài. Cậu liền hăng hái đáp lại tiếng gọi tình yêu này và bền tâm đáp lại ơn Chúa, đến nỗi tất cả những ai quen biết cậu đều phải thán phục khi nhìn thấy hiệu lực ơn thánh nơi cậu.

Cuộc sống khác thường

Các bạn sẽ tìm thấy ở đây những hành động đáng ca ngợi và nhiều hành động đáng bắt chước. Các bạn cũng sẽ gặp thấy những nét chấm phá các đức tính, lời nói hình như vượt quá năng lực em nhỏ 14 tuổi hoa niên. Nhưng tất cả đều đề cập tới, nên cũng đáng cho tôi viết ra đây.

Xây dựng cuốn tiểu sử này

Đàng khác, các độc giả được an lòng về sự thật của những sự kiện được đề cập tới, vì tôi đã cố gắng trình bày và phối hợp những biến cố xảy ra dưới mắt nhiều người hiện còn sống và hỏi thăm các nhân chứng này cho rõ những điều tôi trình bày trong sách này.

Lần tái bản thứ ba này tôi cũng thêm nhiều sự kiện chưa được đề cập tới khi xuất bản lần đầu tiên và tôi cũng có thêm nhiều sự kiện khác tôi mới biết qua những nguồn gốc đáng tin cậy.

 

Lời cầu chúc

Xin Chúa toàn năng hay dùng những bài học thực tế để nhắc lại cho nhân loại già cũng như trai trẻ biết bàn tay Chúa Quan Phòng, ban cho chúng ta ơn đặc biệt, là được luôn luôn sẵn sàng đứng trước giây phút quyết liệt tranh thủ mối hạnh phúc hay bất hạnh.

Xin ơn Chúa giúp chúng ta trong lúc sống cũng như trong giờ hấp hối. Sau cùng xin Chúa phù giúp chúng ta trên bước đường về quê trời. AMEN

 

Chương I

CUỘC HỘI KIẾN KỲ NGỘ

Tại ga thị trấn Carmagnola

Một buổi chiều thu khi tôi từ Sommariva del Bosco trở về, tôi phải đợi hàng giờ ở Carmagnola chờ chuyến tàu lửa Turin. Đồng hồ điểm 7 giờ. Trời chiều u ám, sương mù đọng thành những hạt mưa làm cho không gian đen tối đến nỗi chúng ta không thể nhận ra nhau nữa. Đèn nhà ga tỏa những ánh sáng yếu ớt xuống sân ga và ra khỏi đó một ít ánh sáng đã bị đêm tối dầy đặc nuốt mất. Một bày trẻ nô đùa làm tôi phải chú ý, hay nói cho đúng hơn làm tôi phải điếc tai. Những tiếng kêu dồn dập: “Hãy đợi, bắt lấy nó, thộp lấy thằng này, bắt lấy thằng kia”, làm cho khách bộ hành nghĩ tới những truyện trinh thám kiếm hiệp

Giữa đám ồn ào, người ta nhận rõ một tiếng át các tiếng khác, hình như là tiếng của vị đại tướng chỉ huy. Một lệnh ban ra tất cả đều nhắc lại và vâng theo răm rắp.

Tôi muốn biết ngay tên tuổi con người có đủ tinh thần để điều khiển cuộc chơi giữa bọn du đãng ấy.

Ma-gôn và Don Bosco

Tôi rình lúc bọn trẻ tụ họp chung quanh vị đại tướng tí hon mà lăn xả vào giữa chúng. Mọi đứa đều sợ hãi chạy trốn, duy chỉ một đứa đứng lại, tay chống nạnh và tiến lại phía tôi, có vẻ hách dịch và bắt đầu hỏi:

  • Ông là ai mà dám phá rối cuộc chơi của chúng tôi?
  • Tôi là bạn của em.
  • Ông muốn gì?
  • Tôi muốn cùng chơi với em
  • Nhưng ông là ai? Tôi không biết ông
  • Tôi nhắc lại rằng, tôi là bạn của em và tôi muốn chơi với em. Còn em, em là ai?
  • Tôi là ai à? Nói đến đây, giọng anh bỗng trở thành trầm và to
  • Tôi là đại tướng miền này. Đại tướng Mi-ca-en Ma-gôn.

Trong khi tôi đương nói chuyện, những đứa kia sau khi đã hoàn hồn lần lượt vây quanh tôi. Sau khi nói với đứa này, nói với đứa kia một vài câu để lấy cảm tình, tôi quay lại tiếp tục câu chuyện với đại tướng Ma-gôn.

  • Ma-gôn thân mến, em lên mấy tuổi?
  • Tôi 13 tuổi.
  • Em đã xưng tội lần đầu chưa?
  • Tôi đã rước lễ
  • Em đã học một nghề nào chưa? Tôi có học nghề ở không.
  • Em đã làm gì từ xưa đến giờ?
  • Đi học.
  • Em học lớp mấy?
  • Hết lớp Sáu.
  • Em còn cha không?
  • Không, cha tôi chết rồi.
  • Em còn mẹ không?
  • Còn, mẹ tôi còn sống, mẹ tôi bây giờ làm mướn và làm hết sức để kiếm tiền nuôi tôi và các em, nhưng chúng tôi thường làm bà tức điên được.
  • Sau này em muốn làm gì?
  • Tôi chắc sau này tôi phải làm một nghề, nhưng bây giờ tôi chẳng biết gì.

Điệu bộ thật thà giọng nói rõ ràng và thông minh làm tôi đoán ra được nguy hiểm mà Ma-gôn sẽ phải trải qua nếu cứ để anh ta tự do như thế.

Tôi nghĩ rằng nếu tình hình này mà được giáo dục chắc sẽ có kết quả tốt đẹp. Tôi tiếp tục câu chuyện:

  • Ma-gôn thân mến, em có muốn kết thúc cuộc sống của một đứa nhãi ranh để tiếp tục học một nghề hay tiếp tục học?
  • Cái đó còn gì bằng, giọng đầy cảm động viên đại tướng trả lời: “Cuộc sống khổ ải này, đối với tôi chả ý nghĩa gì, nhiều bạn tôi đã ở tù, tôi sợ mai kia sẽ gặp họ và chịu chung số phận, nhưng tôi chẳng làm gì hơn được nữa, cha tôi chết, mẹ thì nghèo, ai sẽ giúp tôi?”
  • Chiều nay em hãy sốt sắng cầu cùng Thiên Chúa, cầu nguyện với cả tấm lòng và hãy tin tưởng vào Ngài, Ngài là người coi sóc ta, coi sóc em và tất cả mọi người.

Đến đây chuông ở ga vang lên một lần chót, tôi phải đi ngay nhưng cũng nói lại vài câu:

  • Cầm lấy tấm ảnh này và mai em hãy lại đàng cha xứ em là cha Aricco và nói với Ngài là người trong tấm ảnh này muốn biết hạnh kiểm của con.

Ma-gôn kính cẩn cầm lấy tấm ảnh:

  • Nhưng tên cha là gì? ở đâu đến?. Cha Ariccio có biết cha không?

Cậu Ma-gôn dũng cảm tiếp tục đặt nhiều câu hỏi hết câu này đến câu khác, nhưng tôi không trả lời được vì tầu đã đến rồi và tôi vội vàng nhảy lên về Turin.

CHƯƠNG II

ĐỜI SỐNG NỘI TÂM VÀ KHI ĐẾN KHÁNH LỄ VIỆN PHANXICO SALESIO

Can thiệp của cha xứ

Vì không biết vị linh mục đã nói chuyện với mình là ai, nên Ma-gôn muốn tìm biết. Thay vì đợi đến ngày mai, Ma-gôn lập tức tìm cha xứ Ariccio và cậu nhiệt thành nói với Ngài tất cả những gì cậu đã được nghe. Cha xứ hiểu hết và ngay hôm sau ngài viết cho tôi, nói rất đúng về cuộc sống vị đại tướng của chúng ta.

  • Mi-ca-en là một trẻ nghèo, mồ côi cha, mẹ cậu vì phải làm vất vả nuôi con không thể coi sóc cậu được, bởi thế cậu dùng thời giờ chơi đùa với bạn trẻ vô lại trên đường phố và các nơi công cộng.
  • Cậu có một trí khôn khá nhưng vì không bền chí và hay lơ đễnh nên người ta đã nhiều lần đuổi cậu khỏi trường. dẫu sao cậu cũng đã học hết lớp Sáu
  • Về phần luân lý, con tin rằng cậu có nền tảng hẳn hoi và tính tình đơn sơ tự chủ dễ dàng. Trong lớp và trong giờ giáo lý, cậu là người phá rối luôn, khi cậu vắng mặt tất cả đều êm thắm và khi cậu thôi học cậu đã làm ơn cho tất cả.
  • Tuổi cậu, tâm tính cậu, cảnh nghéo của cậu, trí thông minh của cậu đáng cho tất cả mọi hoạt động từ thiện phải chú ý tới. cậu sinh ngày 19/9 năm 1845.

Căn cứ vào lời chỉ dẫn của cha xứ, tôi quyết nhận Ma-gôn vào đám trẻ trong nhà để hướng dẫn cậu học hành hay chọn một nghề. Vừa khi nhận được thư của tôi Mi-ca-en nóng lòng muốn tới Turin ngay. Cậu tưởng tượng sẽ được hưởng thú vui của thành phố địa đàng và sẽ làm chủ mọi kho tàng của Turin

Tên côn đồ dễ thương

Một vài ngày sau, Ma-gôn xuất hiện trước mặt tôi

Cậu vừa chạy đến tôi và nói:

  • Thưa cha con đây, con là Mi-ca-en Ma-gôn mà cha đã gặp ở ga Carmagnola.
  • Cha biết cả rồi, có phải con đến đây với thiện chí không?
  • Vâng, vâng thiện chí thì con không thiếu
  • Nếu con có thiện chí thì cha xin con đừng làm đảo lộn nhà này nhé!
  • Xin cha cứ yên lòng. Con sẽ không làm phiền lòng cha đâu. Trong quá khứ con ăn ở chả ra làm sao, con không muốn tiếp tục như vậy nữa, hai bạn con hiện đang trong tù và con...
  • Can đảm lên con! Bây giờ thì con nói với cha là con muốn học chữ hay học nghề?
  • Con sẵn sàng làm điều cha muốn, nhưng nếu cha cho chọn, thì con thích học chữ hơn.
  • Giả sử cha cho con học, sau khi học hết chương trình rồi, con sẽ làm gì?
  • Cậu cúi đầu xuống đất nói với cha câu này:
  • Nếu ...nếu một đứa trẻ vô lại như con có thể.
  • Nói hết đi con, con muốn nói gì...nếu một đứa trẻ vô lại như con có thể sửa mình xứng đáng trở thành một linh mục thì con sẵn sàng trở thành linh mục.
  • Được..! Chúng ta sẽ xem sau, xem một đứa trẻ vô lại sẽ làm được gì. Cha sẽ cho con học, còn về phần làm linh mục hay không điều đó còn tùy thuộc vào sự tiến bộ của con trong lớp, tùy thuộc vào hạnh kiểm của con, vào những sự thử thách xem con có ơn kêu gọi hay không?
  • Nếu một đứa trẻ có thiện chí cố gắng đạt tới một kết quả, chắc cha sẽ không phải buồn vì con đâu. Xin cha tin như vậy

 

Cố vấn của Mi-ca-en

Khởi đầu tôi chỉ định một anh bạn làm thiên thần bản mệnh cho Mi-ca-en. Theo thói quen trong nhà, thường giao một đứa trẻ mới đến có nền luân lý khả nghi hay không biết chắc chắn cho một anh lớn trong nhà đã có hạnh kiểm tốt. Anh này phải theo dõi anh bạn được giao cho để sửa đổi nếu cần mãi đến khi anh đó có thể sống giữa người khác mà không gây nguy hiểm

Không để cho Ma-gôn để ý thấy, với bao nhiêu tiếp xúc và cử chỉ bác ái, người bạn bản mệnh này không rời Ma-gôn bao giờ. Anh ta theo Ma-gôn trong lớp, trong nhà hội, giờ chơi đùa với Ma-gôn, chơi với Ma-gôn nhưng anh ta luôn luôn phải nhắc cho anh Ma-gôn câu này: “Nói như vậy không tốt, đừng dùng chữ ấy, đừng kêu tên cực trọng vô ý vô tứ” mặc dầu Ma-gôn cảm thấy khó chịu, cậu cũng đơn sơ đáp lại: “Hoan hô anh, nhắc tôi vậy tốt lắm, anh là một bạn tốt. Nếu trước đây tôi có một người bạn như thế này thì đâu đến nỗi nhiễm thói quen xấu, bây giờ tôi khó sửa quá”.

Một thanh niên nóng nảy

Những ngày đầu hầu như hết mọi cái chẳng vừa lòng Mi-ca-en, trừ giờ chơi, hát hỏng la ó, chạy nhẩy làm ồn ào là tất cả những gì hợp với tính khí nóng sôi như lửa của Mi-ca-en. Khi anh bạn coi cậu nói với cậu: “Mi-ca-en ơi, tiếng chuông gọi ta vào học, vào nhà hội, vào nhà thờ rồi...”. Cậu buồn rầu nhìn lại mấy thứ đồ chơi đoạn đến nơi làm việc.

Bây giờ ta phải quan sát cậu lúc chuông báo hiệu hết giờ học đến giờ chơi. Cậu chạy như bay, chạy nhẩy khắp chỗ trong sân. Những trò chơi đòi hỏi sự tài tình thân xác là những trò chơi cậu thích nhất. Cậu có biệt tài là nổi danh về môn cướp bể. Xen lẫn chơi đùa với học hành, cậu cảm thấy đời sống mới rất vui

CHƯƠNG III

NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ VIỆC SỬA ĐỔI TÍNH TÌNH

Thế là cậu Mi-ca-en của chúng ta đã ở trong khánh lễ viện được một tháng. Cậu chỉ cần làm việc cho qua thời giờ, cậu rất vui khi nào có thì giờ rảnh để chạy nhẩy nô đùa và không biết rằng nguồn vui thật phải phát sinh tự tâm hồn. Nhưng giờ đây tự nhiên sự ham chơi bỗng rù dần. Cậu hơi tư lự và không dự các cuộc chơi nữa, trừ khi người ta mời cậu. Anh bạn coi cậu nhận thấy điều này, tìm cơ hội và nói với cậu:

  • Mi-ca-en ơi lâu nay tôi không nhận ra vẻ mặt tươi cười thường nhật của anh, anh ốm phải không?
  • Không, về phần sức khỏe tôi là lực sĩ.
  • Vậy thì tại sao anh buồn?
  • Tôi buồn vì tôi thấy các bạn chịu các phép bí tích, thấy họ vui vẻ, cầu nguyện đi xưng tội, chịu lễ làm tôi buồn
  • Lạ thật, người khác ngoan đạo sao anh lại buồn?
  • Cái đó dễ hiểu quá! Các bạn tôi đã tốt sẵn rồi, thực hành các việc đạo đức họ trở nên tốt hơn, trong khi đó tôi chỉ là một tên côn đồ, tôi không thể bắt chước họ được vì thế tôi cảm thấy hối hận và bối rối.
  • Anh kỳ quá! Nếu anh ước ao được phúc như các bạn khác thì ai cấm anh theo gương họ? Vả lại, nếu lương tâm bối rối, sao anh không có thể làm hết bối rối được.
  • Làm hết bối rối? Nói có vẻ dễ lắm, nhưng nếu anh ở vào địa vị như tôi anh cũng như tôi. Nói xong bấy lời, Mi-ca-en cúi đầu xuống cảm động và cậu chạy vào phòng áo.

Thuốc chữa

Anh bạn theo cậu và khi gặp cậu anh nói:

Ma-gôn thân mến, tại sao anh lại chạy? Anh hãy tỏ cho tôi hay nỗi buồn của anh và biết đâu tôi có thể chỉ cho anh phương thế chữa lành lại

  • Anh nói đúng đấy, nhưng hiện giờ tôi đang trong tình thế bối rối hết sức.
  • Dù anh bối rối thế nào đi nữa, vẫn có phương thế chữa khỏi mà.
  • Làm thế nào tôi có thể sống yên vui khi tôi có cảm tưởng là trong mình có cả trăm ngàn quỷ
  • Đừng điên như vậy, anh hãy đi tìm một cha giải tội, cởi mở tâm hồn với Ngài rồi ngài sẽ khuyên anh phải làm gì. Khi bị ám ảnh, chúng tôi luôn luôn làm như vậy, vì thế chúng tôi luôn luôn sống vui tươi.
  • Được...được...được. nhưng ...nhưng...

 

Nỗi buồn phiền

Trong khi nói thế, cậu bắt đầu khóc. Nhiều ngày trôi qua và sự mơ buồn của cậu trở thành nỗi buồn rộng mênh mông. Môn chơi bây giờ lại làm cậu cực lòng. Trên môi không thấy điểm những nụ cười tươi trẻ. Thường thường trong khi các bạn giải trí, cậu lại vào một xó để nghĩ lại quãng đời quá khứ, để suy tư và khóc than

Cởi mở tâm hồn

Tôi được báo cáo về sự biến chuyển này. Một hôm tôi cho người gọi cậu đến để nói chuyện

Ma-gôn thân mến, cha muốn con làm cho cha cái này, con đừng từ chối nhé!

Cậu khẳng khái trả lời:

  • Xin cha cứ nói, con sẵn sàng làm điều cha muốn.
  • Cha muốn con để cho cha trong giây lát làm chủ lòng con và con cắt nghĩa cho cha duyên cớ gì đã làm cho con buồn rầu mấy ngày nay
  • Vâng, điều cha nói với con đúng lắm, nhưng ...nhưng con thất vọng và con không biết phải làm gì.

Cậu vừa nói vừa nức nở. Tôi để cậu lấy lại bình tĩnh, rồi với giọng đùa cợt tôi bảo cậu:

  • Sao, chính con là Mi-ca-en Ma-gôn chỉ huy cả toán quân ở Cargnola kia mà, đại tướng gì mà tồi vậy. Con không đủ khả năng dùng lời để diễn tả cái gì làm xáo động con nữa à?
  • Con muốn nói lắm, nhưng con không biết bắt đầu từ chỗ nào. Con cũng không biết cắt nghĩa thế nào
  • Con chỉ cần nói với cha một câu thôi, phần còn lại cha sẽ lo hiểu hết
  • Lương tâm con bối rối.
  • Thế đủ rồi! Cha hiểu hết rồi. Cha chỉ cần con nói câu này là cha có thể nói với con điều khác. Bây giờ cha không muốn đi sâu vào tâm hồn con làm gì. Cha chỉ cắt nghĩa cho con làm thế nào lấy lại thứ tự tâm hồn. Con hãy nghe cha: “Nếu quá khứ con sống chả ra gì, con chỉ cần sửa soạn để chịu phép giải tội. Trong khi vào tòa con chỉ cần xưng các tội con đã phạm lần sau hết đến giờ. Nếu vì sợ hay vì lý do nào khác, con đã giấu tội hay con tin rằng một trong những lần xưng tội con đã làm không nên thì con bắt đầu xưng các tội từ lần xưng tội mà con cho là chưa hoàn toàn, và con hãy nói tất cả những gì làm tâm hồn con mất bình an.
  • Thưa cha, cái đó mới khó. Làm thế nào con có thể nhớ lại được những gì đã xẩy ra cho con cách đây bao nhiêu năm về trước
  • Con có thể sắp đặt trước, dễ lắm. Con cứ nói với cha giải tội là con có cái gì ngăn trở trong quá khứ. Rồi ngài sẽ hỏi con về mọi điều và con chỉ cần trả lời “có” hay “không” và “mấy lần” thôi

 

CHƯƠNG IV

CẬU XƯNG TỘI VÀ BẮT ĐẦU NĂNG CHẠY TỚI CÁC PHÉP BÍ TÍCH

Lần xưng tội của Mi-ca-en Ma-gôn

Ngày hôm đó Mi-ca-en dùng cả ngày vào việc tra vấn lương tâm. Trong lòng cậu muốn thu xếp việc linh hồn đến nỗi cậu không muốn đi ngủ trước khi xưng tội. Cậu nói:

  • Tôi chắc Thiên Chúa đã chờ đợi từ lâu nhưng không biết Ngài còn chờ đợi tôi đến ngày mai không! Bởi vậy! Nếu tôi có thể xưng tội chiều nay, tại sao tôi phải đợi lâu hơn nữa. Vả lại tôi muốn dứt khoát với ma quỷ.

Cậu xưng tội rất sốt sắng và cậu ngưng lại rất nhiều lần để nước mắt tự do trào ra. Xưng tội xong trước khi xa cha giải tội, cậu hỏi ngài:

  • Cha tin chắc các tội con được tha cả chứ? Nhỡ đêm nay con chết, con có được cứu rỗi không?
  • Con hãy về bằng an Chúa nhân lành vô cùng đã chờ đợi đến ngày hôm nay là muốn cho con có thì giờ để xưng tội nên, Ngài đã tha thứ cho con tất cả rồi. Nếu đêm nay Ngài gọi con về cõi đời đời con sẽ được cứu thoát.

Ma-gôn cảm động nói:

  • Ôi sung sướng!

Nghĩ đến tội xưa

Rồi nước mắt tuôn rơi và Ma-gôn đi ngủ

Cậu qua một đêm bồi hồi và đầy cảm xúc. Sau này, chính cậu đã thố lộ với vài người bạn những ý nghĩ đã xâm chiếm tâm tư cậu. Cậu nhắc rằng:

  • Thật khó diễn tả những tình cảm đến xâm chiếm lòng tôi trong đêm lịch sử ấy: “Tôi không sao ngủ được, rồi trong giây phút mơ mơ màng màng tôi thấy hỏa ngục rộng mở đầy những quỷ dữ, tôi cố gắng xua đuổi ảo ảnh này và cố nghĩ rằng các tội tôi đã được tha thứ. Lúc đó vô số Thiên Thần hiện ra chỉ Thiên đàng cho tôi và nói với tôi “em hãy nhìn xem đây là hạnh phúc đang chờ đợi em, nếu em cố gắng bền chí giữ những quyết định”

Và đang đêm, theo luật là phải ngủ, tôi cảm thấy sung sướng và cảm động đến nỗi phải bò dậy, quỳ gối bên gường và lập đi lập lại câu này: “Ôi thật là đau khổ biết bao cho những người sa ngã phạm tội và đau khổ biết bao cho những người sống trong tội lỗi! Tôi tin rằng nếu những người đó được hưởng trong giây phút thôi, sự an bình bao la mà những linh hồn sống trong ơn nghĩa Chúa được hưởng, họ sẽ đi xưng tội hết, để làm nguôi cơn giận Chúa, để chấm dứt tình trạng hối hận và hưởng bình an của Chúa. Ôi tội lỗi, tội lỗi! Mi là một thiên tai lớn lao cho những ai bị mi xâm nhập cõi lòng. Chúa ơi từ đây về sau, con không muốn làm phiền lòng Chúa nữa, trái lại con muốn yêu Chúa hết lòng, nếu bất hạnh con có sa ngã, con chắc chỉ phạm những điều nhỏ thôi, con sẽ đi xưng tội ngay”

Khủng hoảng bối rối

Cậu Ma-gôn của chúng ta diễn tả lòng hối hận chân thành vì đã xúc phạm đến Chúa và cậu hứa bền chí phụng sự Người. Thật vậy cậu năng xưng tội chịu lễ và vui vẻ làm các việc đạo đức mà trước kia cậu thấy khó chịu. Cậu rất thích xưng tội và năng đi xưng tội đến nỗi cha giải tội ngăn cản cậu để khỏi phải rơi vào tình trạng bối rối. Căn bệnh này hoành hành những thiếu niên tận tình muốn dâng mình cho Chúa, và hậu quả thực tai hại vì ma quỷ đã dùng để làm lạc hướng tinh thần, đảo lộn cõi lòng và làm cho việc đạo đức trở thành khó nhọc. Căn bệnh này thường làm cho những ai đã tiến trên đường nhân đức rơi vào tình trạng tội lỗi.

Phương thuốc hiệu nghiệm nhất để tránh nguy hiểm này là hoàn toàn theo lời chỉ dẫn của cha giải tội. khi ngài nói việc nào là xấu ta nên cố gắng lánh xa. Khi ngài nói việc kia tốt, phải theo lời chỉ dẫn của ngài và đi bằng yên. Tóm lại vâng lời cha giải tội là phương thế thần hiệu để chữa bệnh bối rối và yên bước trong ơn nghĩa Chúa

CHƯƠNG V

ĐÔI LỜI NHẮN NHỦ THIẾU NIÊN

Lời khuyên thanh thiếu niên

Một đàng những bối rối của Ma-gôn, đằng khác tư cách ngay thẳng và quả quyết mà cậu đã dùng để thu xếp việc linh hồn đã cống hiến cho tôi dịp tốt để ngõ cùng các em đôi lời cần thiết cho linh hồn. Các em hãy nhận lấy những bằng chứng của tình bạn, người bạn chỉ muốn cho các em sự sống đời đời

Thật thà trong tòa giải tội

Trước hết tôi khuyên các em hết sức cố gắng để đừng sa ngã phạm tội. Nhưng nếu bất hạnh các em trót sa ngã thì đừng theo lời xúi xiểm của ma quỷ mà giấu tội khi xưng tội. Các em tự nhủ rằng cha giải tội có quyền tha hết mọi tội lỗi dù nhiều đến đâu và nặng đến mức nào. Tội xưng càng nặng thì người xưng càng cảm thấy vui vẻ, vì như thế, ngài cảm thấy rằng Chúa nhân từ đã dùng ngài để tha tội cho các em, ngài đã dùng công phúc vô cùng của Chúa Giêsu để rửa sạch linh hồn các em

Tin tưởng vô bờ

Các em nhớ rằng cha giải tội là người ước ao tìm hết cách để tránh xa sự dữ cho các em dưới mọi hình thức. Các em đừng sợ rằng các ngài sẽ hết tin tưởng vào mình nếu các em xưng các tội nặng với ngài và cũng đừng sợ các ngài sẽ nói với người khác. Vì các ngài cho dù có lý do nào đi nữa, cũng không được dùng những điều đã biết trong tòa, mặc dầu có phải mất mạng, cũng không được nói cho ai biết điều đã nghe trong tòa cả. Trái lại tôi có thể quả quyết rằng nếu các em càng thật thà tin tưởng vào các ngài bao nhiêu, các ngài cũng sẽ tin tưởng vào các em bấy nhiêu và các ngài sẽ khuyên nhủ các em tùy theo tâm hồn mỗi người trong các em

Làm thế nào để sửa đổi những tội xấu?

Tôi muốn nói với các em điều này để các em không bao giờ bị ma quỷ lừa dối đi đến chỗ vì xấu hổ không xưng tội trong tòa cáo giải

Các em thân mến,

Trong khi viết những lời khuyên này tay tôi run lên vì nghĩ tới một số đông giáo hữu vì giấu tội hoặc vì không bầy tỏ tội cách thật thà đã tự kết phạt đời đời. Nếu ngày kia một người nào trong các em xét lương tâm thấy có tội nào mà mình đã cố tình giấu diếm hay chỉ nghi ngờ không biết phép giải tội mình chịu có thành hay không, tôi xin phép nói với người đó đôi lời: Bạn thân mến, vì Danh Chúa Kitô và vì Máu Thánh Người đã đổ ra để cứu chuộc linh hồn bạn, tôi khuyên bạn nên thu xếp việc lương tâm của bạn trong lần xưng tội tới này bằng cách thành thật tỏ những điều làm bạn khổ sở nếu bạn lâm cảnh hấp hối. Nếu bạn không biết thưa làm sao, bạn chỉ cần thưa cho cha giải tội biết là trong thời gian quá khứ bạn có điều không được an tâm. Cha giải tội biết ngay, bạn chỉ cần đơn thành làm theo điều cha giải tội bảo bạn thôi, rồi bạn hãy an dạ là mọi việc sẽ được dàn xếp xong xuôi.

 

Cha linh hướng

Bạn nên năng đi gặp cha giải tội của bạn, hãy cầu nguyện cho Ngài và hãy theo lời Ngài khuyên. Và khi bạn đã chọn một cha giải tội rồi, cha giải tội này theo ý bạn, sẽ đáp lại những mối nhu cầu của bạn, bạn đừng có thay đổi nữa khi không có lẽ cần. Bao lâu bạn không có cha giải tội cố định để bạn đặt tin tưởng vào người, bấy lâu bạn còn thiếu người bạn linh hồn của bạn. Bạn cũng nên phó thác vào lời cầu nguyện của cha giải tội hằng cầu cho kẻ có tội để Chúa ban cho các linh hồn đó được ơn xưng tội nên và để có thể bền tâm trên đường thiện. Bạn cũng thế, bạn hãy cầu nguyện cho người.

Bạn cũng có thể đổi cha giải tội mà không phải băn khoăn gì trong trường hợp bạn hay cha giải tội đổi đi nơi khác và rất khó lòng cho bạn tìm được ngài, hoặc ngài bệnh, hay vào dịp lễ trọng có nhiều người xưng tội. Rồi trong trường hợp nếu bạn thấy trong mình mắc tội thường xuyên, tôi khuyên bạn không những nên đổi một lần, nhưng nên đổi ngàn lần còn hơn phạm sự thánh.

 

Mấy lời hướng dẫn cống hiến các cha giải tội cho thanh thiếu niên

Trong trường hợp cuốn sách nhỏ này lọt vào mắt các vị linh mục được Chúa Quan Phòng trao cho trách nhiệm giải tội cho thanh thiếu niên, tôi xin phép nói đôi lời thích ứng:

  1. Xin các cha vui lòng tiếp nhận mọi loại người thống hối một cách ngọt ngào, nhưng nhất là trẻ em. Xin các cha giúp các em mở cõi lòng, nhấn mạnh và nài xin các em tới xưng tội nhiều lần. Đó là các phương thế chắc chắn nhất để giữ các em xa lánh tội ác. Xin các cha dùng hết cách để các em đem những lời khuyên bảo đề nghị ra thực hành để đề phòng sự tái ngã phạm. Hãy tiếp đón các em với tấm lòng nhân từ, không nên bao giờ quở mắng các em. Nếu các cha quở mắng các em, chắc các em sẽ không tới xưng tội nữa đâu, hay sẽ không thú tội vì sợ bị quở mắng.
  2. Khi các cha đã chiếm được lòng tin tưởng của các em rồi, xin các cha nên tìm cách để xem lần xưng tội trước các em có xưng tội nên hay không. Vì tất cả các tác giả luân lý trứ danh, các nhà đạo đức có kinh nghiệm nhiều và đặc biệt một nhân vật có quyền thế đảm bảo chân lý này, tất cả đều đồng thanh nói: Nói cách chung, phần nhiều những lần xưng tội đầu của các em nhỏ thường khuyết điểm một điều gì đó, hoặc vì thiếu được dạy dỗ hay là cố tình bỏ tội. Vậy cần phải mời trẻ em suy xét lại tình trạng lương tâm nhất là giữa tuổi 7, 10 hay 12. Vào tuổi này các em đã được dạy dỗ cho biết những điều xấu, nhưng hoặc vì các em không để ý tới hay không biết cách cáo lỗi. Xin các cha giải tội hết sức cẩn thận và khôn ngoan, nhưng cũng không nên quên hỏi các em các điều có liên quan tới nhân đức nết na.

Tôi muốn bàn lâu tới vấn đề này, nhưng thôi không nói nữa, vì tôi không muốn làm thầy người khác trong phạm vi mà tôi chỉ là một môn đệ nghèo hèn và vô tên tuổi. Tôi đề cập ở đây mấy lời mà trước mặt Chúa tôi thiết tưởng là có ích cho các linh hồn thanh thiếu niên, ích lợi cho những người mà tôi đã bằng lòng hiến tất cả thời gian Chúa cho tôi sống trên trần thế này cho họ. Và bây giờ tôi trở lại câu chuyện Ma-gôn.

CHƯƠNG VI

MỐI ÂN CẦN GƯƠNG MẪU TRONG VIỆC ĐẠO ĐỨC

Mi-ca-en sống trong cầu nguyện

Mi-ca-en Ma-gôn hòa tinh thần đức tin sống động, mối ân cần gương mẫu và thái độ có tính cách xây dựng vào việc năng chịu các phép bí tích giải tội và chịu lễ. Trong giờ chơi người ta cứ tưởng cậu là con ngựa bất kham, trong khi đó tại nhà thờ không bao giờ tìm thấy một chỗ, một dáng điệu thích hợp với cậu. Tuy thế đôi khi cậu cũng giữ thái độ trầm tư mặc tưởng đến nỗi người ta có thể lấy cậu làm mô phạm cho bất cứ người giáo hữu sốt sắng nào. Cậu xét mình tử tế. Tại tòa giải tội cậu nhường cho người khác lên trước cậu, cậu luôn luôn cầm trí và kiên nhẫn đợi để có thể tới gần cha giải tội cách dễ dãi. Chúng ta cũng thấy cậu có những lần kiên nhẫn đứng không động đậy hay quỳ trên gạch đợi dịp thuận tiện để xưng tội trong suốt 5 tiếng đồng hồ. Một người bạn bắt chước cậu, nhưng mới được có 2 tiếng đồng hồ đã ngất lịm và không bao giờ dám bắt chước Ma-gôn làm việc hãm mình như thế bao giờ nữa. Nếu người đương viết chuyện cho các em đây không được chứng kiến tận mắt, chắc sẽ không bao giờ tin được việc đó đối với một em nhỏ ít tuổi như thế có thể làm được. Mi-ca-en thích nghe đề cập tới những cách có tính cách xây dựng mà Daminh Savio thường dùng để lưu tới các phép giải tội và Mình Thánh, cậu đem hết tàn lực ra bắt chước các gương sáng đó

Những giờ lễ nghhi dài dòng

Khi Ma-gôn mới tới nhà này, việc ở lại nhà thờ gây cho cậu một nỗi mệt nhọc khó lòng chịu nổi, sau mấy tháng, cho dù các buổi lễ nghi có dài tới đâu, cậu cũng cảm thấy nguồn vui muốn tiếp tục ở lại. Cậu thường nói: “Các việc làm trong nhà thờ là làm cho Chúa sẽ không mất bao giờ cả”. Ngày kia chuông báo hiệu lên nhà thờ đã điểm, một người đồng bạn ở lại chơi cho xong ván, cậu đáp lại: “Phải, tôi sẵn sàng ở lại đây với anh, nếu anh có thể trả lương như Chúa trả cho tôi”. Đồng bạn đứng ngây người và sau cùng đi theo với Ma-gôn vào nơi tiếng chuông vừa gọi tới tham dự lễ nghi

Lần khác có đồng bạn khác nói với cậu: “Những buổi lễ nghi dài từng mấy tiếng đồng hồ không làm cho anh chán ngán à?”

Cậu đáp lại:

  • Nhãi ranh, nhãi ranh, anh lại giống hệt như tôi độ trước rồi; bạn không biết điều hữu ích. Anh quên nhà thờ là nhà của Chúa rồi ư? Bao lâu chúng ta còn ở dương gian này, bấy lâu chúng ta còn có hy vọng về nhà trên trời hưởng phúc muôn đời với Người. Rồi trong lãnh vực vật chất chúng ta còn có thể chiếm được quyền lợi, tại sao trên lãnh vực thiêng liêng chúng ta không chiếm được quyền đó ư? Vậy đương khi ở trong nhà vật chất của Chúa ở dưới thế này chúng ta sẽ chiếm được quyền lợi một ngày mai cùng chung sống với Người trên thiên đàng

Sự tĩnh tâm của Mi-ca-en

Sau giây phút cảm ơn thường lệ, cậu thường làm sau khi xưng tội chịu lễ, cũng như sau khi làm việc đạo đức, cậu ngừng lại bên bàn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể hay trước bàn thờ Đức Mẹ để đọc kinh, những kinh đặc biệt. Cậu chăm chú cầm lòng cầm trí và giữ thái độ nết na chỉnh tề đến nỗi cậu mất hết cảm giác đối với các vật chung quanh. Đôi khi, lúc ra nhà thờ các bạn khác xô đẩy nhau ở ngưỡng cửa, ngáng chân nhau hay đá nhau nhưng cậu cứ một mạch đắm đuối trong kinh nguyện và suy gẫm.

Lòng sùng kính khác nhau

Cậu có lòng kính sốt sắng các đồ thờ phượng. Một mẫu ảnh, một cây Thánh Giá nhỏ đối với cậu cũng là những đồ vật đáng được tôn kính. Bất kỳ lúc nào cậu thấy vị linh mục ban phát bánh thánh, đọc kinh hay hát những bài ca thánh, cậu liền bỏ ngay cuộc chơi để tham dự vào bài hát hay việc đạo đức này.

Mi-ca-en và hát ca

Mi-ca-en say mê hát xướng và vì được Chúa ban cho giọng trong như hạc và dễ yêu, nên cậu cũng say mê việc học âm nhạc. Chỉ trong một ít thời gian vắn vỏi, cậu đã hoàn thiện hóa được khá đầy đủ để tham dự các lễ nghi chung và long trọng. Cậu quả quyết với tôi và viết điều này: “Tôi không bao giờ muốn mở môi ra để nói một lời nào không có tính cách đóng góp vào vinh danh Chúa. Đáng thương thay miệng lưỡi tôi đã không chu toàn phận sự nó, ước chi từ nay về sau tôi cố gắng bù lại những ngày sống trong quá khứ”. Trên miếng giấy hiện ghi các điều quyết định, đây là một trong những quyết định của cậu: “Lạy Chúa xin làm cho lưỡi con khô đét giữa hàm răng, còn hơn là để con thốt ra lời nào mất lòng Chúa”.

Năm 1858 cậu tham dự vào tuần cửu nhật kinh Chúa Hài Đồng tại một tu viện của thủ đô. Các bạn cậu khen lấy khen để cách thành công mỹ mãn cậu đã đem lại trong lần trình diễn âm nhạc hôm đó. Nhưng cậu rút lui một chỗ, lòng mông lung và sầu tủi. Có người hỏi lí do tại sao thế. Cậu vừa khóc vừa nói: “Tôi đã làm việc mà chẳng làm được việc gì hết vì tôi được thỏa mãn trong lúc trình diễn và tôi đã mất hết nửa phần công nghiệp rồi. Bây giờ những lời khen ngợi này lại làm cho tôi mất nốt hết cả nửa còn lại. Như thế sau buổi trình diễn chỉ còn lại cho tôi mối nhọc mệt thôi.”

CHƯƠNG VII

TRUNG THÀNH VỚI BỔN PHẬN

Xác đáng trong giữ giờ giấc

Tính khí nóng như lửa, trí tưởng tượng sôi sùng sục cõi lòng mang nặng tình cảm, lẽ dĩ nhiên lôi kéo cậu tới chỗ sống hoạt bát và nhất là dễ dàng chia trí. Tuy thế, khi nào cần tới, cậu cũng biết chế ngự và điều khiển mình. Như chúng ta đã đề cặp tới trong giờ chơi cậu tham dự từ đầu chí cuối. Trong mấy phút đồng hồ mà đôi giò của cậu đã rảo khắp ngã trên sân chơi rộng lớn. không có một trò chơi nào mà cậu không đứng đầu cả. nhưng vừa có lệnh đi học, vào lớp, đi ngủ, ăn cơm hay đi làm việc, cậu liền ngừng tay và chạy tới chỗ phải làm, là một cảnh rất ngạc nhiên cho chúng ta khi thấy một học sinh làm chủ trò chơi và lôi cuốn tất cả các bạn theo mình làm gió làm bão trong sân chơi thế mà được lệnh một cái, lại là người tới chỗ phải đến trước hết.

Học sinh gương mẫu

Vì đề cập tới công việc học hành tại trường, cha thiết tưởng không gì thích hợp cho bằng nhắc lại những lời giáo sư của cậu tức cha France Sia nói: Vì chính cha dạy Latinh cho cậu. Cha nói:

  • Tôi sẵn sàng làm chứng chung cho tất cả những nhân đức của cậu học sinh thân mến của tôi tức là Mi-ca-en Ma-gôn. Cậu sống dưới quyền tôi suốt niên học 1857 và một phần năm 1858- 1859. Theo điều tôi biết trong năm đầu tiên cậu học chẳng có gì lạ trong việc học Latinh cả. Cậu cứ giữ đều đều. Nhờ vào sự chăm chỉ cần mẫn, trong một năm trời cậu nhẩy được 2 lớp. Chính vì thế, cuối niên học năm đó cậu được nhảy lên lớp 10. Việc đó chứng minh trí thông minh cậu vượt qua mức thường. Tôi không còn nhớ rõ có lần nào phải quở phạt và mắng cậu không theo kỷ luật không? Trong lớp cậu rất bình tĩnh mặc dầu ngoài sân chơi cậu hoạt bát và nóng hổi. Tôi biết, sau khi liên kết với các bạn tốt, cậu gắng sức để bắt chước gương các bạn. Năm thứ 2 tức năm 1858-1859, tôi thấy mình đương sống giữa các học sinh vui vẻ và đồng tâm nuôi ước muốn không phí phạm một giây phút nào, trái lại sẽ tận dụng thời gian để tiến bộ trong việc học hành. Mi-ca-en Ma-gôn trong đám học sinh tốt này, Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu đổi thay hoàn toàn cả mặt thể xác cũng như tinh thần. Nét mặt hơi nghiêm bao trùm lấy chiếc trán rộng cho chúng ta thấy khóe nhìn và nét trên trán đượm vẻ trịnh trọng báo cho chúng ta hay cõi lòng cậu đương chìm đắm trong suy tưởng những việc quan hệ. Tôi tin là việc thay đổi bên ngoài này phát sinh ra do sự quyết định hoàn toàn hiến thân vào việc đạo đức. Chắc chắn chúng ta có thể đưa Ma-gôn ra làm mẫu mực nhân đức. Hình như tôi không còn thấy Ma-gôn, một học sinh biết hối cải đương sống trong tĩnh tâm và chăm chú nghe lời giáo sư của Ma-gôn mà giáo sư đó chỉ đáng là môn đệ đối với các nhân đức của Ma-gôn! Hình như Ma-gôn đã trút hết người cũ của Adong. Khi thấy cậu trung thành với điều xa lánh, hay nói cách hài hước, ghẻ lạnh với những ước mơ – vì ước mơ là cái gì quá tự nhiên đối với tuổi cậu – tôi có thể mượn câu thơ của thi sĩ Dante để nói về cậu:

Dưới mái tóc hung hung,

Có tâm hồn trơ trọi.

Tôi còn nhớ, một ngày kia, để thử sức chăm chú và tiến bộ của người học sinh tôi hằng mến yêu tôi liền mời cậu đọc và phân tích bài thơ tôi mới cho viết chính tả mấy hôm trước Mi-ca-en nết na trả lời:

  • Thưa thầy con không có thể.
  • Được rồi, hãy để chúng ta nghe một chút cái có thể của trò thôi, tôi trả lời với cậu:
  • Nhưng lạ thay! Cậu đã thành công cách mĩ mãn và được giáo sư cũng như các bạn vỗ tay khen mừng nhiệt liệt. Tiếp theo sau đó, cậu nói: “Biết một chút của Ma-gôn” trở thành câu phương ngôn để áp dụng cho các học sinh chăm chỉ làm việc.

Đó là những lời chính giáo sư dạy cậu thuật lại cho chúng ta nghe đấy.

Hăng hái làm việc

Cậu cũng là gương mẫu cho các học sinh trong việc chu toàn các bổn phận khác. Cha Giám đốc thường nói: “Mỗi giây phút là một kho vàng”. Vì thế cậu thường lập lại : “Ai phí phạm một giây tức là mất cả một kho tàng.”

Sống trong cái tư tưởng như thế, nên cậu không bao giờ bỏ phí một giây mà không làm cái sức mà cậu có thể làm. Tôi vẫn còn thấy mồn một những điểm hạnh kiểm học hành chăm chỉ hằng tuần của cậu trước mặt trong suốt thời gian cậu sống chung với chúng tôi. Những tuần đầu điểm hạnh kiểm của cậu bình thường, sau tốt, sau cùng tốt hơn. Sau ba tháng cậu chiếm điểm tốt nhất. Cậu vẫn chiếm được chỗ này trong suốt thời gian sống trong nhà này.

Sự toàn thiện mong muốn

Mùa Phục sinh năm đó (1858) cậu được cấm phòng sốt sắng, nêu gương xây dựng cho các bạn và thu lượm được những mối an ủi thiêng liêng. Cậu hăng hái nuôi ước mong xưng tội chung và viết tất cả những quyết định cậu sẽ thực hành trong suốt cuộc sống. Ngoài ra cậu còn muốn khấn lời khấn không bao giờ để mất một giây phút. Nhưng cậu không được phép tuyên khấn lời khấn đó. “Ít là người ta cho tôi khấn hứa với Chúa luôn luôn có hạnh kiểm hảo hạng”. Cha giám đốc bảo cậu:

  • Con có thể làm, nhưng lời đó không có sức mạnh như lời khấn. Rồi cậu viết trên quyển sổ tay tất cả những điểm cậu muốn được.

Cậu nói:

  • Với ơn Chúa giúp, và nhờ sự phù hộ của Mẹ Đồng trinh, tôi muốn qua:

Ngày Chúa nhật rất tử tế

Thứ hai rất tử tế

Thứ ba.....

Rồi mỗi buổi sáng, tư tưởng đầu tiên của cậu là đưa mắt nhìn lên cuốn sổ này, và trong suốt cả ngày cậu đọc đi đọc lại, nhắc nhở tới lời hứa sống tử tế hơn. Theo ý cậu khi cậu phạm một lỗi nhỏ mọn nào, cậu liền ra việc đền tội ngay, chẳng hạn bỏ một phần giờ chơi hay những cái cậu thích cách đặc biệt hay đọc kinh hoặc các cách giống như thế.

Sau khi chết bạn cậu đã khám phá ra cuốn sổ tay này. Các bạn đều cảm thấy niềm thán phục về những phương thức các đồng bạn dùng để tiến bộ mọi sự, chính vì thế vừa có hiệu chuông, cậu liền thôi chơi, ngừng các câu chuyện nói giở và nhiều lúc không nói hết câu vừa mới bắt đầu nữa. Cậu gác bút ngay khi có hiệu gọi đi làm việc khác cho dù đương viết giở một chữ cũng bỏ ngay. Cậu thường nói: “làm xong việc đang làm giở thực là tốt, nhưng cõi lòng tôi lại không cảm thấy niềm khoan khoái, trái lại làm như thế lòng tôi cảm thấy mối lo âu. Cõi lòng tôi chỉ cảm thấy nguồn vui khi tôi chu toàn bổn phận theo mực độ tôi đã được chỉ cho hoặc qua tiếng các bề trên hay hiệu chuông”.

Lòng tận tâm

Việc xác đáng trong sự chu toàn bổn phận không ngăn cậu thi hành những cử chỉ lịch sự mà cách biết sống và đức ái khuyên làm. Vì thế cậu sẵn sàng viết thư cho bất cứ ai cần tới. Cậu sẵn sàng giúp đỡ các việc khác: chẳng hạn ủi quần áo, mang nước, dọn gường quét nhà, giúp bàn, nhường đồ chơi cho người ham chơi, dạy giáo lý, dạy hát cho các bạn khác, cắt nghĩa những đoạn khó hiểu trong lớp cho các bạn. và cậu sẵn sàng làm các việc đó mỗi khi có cơ hội

CHƯƠNG VIII

LÒNG SÙNG KÍNH ĐỨC NỮ TRINH MARIA

Sự quan trọng của lòng sùng kính Mẹ Maria

Chúng ta phải nói: lòng sùng kính Đức Nữ Trinh Maria là sự nâng đỡ của người giáo hữu chân chính, đặc biệt cho thanh thiếu niên. Vì nhân danh Người mà Chúa Thánh Thần phán: “Hỡi những ai bé nhỏ hãy đến cùng Ta”.

Thần cảm

Ma-gôn chúng ta cũng thông hiểu quan trọng này và cậu cũng cảm thấy cách Chúa Quan phòng khuyên nhủ cậu. Ngày kia người ta tặng cậu một mẫu ảnh Đức Mẹ, bên dưới có đề mấy chữ: “Hỡi các con thân mến, hãy đến và nghe lời Mẹ. Mẹ sẽ dạy các con biết kính sợ Chúa”. Đọc xong mấy chữ này, cậu trầm tư mặc tưởng như muốn nghiền nát dẫn vào huyết quản. Cậu viết thư cho cha Giám đốc; trong lá thư đó cậu nói cho người hay Đức Mẹ đã làm cho cậu nghe thấy tiếng Người. Người mời cậu trở nên tốt hơn. Người lại muốn đích thân dạy cậu cách kính sợ, yêu mến và phụng sự Chúa

Những hành vi nhuốm màu sùng kính

Từ giây phút đó cậu bắt mình làm các việc hy sinh để tôn kính Người, cậu bắt đầu tôn kính dưới tước hiệu Mẹ Thiên đường, Nữ giáo sư, Người chăn chiên đầy lòng trắc ẩn

Đây những hành vi chính nhuộm màu sùng kính con cái đối với Đức Mẹ mà cậu bắt mình phải làm với cả tấm lòng hăng hái sốt mến. Mỗi Chúa nhật cậu sẽ chịu lễ cầu cho các linh hồn luyện ngục vì ngay khi còn sống trên dương trần Mẹ cũng đã thương xót các linh hồn này. Để tôn kính Mẹ cậu sẵn sàng tha thứ tất cả những lời nhục mạ người ta phạm đến cậu. Nóng rét, những nghịch cảnh, nhọc mệt, đói khát, mồ hôi nhễ nhãi và tất cả những bất tiện của các mùa là những bông hoa nhỏ bé cậu dâng lên Chúa qua tay Mẹ đầy lòng thương xót nhân từ

Mẹ Maria và công việc nhà trường

Trước khi bắt đầu học và viết ở nhà ngủ hay trong lớp, cậu thường kéo ở sách ra một mẫu ảnh Đức Mẹ có mang câu này: “Lạy Mẹ Đồng trinh xin luôn luôn giúp con trong việc học hành”.

Bắt đầu công việc nhà trường cậu liền phó thác cho Mẹ. Cậu nói:

  • Khi nào tôi gặp điều gì khó khăn trong việc học hành tôi liền chạy tới Nữ Giáo sư Thiên Quốc và Người sẽ cắt nghĩa cho tôi am hiểu mọi sự. Ngày kia một trong các bạn cậu chúc mừng sự thành công bài luận văn. Cậu đáp lại:
  • Bạn không nên chúc mừng tôi, vì chính Đức Mẹ đã cho vào đầu óc tôi những điều tôi chẳng biết một xu nào.
  • Để nhắc nhở cho cậu sự che chở của Mẹ trong các việc thường nhật, cậu thường đặt bên cạnh một vật để dễ dàng nhắc nhở cho cậu việc đó và cậu viết khắp nơi câu này: “Đức Bà là tòa Đấng khôn ngoan, cầu cho chúng tôi”. Đến nỗi trên sách, bìa vở, trên bàn, ghế, và khắp nơi câu có thể viết bằng hay bút chì, chúng ta đều đọc thấy câu này: “Đức Bà là Tòa Đấng khôn ngoan, cầu cho chúng tôi”

Tháng năm năm 1858

Tháng năm năm đó tức năm 1858 cậu quyết định làm tất cả những gì có thể để tôn kính Đức Mẹ. trong suốt tháng này, cậu hãm dẹp con mắt, miệng, lưỡi và ngũ quan. Cậu cũng muốn bỏ một phần giờ chơi, một phần đêm trường để cầu nguyện, nhưng người ta không cho phép cậu được vì không thích ứng với tuổi cậu.

Lời hứa giữ mình sạch sẽ trọn đời

Cuối tháng năm, cậu tới cha Giám đốc và thưa với Ngài: “Nếu cha không thấy có điều gì bất tiện để tôn kính Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa. Con biết Thánh Luy được Mẹ yêu mến vì thánh nhân đã tận hiến cả tuổi thanh xuân và đức khiết trinh cho Mẹ. con cũng muốn dâng cho Mẹ món quà này và con ước ao tuyên lời khấn muốn trở nên linh mục và giữ đức khiết trinh cho tới trọn đời”

Cha Giám đốc đáp lại: “Con chưa tới tuổi tuyên lời khấn quan trong như thế”. Cậu cắt lời cha: “Tuy thế con cảm thấy mối tình nhất quyết muốn hiến toàn thân cho Mẹ; nếu con hiến thân con cho Mẹ chắc Người sẽ giúp con giữ trọn lời hứa”. Cha Giám đốc nói: “Thay vì tuyên khấn con chỉ nên hứa đơn sẽ nhập hàng tư giáo với điều kiện là nếu sau năm học Latinh các dấu hiện ơn kêu gọi của con xuất hiện rõ ràng. Thay vì tuyên lời khấn sạch sẽ, con chỉ nên hứa với Chúa từ nay sẽ không bao giờ làm một hành vi, một lời nói, cả những lời chế riễu nữa cho dù lời đó chỉ hơi phản lại nhân đức này thôi cũng không làm. Hằng ngày con hãy xin Mẹ bằng một kinh đặc biệt để Mẹ giúp con giữ được lời con đã hứa”

Cậu rất hài lòng với lời đề nghị này, và sau khi tâm hồn thảnh thơi, cậu hứa sẽ làm mọi cái có thể trong hết mọi trường hợp để đem ra thực hành.

CHƯƠNG IX

LÒNG YÊU ĐỨC KHIẾT TỊNH VÀ CÁCH CẬU BẢO TỒN NHÂN ĐỨC NÀY

Lá thư bàn tới đức khiết tịnh

Ngoài các phương tiễn thực tế chúng ta vừa mới đề cập tới, cậu cũng nhận được những huấn lệnh và cậu gán cho nó một sự quan trọng đặc biệt, đồng thời cậu cũng gọi các huấn lệnh đó là cha, người gác hay chú hiến binh của nhân đức khiết tịnh. Chúng ta tìm thấy những huấn lệnh này trong thư trả lời cho người bạn viết cho cậu vào cuối tháng năm. Trong đó người bạn viết cho Ma-gôn có hỏi làm thế nào, có thể canh phòng được bà hoàng hậu các nhân đức tức là đức khiết tịnh. Cậu đã trao lá thư đó cho tôi và xin mượn những dòng trong lá thư để nói cho các em hay. Lời lẽ chính thư của Ma-gôn viết: “Để trả lời cho bạn được hoàn toàn hơn tôi thích nói với bạn bằng một giọng sống động và cống hiến bạn những chi tiết mà hình thức như viết trên giấy không tiện mấy. Ở đây tôi chỉ xin cống hiến bạn những lời khuyên chính yếu do cha Giám đốc đã ban cho tôi thôi; nhưng nhờ các lời khuyên đó tôi được bảo đảm duy trì nhân đức cao quý đó. Ngày kia người cho tôi một miếng giấy nhỏ đồng thời người bảo tôi: “Con hãy đọc và đem ra thực hành”. Tôi vội mở ra xem và trong đó có 5 huấn lệnh: đó chính là 5 huấn lệnh thánh Philipphe Neri ban cho thanh thiếu niên để duy trì nhân đức khiết tịnh. Tránh xa bạn xấu. Không nên nâng niu thân xác. Tránh xa nhàn rỗi. Năng chịu các phép thánh nhất là phép giải tội. Tất cả những điều gói ghém trong tờ giấy người ta đã cắt nghĩa tỉ mỉ cho tôi một lần và bây giờ tôi xin nhắc lại đúng như lời tôi đã nghe ở cửa miệng người. Đây lời người nói với tôi.

Bảy huấn lệnh của Don Bosco

  • Con hãy phó thác hoàn toàn như con thảo dưới sự che chở của Mẹ Maria. Con hãy tin tưởng và cậy trông vào Mẹ. chúng ta chưa hề nghe thấy người nào ở dưới trần thế này chạy tới kêu cầu Mẹ cứu giúp mà chẳng được Mẹ nghe lời. Mẹ sẽ là mối bênh đỡ con trong lúc ma quỷ xông chiến linh hồn con
  • Khi con gặp chước cám dỗ con hãy làm một việc gì ngay. Sự nhàn rỗi và đức nết na không có thể đội trời chung với nhau được. Chính vì thế đương khi tránh nhàn rỗi, con cũng sẽ chiến thắng được các chước cám dỗ phản lại đức này.
  • Con hãy nâng hôn Thánh giá, lấy đức tin sống động mà làm dấu thánh giá đồng thời đọc câu: “Giêsu, Maria, Giuse xin giúp con, cứu rỗi hồn con” Đó là ba danh thánh hãi hùng và kinh sợ đối với nòi giống quỷ dữ.
  • Nếu mối nguy hiểm vẫn còn vấn vương, con hãy chạy tới Mẹ bằng câu kinh Giáo hội đã đề nghị cho chúng ta: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội”.
  • Ngoài việc kiêng các đồ ăn đài các, canh giữ giác quan nhất là giữ gìn con mắt, con cũng nên tránh xa các sách báo xấu. Và một quyển sách hay tờ báo tuy tự nó không có xấu gì, nhưng nếu nó nên dịp cho con phạm tội, con hãy bỏ ngay lập tức. Trái lại con hãy đọc các sách tốt và trong các sách báo đó, con nên thích đọc các sách báo có liên quan tới việc làm vinh danh Mẹ Maria và phép Thánh thể
  • Tránh xa bạn bè xấu nết. Trái lại con nên chọn các bạn tốt mà chơi tức là những bạn con thường nghe thấy mọi người ca ngợi về mặt hạnh kiểm. Con nên nói chuyện với các bạn này và nên trong giờ chơi thân mật với họ, nhất là nên bắt chước họ trong lời nói, cách thi hành bổn phận và cách làm việc đạo đức.
  • Con nên năng xưng tội chịu lễ theo cha giải tội khuyên và nếu bổn phận con cho phép con nên năng viếng Chúa Giêsu Thánh thể.

Đó là 7 lời khuyên mà Ma-gôn gọi trong thư là 7 chú cảnh binh của Đức Mẹ đã được Chúa định cho việc canh gác nhân đức khiết tịnh. Để có thể duy trì hằng ngày mối kích thích đặc biệt đối với lòng đạo đức, con nên đem những lời cha khuyên đây ra thực hành một ngày một điều trong cả tuần lễ đồng thời thêm vào đó một hành vi để tôn kính Đức Mẹ. như thế lời khuyên thứ nhất liên hợp tới việc suy tới nguồn vui vẻ đầu tiên Mẹ đương hưởng trên nơi Thiên Quốc. Lời khuyên này cũng được dành riêng ngày Chúa Nhật. Lời khuyên thứ hai liên hợp với nguồn vui thứ hai và cứ thế tiếp tục theo sau...Sau một tuần lễ trôi qua theo cách đó cậu lại bắt đầu lại cũng một cách như thế để tôn kính 7 sự thương khó Đức Mẹ bằng cách thực hành lời khuyên thứ nhất vào ngày Chúa nhật để tôn kính sự đau khổ đầu tiên của Mẹ và cứ tiếp tục cho các lời khuyên khác.

Phương pháp đơn giản

Có lẽ các em sẽ gặp phải cái cảnh: Cứ thực hành những điều khuyên này sẽ thành nhàm chán. Nhưng đối với tôi, tôi nhận thấy: Nhân đức chói lòa chúng ta đương đề cập tới dễ dàng lu mờ biến mất ngay khi luồng gió cám dỗ yếu ớt tới thế nào, thời bất cứ một chi tiết nào đóng góp vào việc bênh vực nhân đức này cũng đáng được chúng ta quý chuộng. Vậy tôi khuyên những người có trách nhiệm nên lưu tâm đề nghị các phương thế dễ dãi không làm giáo hữu tốt, nhất là thanh thiếu niên sợ và không đòi phải mệt nhọc gì. Trong nhiều trường hợp chúng ta cũng có thể bỏ ăn chay, bỏ những kinh dài đằng đẵng và những việc khắc khổ giống như thế hơn là cẩn thận giữ nhưng không giữ hoàn toàn. Chúng ta nên để ý tới các việc dễ như thực hành kiên tâm đã đủ rồi. Đó là con đường dẫn Mi-ca-en tới bậc trọn lành lạ kỳ.

CHƯƠNG X

HÀNH VI BÁC ÁI ĐÁNG CHÚ Ý TỚI ANH EM ĐỒNG LOẠI

Đức ái tận tâm của Mi-ca-en

Ma-gôn nối kết đức ái tận tâm đối với các bạn và tinh thần đức tin sống động, đức mến và lòng yêu kính Mẹ đồng Trinh. Cậu am tường thực hành nhân đức này như phương thế linh nghiệm để tăng cường tình yêu Thiên Chúa nơi chúng ta. Cậu đem luật này ra thực hành cả trong những trường hợp bé nhỏ. Cậu vui vẻ tham dự các giờ chơi đến nỗi cậu không biết mình còn ở dương gian hay ở trên trời. Nhưng nếu cậu thấy một bạn không có gì chơi cậu liền nhường cho bạn chơi và vui vẻ đi tìm trò chơi khác. Chính mắt tôi đã mục kích thấy nhiều lần cậu nhường banh nhường bun cho các bạn khác chơi; hay cậu xuống kheo cho một anh bạn khác lên. Cậu lại giúp anh bạn đó và dạy anh ta chơi cho có hứng thú đồng thời để tránh các nguy hiểm

Nếu cậu thấy người bạn nào gặp nỗi buồn cậu tới gần cầm tay bạn vuốt ve, kể cho bạn trăm ngàn truyện vui. Rồi nếu cậu biết được căn cớ buồn rầu của bạn, cậu cố gắng dùng lời khuyên tốt để an ủi bạn. Cậu cũng thường làm trung gian đưa bạn đó tới gần bề trên hay bất cứ người nào có thể an ủi được bạn.

Khi cậu cắt nghĩa cho các bạn hay giúp đỡ họ bằng bất cứ giá nào, mang nước, dọn gường, đó là một cơ hội vui thú đối với cậu. Trong suốt mùa đông một người bạn của cậu vì lạnh quá không thể chơi, hay làm việc như ý anh ta muốn được. Với tấm lòng quảng đại, Ma-gôn biên ghi những điều giáo sư cắt nghĩa trong lớp rồi lại biên sạch sẽ đem nộp giáo sư hộ bạn. Cậu lại còn giúp bạn mặc áo, dọn gường và còn cho bạn những đôi găng tay sạch sẽ để giữ bạn khỏi cóng buốt. Vào tuổi Ma-gôn, một cậu nhỏ có thể làm gì hơn được nữa không?

Người bình tĩnh

Với tính tình nóng như lửa, cậu dễ dàng để cho cơn nóng lôi cuốn, nhưng chỉ cần nói với cậu câu: “Ma-gôn làm gì thế?” “Đó là cách báo thù của người giáo hữu đấy à?” đã đủ để cho cậu lắng cơn giận xuống. Nghe xong những lời đó cậu tự bình tĩnh lại và hạ mình tới xin lỗi người bạn, đồng thời xin người bạn tha lỗi và đừng có bận tâm tới gương mù do cơn nóng giận của cậu gây ra.

Trong những tháng đầu mới vào khánh lễ viện còn cần phải nhắc những lời đó cho cậu, nhưng cùng với thời gian cậu đã có đủ ý chí mạnh mẽ tự chủ được lòng mình, đồng thời tạo dựng mối an hòa giữa các bạn cậu nữa. Khi có những cuộc ẩu đả, cho dù nhỏ nhoi đến đâu cậu cũng lăn xả vào giữa hai đối thủ và để làm cho họ bình tĩnh lại, có lúc cậu dùng lời êm dịu, có lúc cậu dùng cả sức mạnh nữa. Cậu thích nói:

“Chúng ta là những người có lý trí, vậy lý trí phải thống trị chúng ta chứ không phải cơn giận nổi khùng làm chủ chúng ta”. Trong dịp khác cậu thêm: “Nếu Chúa bị xúc phạm lại dùng tới sức mạnh Người, một số đông trong chúng ta đã phải chết và tiêu diệt ngay lập tức rồi. Vậy nếu Chúa bị xúc phạm đã dùng tấm lòng thương xót tha thứ cho những ai phạm tội, tại sao, chúng ta là loài sâu bọ lại không biết biết dùng lý trí để tha thứ cho người làm mất lòng hay sỉ nhục chúng ta”. Ma-gôn còn nói với những người khác: “Tất cả chúng ta đều là con cái Chúa vì thế tất cả đều là anh em; ai báo thù anh em mình người đó không còn là con cái Chúa và qua sự nóng giận họ biến thành Satan”.

Mi-ca-en là người y tá

Mi-ca-en Ma-gôn dạy giáo lý cho các học sinh bệnh, cậu sẵn sàng giúp các bệnh nhân và trong trường hợp cần cậu xin phép qua nhiều đêm với bệnh nhân. Một người bạn cảm động về sự chăm sóc tử tế của Ma-gôn trong nhiều trường hợp: “Bạn Ma-gôn, tôi có thể làm gì cho bạn để đền bù lại sự săn sóc ân cần bạn đối với tôi?” Mi-ca-en đáp: “Không cần gì cả bạn ạ, chỉ cần bạn dâng lên Chúa một lần đau khổ để gọt rửa tội lỗi tôi đã đủ rồi”.

Sứ mệnh tế nhị

Một người bạn cứng đầu cứng cổ đã nhiều lần gây đau khổ cho các bề trên. Bề trên trao phó cho Mi-ca-en để cậu tìm phương thế đưa bạn quay trở về. Ma-gôn bắt tay vào việc. Cậu bắt đầu kết tình bạn bè với anh này. Cậu qua các giờ chơi và tặng quà nho nhỏ. Cậu viết những lời khuyên tốt trên những tờ giấy nhỏ và như thế cậu dã đi tới chỗ kết tình bạn bè thân mật với bạn này mà không đá động gì tới đạo giáo cả.

Ma-gôn lợi dụng lễ thánh Mi-ca-en để nói với bạn:

  • Còn 3 ngày nữa là tới lễ Đức Thánh Micae, bạn phải cho tôi quà gì chứ?
  • Lẽ dĩ nhiên là tôi sẽ tặng bạn: tôi rất tiếc là bạn đã đề cập tới, tôi muốn để anh ngạc nhiên cơ!
  • Tôi đề cập tới vì tôi muốn món quà anh tặng đó phải hợp với sở thích tôi cơ
  • Được rồi, được rồi. Anh cứ nói ra, tôi sẽ hết sức làm cho anh được hài lòng.
  • Anh đã sẵn sàng chưa?
  • Sẵn sàng rồi.
  • Nếu có đòi hỏi phải hy sinh một chút anh có làm không?
  • Tôi xin hứa với anh là dù thế nào tôi cũng làm.
  • Tôi muốn vào dịp lễ Tông Lãnh Thiên Thần Micae này, anh đi xưng tội tử tế để làm món quà tặng tôi và nếu anh đã sẵn sàng anh cũng chịu lễ hôm đó nữa.

Vì lời hứa đã lập đi lập lại nhiều lần nên ông bạn này không dám chối từ. Cậu bạn nhận ngay và trong suốt 3 ngày rước lễ đều có làm những việc đạo đức riêng. Ma-gôn không bỏ qua việc gì để sửa soạn người bạn dự tiệc thiêng liêng này. Rồi ngày kia cả hai cùng đi chịu các phép thánh. Tất cả các bề trên đều vui vẻ và dịp này đã nêu gương sáng cho các bạn.

Ma-gôn qua cả một ngày trọn với bạn trong niềm hân hoan vui vẻ và thánh thiện. Chiều tới, cậu nói với bạn: “Chúng ta đã qua một lễ vui vẻ và tôi rất được hài lòng. Thật sự anh đã làm tôi toại nguyện rồi, bây giờ đến lượt bạn, bạn có thể nói cho tôi hay bạn có được hài lòng về những việc chúng ta làm hôm nay không?

  • Phải, tôi rất được hài lòng; tôi hài lòng vì tôi đã được sửa soạn tử tế. Tôi xin thành thật cám ơn lời mời của bạn. Nếu bây giờ bạn có lời gì để khuyên tôi, tôi xin vui lòng tiếp nhận với cả lòng biết ơn
  • Chắc chắn là tôi còn nhiều lời khuyên tốt cần nói với bạn; vì chúng ta mới qua có nửa ngày lễ thôi và tôi muốn bạn cho tôi cả món quà đó đi. Bạn thân mến, từ lâu hạnh kiểm của bạn không được tốt lắm. cách sống của bạn không làm hài lòng các bề trên mấy, cách sống đó còn làm phiền cha mẹ, đánh lừa bạn, nó đã lấy mất lương tâm an bình của bạn, rồi một ngày mai bạn phải tính sổ với Chúa về tất cả những giây phút bạn phí phạm vô ích. Từ nay xin bạn lánh xa sự nhàn rỗi, sống vui vẻ như bạn muốn nhưng với điều kiện là đừng có chểnh mảng việc bổn phận.

Sau khi chịu chinh phục một nửa, bây giờ Mi-ca-en lại chiếm được cả con người cậu. Người bạn này trở thành tri kỷ, bắt đầu bắt chước cậu chu toàn bổn phận của mình. Ngày nay qua sự chuyên cần và hạnh kiểm tốt, người bạn này đã đem lại nguồn vui cho những người nào có liên lạc với cậu

Tôi cần phải đề cập tới những sự kiện nhỏ nhoi này vì nó làm sáng tỏ đức ái Ma-gôn và vì tôi muốn sao lại nguyên văn lời người bạn cùng chung sống với Ma-gôn thuật lại cho tôi

CHƯƠNG XI

HÀNH ĐỘNG VÀ NHỮNG MÁNH KHÓE CỦA MA-GÔN

Những việc chúng ta đề cập tới lúc này thực là dễ dàng đơn giản và mọi người đều có thể bắt chước dễ dàng. Những hành động và mánh khóe tôi sắp kể ra bây giờ, chỉ là để ca ngợi sự hăng say và sức phấn đấu của cậu thôi, tuy thế nó cũng đóng góp phần vào việc làm nổi bật cõi lòng rộng lượng sức can đảm của em nhỏ. Đây chỉ là một vài việc trong những sự kiện chính mắt tôi đã chứng kiến.

Những câu chuyện không đúng chỗ

Ngày kia, cậu đương trò chuyện chơi với các bạn, bỗng có một số nói lời những không hay mà người giáo hữu tốt nên tránh Ma-gôn nghe thấy thế cậu liền đưa tay lên miệng, bắt đấu huýt sáo thật mạnh đến nỗi hầu như bể đầu những ai đương đứng nghe. Mấy người bạn đứng đó nói với cậu:

  • Ma-gôn làm gì thế, mày điên à?

Ma-gôn không trả lời gì hết, cậu lại càng thổi to hơn lần trước. Anh khác nói:

  • Đó là cách cư xử của người có lịch sự đấy à?

Ma-gôn đáp lại:

  • Nếu là các anh nói những điều xấu để biến thành điên, tại sao tôi lại không có quyền ngăn các anh nói các điều đó, nếu các anh thiếu các nguyên tắc biết sống qua những câu chuyện không xứng đáng với người giáo hữu tốt; tại sao tôi lại không có quyền vi phạm để làm cho các anh im không nói nữa? Một bạn nói: “Những lời này gây ảnh hưởng trên chúng tôi hơn bài giảng. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau và không một ai dám hé môi tiếp tục vấn đề đó nữa “đó là những lời phê bình chỉ trích” rồi từ ngày đó mỗi khi có Ma-gôn đứng bên tất cả đều cẩn thận dè dặt lời nói vì sợ Ma-gôn sẽ huýt sáo rống lên như lần trước”

Cuộc ẩu đả với kẻ nói phạm thượng

Ngày kia Ma-gôn đi theo một trong các bề trên của cậu qua thành phố Turin, tới công trường Cas-tello, cậu nghe thấy một nhãi ranh nói phạm tới Thánh danh Chúa. Những lời này đã làm cho cậu mất trí, cậu không nghĩ gì tới nơi tới chốn, tới nguy hiểm. Cậu liền vồ lấy anh chàng nói phạm thượng và tặng cho 2 cú tát nên thân đồng thời nói: “Mày dám lộng ngôn đến Danh Thánh Chúa như thế ư?. Nhưng anh nhãi ranh này lại to béo hơn Ma-gôn không thèm để ý tới bài học luân lý; anh ta nổi khùng vì những lời châm chọc của các bạn, vì sự sỉ nhục vừa nhận được nơi công cộng và nhất là máu trong mạch bốc lên, anh liền bổ xô vào Ma-gôn. Rồi cú tát, cú đá liên tiếp nhau, đến nỗi không còn thì giờ cho phép đối thủ thở nữa. May thay bề trên cùng đi nhìn thấy thế nên chạy lại giãn hòa giữa 2 người đồng thời đưa lại sự an hòa làm cho cả 2 bên toại nguyện. Khi Mi-ca-en đã làm chủ được mình, cậu hiểu được sự bất bình không khôn ngoan mình đã dùng để sửa một anh chàng cứng đầu cứng cổ. Cậu hối hận về cơn giận vừa qua đồng thời hứa sẽ tỏ ra thận trọng hơn sau này bằng cách giới hạn những lời quở mắng lại

Lửa hỏa ngục

Trong trường hợp khác, đương lúc mấy người bạn tranh luận về sự đau khổ trong hỏa ngục rồi một người trong bọn đem ra câu hài hước: “Chúng ta sẽ cố gắng đừng vào đó; nhưng nếu có phải vào cũng xin chịu vậy” .Mi-ca-en vờ như không nghe thấy gì; cậu lủi thủi ra khỏi vòng tìm que diêm. Tìm được diêm rồi, cậu lại tới nhập bọn như trước. Cậu bật diêm nhẹ đặt vào tay người bạn đương cắp đằng sau lưng. Vừa mới cảm thấy sức nóng ở tay, anh bạn liền kêu to: “Mày làm gì thế? Mày điên à?” cậu ôn tồn đáp lại:

  • Tôi không điên đâu, tôi chỉ muốn thủ đức kiên nhẫn anh hùng của bạn đấy thôi. Vì nếu bạn có thể chịu nổi những hình khổ hỏa ngục trong kiếp muôn đời, bạn không nên bận tâm tới ngọn lửa que diêm chỉ cháy trong chốc lát thôi. Tất cả các bạn đều cười, nhưng anh bị lửa đốt nói: “Trong hỏa ngục thực là khổ thật”

Quy phục luật lệ

Một sáng kia các bạn khác muốn đưa cậu tới một nơi để gặp Cha giải tội không quen biết, và họ đã đưa ra nhiều lẽ. Mogone đáp lại:

  • Không, tôi không muốn đi đâu khi chưa có phép các bề trên. Tôi không phải là kẻ cướp luôn luôn sợ cảnh binh nhận ra được mặt, vì thế họ luôn tìm những nơi và những người không quen biết vì họ sợ bị khám phá ra. Không, tôi có cha giải tội của tôi và tôi xưng các tội nhỏ cũng như nặng với người mà không sợ sệt gì. Việc các anh muốn đi xưng tội nơi khác chứng tỏ là: một các anh không thích cha giải tội mình, hai là các anh có tội nặng phải xưng nơi khác. Dẫu thế nào chăng nữa, xa nhà và không có phép bề trên như thế tức là các anh làm một việc không nên. Nếu các anh có lý do để dối cha giải tội, tôi khuyên các anh cũng như tôi thường làm, đi tìm một trong các cha thường tới vào chiều thứ bảy hay các ngày lễ để giải tội cho học sinh trong Khánh lễ viện.

Mối nguy hiểm của mùa nghỉ hè

  • Trong suốt thời gian Ma-gôn sống tại trường, cậu chỉ về nghỉ hè tại gia đình một lần. Cả khi tôi cố gắng thuyết phục hay khi cha mẹ, bà con yêu mến của cậu chờ đợi, cậu cũng không muốn về. Nhiều lần người ta muốn tìm ra căn do tại sao; cậu lấy nụ cười để tránh trả lời. Ngày kia cậu bộc lộ sự bí mật mình cho một trong các người bạn tín cẩn của cậu; cậu nói:
  • Đã có một lần tôi nghỉ hè tại gia đình mấy ngày nhưng về sau, nếu tôi không bị bó buộc tôi sẽ không về bao giờ nữa – người bạn hỏi thêm:
  • Tại sao thế?
  • Bởi vì ở nhà, lại gặp những nguy hiểm năm xưa. Những nơi chốn, trò chơi, bạn bè quyến rũ tôi sống như ngày xưa và tôi không muốn việc tái diễn nữa
  • Bạn nên lấy thiện chí mà về gia đình và đem thực hành tất cả những lời các bề trên khuyên chúng ta trước khi trẩy đi
  • Xa Khánh lễ viện cũng như sương mù tan dần dần. ban đầu lời khuyên đó còn vơ vẩn trong đầu nhưng sau đó, bạn bè làm tôi quên mất
  • Vậy theo ý anh, không ai nên về quê nghỉ hè cũng không nên thăm cha mẹ nữa phải không?
  • Theo thiển ý tôi, những ai cảm thấy mình có thể lướt thắng những nguy hiểm trong mùa hè thời cứ việc đi; còn tôi bất lực về việc này. Điều tôi tin chắc là nếu các bạn chúng ta có thể nhìn thấy con người nội tâm, chắc tất cả sẽ nhận thấy người khi ra đi với đôi cánh thiên thần nhưng khi trở về trường trên đầu đã mọc hai chiếc sừng rồi, giống hệt như quỷ vậy.

Sức khỏe và các việc đạo đức

Thỉnh thoảng Ma-gôn cũng tiếp đón một bạn cũ mà cậu muốn chiếm được người bạn đó. Trong những lý lẽ mà người bạn này đưa ra, chúng ta thấy cậu lý luận đơn giản, đan cử ra làm tỉ dụ về một người đã từ lâu không có tiếp xúc với thế giới đạo giáo. Người này nói: “Tuy thế ông ta vẫn béo, vẫn mạnh và béo tốt”. Ma-gôn liền cầm tay bạn dẫn tới gần người lái xe vừa mới bỏ vật liệu kiến trúc xuống sân, đồng thời nói với bạn: “Bạn có thấy con la này không? Nó cũng to béo và không bao giờ xưng tội cả và tôi tin là nó không có vào nhà thờ bao giờ nữa. Bạn cũng muốn giống như con la không hồn, không lý trí chỉ có bổn phận làm việc hầu chủ cho tới ngày chết đi làm phân bón đồng ruộng không?” Người bạn này am hiểu bài học, từ ngày đó trở đi không dám đề cập tới các đề tài giống như thế để miễn chước cho mình khỏi thực hành bổn phận đạo giáo nữa.

Thôi bỏ qua nhiều câu chuyện giống như thế, chỉ đọc qua mấy câu chuyện cha vừa đề cập tới cũng đủ giúp chúng ta nhận ra tấm lòng tốt và mối thù hằn Ma-gôn sẵn có đối với tội ác đến nỗi đôi khi cậu bị lòng hăng hái thái quá lôi kéo dễ ngăn cản sự xúc phạm tới Chúa.

CHƯƠNG XII

NGHỈ HÈ TẠI CASTELNUOVO D’ASTI NHỮNG NHÂN ĐỨC THỰC HÀNH TRONG DỊP NÀY

Tới Castelnuovo

Vì Ma-gôn không thích về nghỉ hè tại gia đình, nên để lấy lại sức sau những ngày cặm cụi với sách đèn, cha đã quyết định gởi cậu tới Murialdo, khu xóm Castelnuovo d’Asti. Học sinh từng toán một tới nơi đây để thở hít không khí đồng quê, nhất là những em không có gia đình hay cha mẹ có chỗ nghỉ trong mùa thu. Vì hạnh kiểm tốt  và để thưởng cho cậu Ma-gôn, tôi muốn đưa cậu đi chơi trước và tôi đã chọn cậu với mấy người bạn đồng hành.

Trên đường đi tôi có thời giờ trò chuyện với Ma-gôn và có thời giờ để nhận thật: nhân đức của cậu đã tới một mức độ cao hơn tôi mong đợi. Tôi bỏ một bên tất cả những quyết định có tính cách xây dựng  trong dịp này và tôi hài lòng kể lại đôi sự kiện dùng để làm cho người ta biết tới các nhân đức khác của cậu, nhất là lòng biết ơn.

Mẫu chuyện hay

Trên đường đi, chúng tôi bị mưa ướt sạch, và sau cùng cũng tới Chieri. Chúng tôi váo nhà hiệp sĩ Marc Gonella. Ông này luôn luôn tỏ ra nồng hậu khi tiếp đón học sinh tới Castelnuovo hay từ Catelnuovo trở về.

Nhà hiệp sĩ cung cấp cho chúng tôi tất cả các cái cần thiết để thay quần áo, lại còn thiết chúng tôi một bữa cơm xứng với ông chúa một vùng, một mặt vì đói bụng nên càng ngon lành hơn

Sau một hay hai giờ nghỉ ngơi chúng tôi lại lên đường. Ban đầu Ma-gôn đi đầu, sau lại giật lùi về đằng sau. Một bạn đồng hành thấy Ma-gôn lùi lại cứ nghĩ là cậu chùn chân nên tới gần xem sao, nhưng chỉ thấy môi cậu lắp bắp:- Anh ta liền hỏi:

  • Anh mệt à, anh Ma-gôn? Chân anh mỏi hay sao?
  • Không, không mệt chút nào cả, tôi còn có thể đi tới Milan.
  • Thế anh lâm râm cái gì khi anh đi một mình lúc nãy ấy!
  • Tôi lần hạt cầu cho ông chủ vừa tiếp đãi nồng hậu chúng ta đấy. Tôi không có thể trả ơn ông ta cách khác được, nên tôi cầu xin Chúa và Đức Mẹ ban phước lành xuống cho gia đình này và xin Ngài ban cho ông gấp trăm lần của cải ông ta vừa cho mình.

Tỏ lòng biết ơn

Ghi lại tinh thần biết ơn cậu đã tỏ ra đối với những việc nhỏ mọn kể cũng không phải là phí công. Nhưng đối với các vị ân nhân, nó là cả một nguồn an ủi vô biên. Nếu tôi không sợ làm phiền độc giả, tôi sẽ viết lại trong bao lá thư hay một vài miếng giấy, cậu viết cho tôi để tỏ lòng tri ân đối với tôi vì đã nhận cậu vào nhà này. Tôi chỉ nói theo nguyên tắc, mỗi ngày cậu viếng Chúa Giêsu Thánh thể và mỗi sáng đọc ba kinh  Lạy Cha, kinh kính mừng, Sáng danh cầu cho những người làm ơn cho cậu bằng bất cứ cách nào

  • Nhiều lần cậu âu yếm cầm tay tôi, nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ đồng thời nói cha: “con không biết diễn tả tấm lòng tri ân của con đối với đức ái cao cả của cha khi nhận con vào Khánh lễ viện này.con sẽ cố gắng đền bù lại công ơn cha bằng cách ăn ở tử tế và xin Chúa chúc phúc lành cho cha, cho những khó nhọc của cha”. Cậu thích nói với các giáo sư, các người đã gởi cậu tới nhà chúng ta hay đã giúp đỡ cậu bằng bất cứ cách nào; nhưng cậu làm với cả tấm lòng tôn kính, không bao giờ hổ thẹn, thú nhận một đàng sự nghèo khó một đàng tấm lòng biết ơn của cậu. người ta nghe thấy cậu nói: “Tôi rất tiếc là không có thể chứng tỏ lòng biết ơn của tôi như tôi mong muốn, nhưng tôi biết mọi việc các ngài làm cho tôi - Tôi không bao giờ quên được các vị ân nhân của tôi – và bao lâu còn sống, tôi sẽ luôn luôn cầu nguyện để Chúa ban cho các Ngài phần thưởng bội hậu”.

Cậu còn tỏ lòng biết ơn này vào ngày cha xứ Castelnuovo d’Asti mời học sinh chúng ta dùng bữa vui vẻ. Chiều hôm đó, cậu nói với cha. Nếu cha không có gì bất tiện, ngày mai con sẽ chịu lễ cầu nguyện cho cha xứ mà nhờ ngài chúng con đã qua một ngày vui vẻ. Không những tôi cho phép cậu làm, nhưng lại còn mời nhiều học sinh khác cùng làm. Việc đó thường được làm để cầu các vị ân nhân nhà chúng ta

Mi-ca-en mê say thờ lạy

Trong những ngày sống tại Murialdo, tôi nhận thấy một hành vi đáng được dề cập tới ở đây. Ngày kia tất cả các bạn đều vào rừng bên cạnh chơi đùa. Có anh tìm nấm, tìm hạt dẻ, củ ấu, có nhiều học sinh đi thu lá...và các trò chơi đó là các em thích nhất để tiêu hao thời giờ. Khi Ma-gôn rón rén xa các bạn, tất cả các bạn đều vui đùa bận rộn. Cậu nhẹ bước trở về nhà. Có bạn nhìn thấy cậu tưởng cậu bệnh cũng theo sau cậu. Mi-ca-en cứ tưởng là chẳng ai thấy cả, liền vào nhà; chẳng tìm ai cả, không nói nửa lời với ai, cậu đi thẳng vào nhà thờ. Người bạn theo cậu thấy cậu quỳ một mình trước nhà chầu đương thầm lặng cầu nguyện tự nhiên cũng đem lòng thèm muốn.

Khi các bạn hỏi cậu lý do tại sao đi Viếng Mình Thánh Chúa đột ngột như thế, cậu trả lời: “Tôi rất sợ tái sa ngã, vì thế tôi tới cầu xin Chúa Giêsu Thánh Thể ban ơn phù trì, giúp sức để tôi bền tâm trong ơn nghĩa Chúa

Bằng chứng lòng thống hối

Một sự kiện khác cũng khá li kỳ xẩy ra trong những ngày đó. Chiều kia trong lúc các em đi ngủ cả. Tôi nghe tiếng người tỉ tê khóc trong đêm trường. Tôi êm nhẹ tới gần cửa sổ và tôi thấy Ma-gôn đưa đôi mắt đẫm lệ nhìn mặt trăng trong sáng vừa nức nở vừa khóc. Tôi hỏi cậu:

  • Ma-gôn con có điều gì thế? Con không được khỏe à?

Ma-gôn cứ tưởng một mình không ai trông thấy, tự cảm thấy bẽn lẽn và chỉ trả lời ấp úng. Nhưng tôi lại hỏi rành mạch và cậu trả lời đúng chỗ: “Con khóc vì nhìn thấy mặt trăng từ bao thế kỷ cứ xuất hiện đều đều để soi sáng đêm trường tối tăm mà không bao giờ trái lệnh Chúa. Trái lại con đây còn trẻ thơ, một người có lý trí đáng lẽ phải hoàn toàn vâng phục Chúa. Trái lại con đã nhiều lần trái lệnh Chúa, con đã xúc phạm tới Chúa ngàn cách”. Cậu vừa nói vừa khóc sướt mướt. Tôi lấy lời êm dịu an ủi cậu. Lúc đó cậu mới bình tĩnh đi ngủ tiếp.

Một em bé mới lên 14 tuổi mà đã tỏ ra có trí phán đoán và suy xét sâu rộng như thế thực là đáng ca ngợi. tuy tôi còn có thể nêu ra đây nhiều sự kiện khác làm cho mọi người nhận biết một em nhỏ có thể suy nghĩ tới những điều vượt qua tuổi em, nhất là khi cậu nhận thấy bàn tay Chúa trong mọi sự và bổn phận của loài thụ tạo là phải vâng lời Đấng tạo hóa, nhưng tôi thiết tưởng bằng ấy sự kiện cũng đã đủ chứng minh cho lòng thống hối của cậu rồi.

CHƯƠNG XIII

SỬA SOẠN CHẾT

Một thiếu niên gương mẫu

Sau mùa hè tại Castelnuovo d’Asti, Mi-ca-en chúng ta còn sống được chừng ba tháng nữa. Cậu có thân hình nhỏ bé nhưng lành mạnh và béo tốt. Với tinh thần tỉnh táo, cậu có thể làm được các việc có danh gia trong xã hội. Cậu thích học hành và quả thực cậu đã tiến bộ cách đặc biệt. Còn về mặt đạo đức, cậu đạt tới mức độ đến nỗi tôi không còn phải nói thêm điều gì nữa, hay phải cắt xén điều gì để làm gương mẫu cho thanh thiếu niên cả.

Với đức tính lanh lợi nhưng tốt, đạo hạnh, sốt sắng cậu thích làm các việc đạo đức nho nhỏ, cậu vui vẻ làm các việc này tử tế đến nỗi lòng đạo đức sốt sắng và tính bặt thiệp của cậu làm cho mọi người mến yêu tôn kính cậu, mặc dù trong sân chơi vì tính vui vẻ và nhường nhịn, cậu được mọi người tôn thờ cậu như ngẫu tương vậy.

Chắc chắn tất cả chúng ta thích người giáo hữu gương mẫu này sống lâu năm vì cậu sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương cũng như cho đạo giáo, qua khuynh hướng muốn làm linh mục, cậu luôn nuôi trong đầu óc và qua cuộc sống người đời nữa. Nhưng Chúa đã định cách khác. Chúa muốn hái bông hoa này khỏi vườn Giáo hội chinh chiến để đánh sang trồng trong Giáo hội chiến thắng trên trời. Chính Ma-gôn cũng không biết thần chết kề bên mình như thế, nhưng cậu đã sửa soạn chết bằng cách sống một ngày một trọn hảo hơn.

Tuần 9 ngày Đức Mẹ Vô Nhiễm

Cậu làm tuần 9 ngày kính Đức Mẹ Vô Nhiễm với cả tấm lòng sốt sắng đặc biệt. Chúng ta có những điều quyết định chính tay cậu viết ra để thực hành trong những ngày này. Đây nội dung những quyết định đó

“Tôi Mi-ca-en Ma-gôn, muốn làm tuần 9 ngày này tử tế và tôi hứa:

  • Cất của cải thế gian ra khỏi cõi lòng để hiến dâng hoàn toàn cõi lòng cho Mẹ Maria
  • Xưng tội chung để có lương tâm bình thản trong giờ hấp hối
  • Bỏ các bữa điểm tâm sáng để tẩy gột tội lỗi hay đọc bảy sự vui mừng Đức Mẹ để đáng được Mẹ phù hộ giúp trong giờ hấp hối.
  • Sau khi có sự đồng ý của cha giải tội sẽ chịu lễ hằng ngày.
  • Mỗi ngày sẽ kể một gương sáng cho các bạn để tôn kính Đức Mẹ.
  • Tôi sẽ mang miếng giấy này đặt dưới chân Đức Mẹ và qua hành vi này tôi muốn hoàn toàn hiến dâng cho Mẹ tới giây phút cuối cùng của đời tôi.

Ma-gôn được phép làm tất cả những việc vừa đề cập tới ở trên , chỉ trừ việc xưng tội chung mấy bữa trước. Đàng khác thay vì ăn chay, hằng ngày cậu được mời đọc một kinh vực sâu cho các linh hồn nơi luyện ngục.

Hạnh kiểm của cậu trong suốt tuần 9 ngày này thực là căn cớ làm cho nhiều người ngạc nhiên. Cậu tỏ ra bộ mặt vui vẻ khác thường và say mê kể những câu chuyện có tính cách xây dựng cho người này hay kích thích người khác tự kể cho nhau nghe. Cậu cũng cố gắng thu thập anh em lại để đi cầu nguyện trước nhà tạm hay trước tượng Đức Mẹ. Trong suốt tuần 9 này này, cậu nhịn ăn hoa quả, kẹo và các thực phẩm khác người ta cho cậu hay cậu lại dùng để tặng các bạn khác. Cậu tặng các bạn này một là để thưởng hạnh kiểm tốt của họ đã giữ trong suốt tuần 9 ngày, hoặc để giúp họ tham dự vào các việc đạo đức cậu đề xướng

Sinh nhật năm 1858

Cậu sốt sắng và tĩnh tâm mừng tuần 9 ngày vào lễ sinh nhật. Ngay đầu tuần 9 ngày kính Chúa Hài Đồng, cậu nói:

  • Tôi muốn dùng mọi phương thế để có thể qua tuần 9 ngày này cách tử tế. Tôi hy vọng Chúa sẽ thương xót tôi và Chúa Hài Đồng sẽ tái sinh nơi cõi lòng tôi với cả nguồn ơn Thánh Người

Mối tiên cảm

Chiều hôm cuối năm cha Giám đốc khuyên học sinh nên cám ơn Chúa vì những ơn lành đã nhận được ở tay Người trong năm sắp hết này. Rồi Ngài cổ võ mọi người nên cố gắng sống trong ơn nghĩa Chúa trong suốt năm mới này. Và ngài nói có lẽ một trong các con đây năm nay là năm cuối đời mình...Đương khi nói ngài đặt tay trên đầu học sinh ở gần ngài nhất và người gần nhất lại chính là Mi-ca-en Ma-gôn

Ma-gôn nói với giọng sợ hãi: “Tôi hiểu rồi chính tôi phải dọn đồ hành lý để về nơi vĩnh cửu, được lắm tôi đã sẵn sàng rồi”. Tất cả những lời này được tiếp đón với nụ cười vui, nhưng các bạn của cậu không quên những lời đó, và chính cậu thường lập lại những lời ngẫu nhiên đó. Mặc dầu biết trước như thế, nhưng mối vui vẻ và dễ tính của cậu cũng không thay đổi, cậu cứ chu toàn bổn phận một cách hoàn hảo.

Sẵn sàng

Trong khi ngày cuối cùng của đời Ma-gôn tới gần, Chúa lại càng báo trước cho cậu rõ ràng hơn. Chúa nhật 16 tháng giêng các học sinh của hội Thánh thể mà Ma-gôn là một hội viên, tụ họp như các em thường làm trong những ngày lễ. Sau khi đọc các kinh và sách thường lệ, lại một lần nữa tới lúc phát lệnh đã điểm, một người bạn cầm chiếc bao nhỏ chứa đầy hoa thiêng tức là những miếng giấy nhỏ có mang câu châm ngôn phải thực hành trong suốt tuần lễ. Người bạn này cầm giỏ đi từng người một, mỗi em sẽ rút một giấy. Ma-gôn rút và đọc thấy những lời này: “Tới ngày phán xét con sẽ ở một mình trước mặt Chúa”. Cậu chăm chú đọc và thông cho các bạn biết, tôi biết mà, đây là lời Chúa đến báo cho tôi phải sẵn sàng; rồi cậu đi tìm cha Giám đốc với tấm lòng áy náy cậu trao miếng giấy cho ngài. Cậu thường lập lại: đó là tiếng Chúa gọi cậu ra trước mặt Người. Cha Giám đốc khuyên cậu cứ sống bình an và sẵn sàng không phải vì tờ giấy này, nhưng vì chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải sẵn sàng trong Phúc âm; Chúa dạy mọi người luôn sẵn sàng trong hết mọi lúc, Ma-gôn hỏi:

  • Xin cha nói cho con biết con sẽ còn sống trên đất này bao lâu nữa?
  • Chúng ta còn sống cho tới khi Chúa còn gìn giữ chúng ta sống.

Ma-gôn hỏi giọng đầy âu lo bối rối:

  • Thế con có còn sống được cả năm nay nữa không?
  • Con nên an lòng, đừng xúc động quá làm chi. Cuộc sống chúng ta ở trong tay Chúa. Chúa là Cha nhân từ, Người biết Người phải duy trì cuộc sống chúng ta cho tới khi nào. Đàng khác không cần phải biết giờ chết để lên Thiên đàng, nhưng cần phải sửa soạn lên đó bằng cách làm việc thiện.

Lúc đó cậu hơi buồn và nói: “Nếu cha không muốn nói cho con biết, tức là dấu tỏ giờ đó đã gần tới” – Cha Giám đốc nói:

  • Cha không tin như con tưởng đâu. Nhưng giả thử việc đó có xẩy ra bất ngờ, đâu có làm cho con phải sợ vì con sẽ lên Thiên đàng để thăm viếng Đức Mẹ Đồng Trinh mà!
  • Đúng thực như thê!

Cậu lại trở về nếp vui vẻ như cũ, và tiếp tục chơi

Mối bình tĩnh khác thường

Thứ hai, thư ba và sáng thứ tư cậu không ngừng vui vẻ; cậu không cảm thấy mối lo lắng gì về sức khỏe cả và cứ tiếp tục chu toàn các việc như thường

Chỉ sau trưa hôm thứ tư, tôi mới thấy cậu ngồi bao lơn trông các bạn chơi mà không xuống để lăn xả vào chơi đùa như trước. Thực là một việc khác thường và là dấu, chứng tỏ cậu không được khỏe mạnh như thường lệ.

CHƯƠNG XIV

BỆNH TẬT VÀ CÁC BIẾN CHỨNG

Khó chịu

Chiều thứ tư (19-1-1859) tôi hỏi cậu có việc gì không; cậu đáp lại là không có việc gì hết vì cậu hay có chứng bệnh giun quấy rầy mà thôi. Thế là người ta cho cậu uống thuốc theo lời khai. Cậu đi ngủ và qua một đêm ngon lành. Sáng hôm sau cậu cũng thức dậy cùng giờ với các bạn khác, tham dự các việc đạo đức và cùng chịu lễ với mấy anh em khác để cầu cho các linh hồn đương hấp hối như cậu thường làm vào ngày thứ năm. Tới giờ chơi cậu cũng đi chơi, nhưng cậu cảm thấy sức yếu dần không thể chơi được nữa và cậu cảm thấy giun sán trong bụng làm cậu khó thở. Người ta cho cậu uống các thứ thuốc thuộc loại bệnh này và có bác sĩ tới khám bệnh, nhưng không nhận thấy một triệu chứng bệnh tật nào đồng thời bác sĩ bảo  cứ uống cùng một loại thứ thuốc cũ. Mẹ cậu lúc đó đương ở Turin cũng tới thăm cậu. Bà lại quả quyết ngay từ nhỏ con mình đã mắc bệnh này rồi, để điều trị mau chóng chỉ nên dùng thứ thuốc bà quen dùng cho cậu đã đủ.

Sáng thứ sáu, cậu muốn thức dậy rước lễ như thường lệ để tôn kính Chúa và để được ơn chết lành. Nhưng tất cả đều cấm cậu vì cơn bệnh của cậu có vẻ trầm trọng hơn. Cậu ra nhiều giun sán nên người ta lại cho cậu uống thuốc thêm để dễ dàng thở hít. Cho tới giây phút này không ai nhận thấy cậu có triệu chứng mắc bệnh nặng. Mối nguy hiểm chỉ xuất hiện khi tôi gặp cậu vào lúc 2 giờ chiều. Tôi nhận thấy không những cậu khó thở, nhưng cậu còn ho và trong chất đờm có vấy thêm máu tươi. Tôi hỏi cậu trong người thấy thế nào?. Cậu đáp lại là không có việc gì cả trừ lồng ngực cậu bị mấy con giun sán hoành hành thôi. Nhưng về phần tôi nhận thấy con bệnh đang dần đổi chiều và có vẻ trầm trọng hơn trước. Để khỏi nhầm lẫn trong việc chọn thuốc men và được an dạ hơn, tôi cho người đi tìm bác sĩ.

Xưng tội lần cuối cùng

Mẹ cậu, một người đã thấm nhuần tinh thần giáo hữu, nói với cậu:

Mi-ca-en thân mến, trong khi chờ đợi bác sĩ tới, con có muốn xưng tội không?

  • Vâng, thưa mẹ, con muốn lắm. con mới xưng tội và rước lễ sáng hôm qua; tuy thế vì cơn bệnh trở nên trầm trọng, con lại ước ao xưng tội lần nữa

Cậu dọn mình trong mấy phút đồng hồ rồi xưng. Với gương mặt bình tĩnh cậu vừa nói vừa cười trước mặt mẹ và cả tôi nữa

  • Ai biết được việc con xưng tội đây là dọn mình chết lành hay chính là việc dọn mình chết của con! – Tôi đáp lời cậu:
  • Thế con thích đàng nào? Một là bệnh hai là lên Thiên đàng?
  • Chúa sẽ biết điều có ích lợi cho con, còn phần con, con chỉ muốn điều làm đẹp lòng Chúa thôi
  • Nếu Chúa cho con chọn một là được khỏi bệnh, hai là lên Thiên đàng. Con chọn đằng nào?
  • Con muốn lên Thiên đàng à?
  • Thưa cha, đúng là con muốn lên Thiên đàng! Con hết lòng muốn điều đó và cũng là điều đã từ lâu nay con hằng cầu xin Chúa ban cho con ơn đó.
  • Con muốn lên Thiên đàng khi nào?
  • Nếu đó là Thánh ý Chúa, con muốn lên Thiên đàng ngay lập tức.
  • Được rồi chúng ta hãy cùng nhau nói lời này: Xin cho Thánh ý Chúa được vuông tròn trong hết mọi sự lúc sống cũng như lúc chết.

Những sự săn sóc đặc biệt

Đúng lúc đó bác sĩ tới và ông đoán con bệnh đã đổi chiều. Ông nói:

  • Thực là trầm trọng, máu trào lên lồng ngực và tôi không biết chúng ta có thể tìm ra thuốc chữa không.
  • Bác sĩ đã làm đủ mọi phương pháp do khoa học cung cấp cho trong các trường hợp như thế: chích máu, làm phỏng da, dược phẩm, tất cả đều được thử cốt để hạ máu trào lên vì máu đó có thể làm nghẽn hơi thở và con người sẽ về thế giới bên kia ngay.

Của ăn đàng

Vào lúc 9 giờ đêm hôm đó tức là ngày 21-1-1859 chính cậu còn muốn rước lễ một lần nữa trước khi chết. Cậu nói:

  • Vì sáng nay con chưa rước lễ. – Cậu nóng lòng chờ tiếp rước Chúa Giêsu mà đã từ lâu cậu năng lui tới gần Chúa và đề cao trong việc làm gương sáng này.

Trước khi cử hành lễ nghi, cậu còn nói với tôi trước mặt mọi người hiện diện đó: Xin cha bảo các bạn cầu nguyện cho con; xin các bạn cầu cho con để Chúa Giêsu Thánh thể trở thành của ăn đàng, bạn đồng hành đi về nơi vĩnh cửu. Khi chịu lễ xong, cậu liền thầm lặng cám ơn Chúa

Sau 15 phút cậu không đọc những kinh người ta để xướng cho cậu nữa, vì thấy cậu không đọc nữa, chúng tôi cứ tưởng là cậu mất trí rồi. Nhưng sau mấy phút đồng hồ, mặt cậu lại tươi tỉnh, cậu lên hiệu bảo người nghe, rồi nói: Trên miếng giấy con mới nhận được hôm Chúa nhật vừa rồi có điều sai lầm. Người ta viết: “Tới ngày phán xét chỉ có mình con với Chúa” không phải thế, không phải chỉ có mình con, nhưng Đức Mẹ cũng có mặt ở đó để giúp đỡ con. Bây giờ con không còn sợ gì nữa, chúng ta sẽ đi tới chỗ khi thời giờ tới. Đức Mẹ muốn thân hành làm bạn đường đi với con tới tòa phán xét

CHƯƠNG XV

GIÂY PHÚT SAU CÙNG VÀ CÁI CHẾT QUÝ BÁU

Con bệnh tăng thêm

Đã 10 giờ đêm rồi mà cơn bệnh còn đe dọa. Vì sợ cậu sẽ qua đi trong nội đêm đó, nên chúng tôi đã cử cha Zattini, thầy hộ trực và một y tá trẻ tuổi qua một nửa đêm bên cạnh bệnh nhân. Rồi cha quản lý tức cha Alasonatti cùng với một hộ trực viên và một y tá khác sẵn sàng giúp cậu một phần đêm còn lại cho tới sáng. Về phần tôi vì không thấy có dấu gì nguy hiểm ngay lập tức, tôi nói với bệnh nhân: “Ma-gôn thân mến, con thử ngủ đi một chút xem: cha về phòng một lát, rồi cha lại trở lại đấy. – Cậu trả lời ngay:

  • Xin cha đừng bỏ con.
  • Cha đi đọc xong sách nguyện rồi cha sẽ trở về bên con ngay.
  • Xin cha về đây sớm bao nhiêu có thể.

Khi rời phòng bệnh tôi bảo người ta đến gọi tôi ngay khi có dấu gì khác biệt. Vì tôi âu yếm em nhỏ này nên tôi ước mong nếu em có qua đi, tôi phải có mặt bên cạnh em. Tôi vừa về tới phòng thời có người mời tôi đến thăm kẻ liệt vì giờ hấp hối đã kề ngay bên rồi.

Xức dầu thánh

Đúng thực như thế, thần chết đã kề ngay cửa rồi. Cha Augustino Zattini làm phép Xức dầu thánh cho cậu

Bệnh nhân vẫn còn tỉnh táo. Cậu đối đáp các lễ nghi khi vị linh mục làm phép Xức dầu phần thân thể nào cậu cũng muốn thêm một kinh vắn tắt. Tôi còn nhớ khi xức tới miệng, cậu nói: “Lạy Chúa nếu Chúa làm con khô cứng ngay lần đầu tiên con dùng nó để xúc phạm tới Chúa thực là hạnh phúc cho con biết bao! Giá được như thế thời ngày nay con đã bớt được bao nhiêu tội! Lạy Chúa xin tha thứ tất cả những tội con đã dùng miệng này để xúc phạm tới Chúa, con xin hết lòng phàn nàn các lỗi lầm đó.”

Khi xức tới tay, cậu thêm: “Biết bao lần con đã dùng bàn tay này để đấm anh em bạn con! Lạy Chúa xin tha thứ các lỗi lầm của con và xin Chúa giúp sức các bạn con trở nên tốt hơn con”

Sau nghi lễ xức dầu, tôi hỏi cậu có bằng lòng cho tôi báo tin cho mẹ cậu đang ngủ phòng gần đó và để làm cho bà tin là con bệnh chưa đến nỗi trầm trọng không - Cậu đáp lại:

  • Thưa cha, tốt hơn xin cha đừng gọi mẹ con. Ôi mẹ đáng thương, mẹ con yêu con nhiều, và nếu người trông thấy con chết người càng đau khổ hơn. Nhìn thấy gương mặt mẹ con đau khổ càng làm cho con ưu phiền thêm. Ôi mẹ đáng thương, xin Chúa chúc phúc lành cho mẹ! Khi nào con lên trời rồi, con sẽ cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho mẹ con nhiều.

Phép lành Đức Thánh Cha

Tất cả đều xin cậu bình tĩnh và sửa soạn để lĩnh phép lành của Đức Thánh Cha. Đương lúc còn sống, cậu đã quyến luyến với những việc đạo đức mang lại ân xá. Cậu lĩnh chịu phép lành Đức Thánh Cha một cách sung sướng. Cậu đọc theo các kinh phải đọc trước khi ban phép lành và muốn tự mình đọc kinh cáo mình. Cậu đọc rằn từng chữ với tất cả tấm lòng tin tưởng sống động đến nỗi cả chúng tôi phải sa nước mắt. Sau đó cậu muốn nghỉ đôi chút, tất cả đều yên lặng để cậu an nghỉ nhưng cậu lại tỉnh dậy ngay.

Gương mặt bình thản của Ma-gôn

Điều làm cho các người nhìn mặt cậu đều kinh ngạc, đó là sự giao mạch của cậu làm cho mọi người biết cuộc sống cậu sắp tàn; nhưng sự bình thản, nỗi vui tươi, cười nụ làm cho mọi người lại ngờ vực cậu vẫn còn lành mạnh. Cậu đau khổ nhiều vì bộ máy hô hấp rạn vỡ đưa cậu tới giờ hấp hối và làm cậu đau khổ cả phần trí khôn cũng như thể xác. Nhưng Ma-gôn đã xin Chúa cho cậu được chịu hình phạt lửa luyện ngục ngay khi cậu còn sống trên trần để sau khi tắt thở có thể thẳng bay về trời. Đó là tư tưởng làm cho cậu vui vẻ chịu mọi đau khổ. Hơn nữa cơn bệnh này thường làm cho bệnh nhân tiều tụy, sầu muộn, trái lại, nó mang lại nguồn vui và hạnh phúc cho cậu.

Sau cùng, nhờ ơn đặc biệt Chúa Giêsu ban, không những cậu vô cảm trước nỗi đau khổ, mà hình như cậu còn cảm thấy nguồn an ủi trong mối đau khổ. Không cần phải nhắc, những cảm tình đạo đức cho cậu, chính cậu thỉnh thoảng đọc những lời nguyện tắt rồi

Từ biệt mẹ

Khi cậu gọi tên tôi, thời đã 10 giờ 45 phút rồi. Cậu nói với tôi

  • Tất cả mọi người có mặt tại đây, xin giúp con

Tôi đáp lại:

  • Con hãy an lòng, cha sẽ không bỏ rơi con cho đến khi con về với Chúa trên Thiên đàng đâu.

Nhưng như con nói với cha là con sắp sửa về thế giới khác, vậy con có lời gì trối trăng cho mẹ con không?

Cậu đáp:

  • Thưa cha không, con không muốn gây đau khổ cho mẹ con
  • Con không có gì ủy thác cho mẹ con ư?
  • Vâng, thưa cha xin cha nói hộ cho mẹ con là: xin mẹ con tha thứ tất cả những phiền muộn con đã gây cho mẹ con khi con đương còn sống. Lúc này con hối hận về những lỗi lầm đó. Xin cha nói với mẹ con là con yêu người lắm. Xin mẹ con cứ can đảm chu toàn bổn phận mẹ, phần con, con sẵn sàng chết; con sang thế giới khác với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và con sẽ chờ mẹ con trên Thiên đàng

Cuộc đàm thoại cuối cùng

Những lời vùa đề cập tới làm cho các người có mặt đều phải sụt sịt khóc. Nhưng tôi lấy hết bình sinh, chấn tỉnh lại và để giúp em trong giây phút cuối cùng này có những tư tưởng thánh thiện, thỉnh thoảng tôi lại đặt nhiều câu hỏi khác nhau

  • Con muốn nói gì với các bạn con?
  • Xin các bạn con chuyên chú xưng tội tử tế.
  • Trong giây phút này điều gì làm con an ủi nhất?
  • Điều làm con an ủi nhất trong giây phút này, tức là một ít việc con đã làm để tôn kính Đức Mẹ. Vâng, thưa cha, đó là tất cả mối an ủi của con đó. Ôi Maria, Maria, các con cái của Mẹ được sung sướng biết bao trong giây phút hấp hối này! Nhưng cậu nói, có một điều làm con không được vui mấy; khi linh hồn con lìa khỏi xác và sắp bước chân vào Thiên đàng, con sẽ phải nói gì? Con phải nói với ai?
  • Nếu Đức Mẹ đi với con trong lúc chịu phán xét, con hãy để Mẹ lo lắng hộ con. Nhưng trước khi để con về Thiên đàng cha muốn trao cho con một việc.
  • Xin cha cứ nói, con sẽ sẵn sàng làm việc cha trao phó.
  • Khi con đã lên Thiên đàng và khi đã thấy nhan Thánh Mẹ, con hãy đại diện cha, đại diện tất cả những ai đương sống trong nhà này khiêm cung tôn kính chào Đức Mẹ. xin Người ban phép lành cho tất cả chúng ta. Xin Người nhận chúng ta dưới sự bảo trợ của Mẹ, xin Người giúp đỡ để không một ai ở trong nhà này hay do Chúa Quan Phòng gởi tới phải hư đi đời đời.
  • Con sẵn sàng làm việc này và còn gì nữa không cha?
  • Bây giờ không còn gì nữa, nhưng con hãy nghỉ một chút đã. Quả thực cậu muốn ngủ.

Ma-gôn qua đời

Mặc dầu nhìn khuôn mặt bình tĩnh và lời nói bình thường, nhưng dao mạch báo thần chết sắp tới. Mọi người có mặt đó đều đọc kinh dọn mình chết. Giữa tiếng đọc sách, khuôn mặt cậu tươi hẳn lên tựa như vừa ngủ dậy, với nụ cười duyên dáng cậu nói với cha:

  • Một lát nữa con sẽ làm sứ mệnh cha trao. Con sẽ cố gắng chu toàn việc đó tử tế. Xin cha bảo các bạn con hay là con đang chờ các bạn con trên Thiên Đàng đấy.

Cậu nắm chặt cây Thánh giá trong tay, hôn ba lần và đọc những lời sau cùng này: Giêsu, Maria, Giuse, con xin phó linh hồn con trong tay Ba Đấng. Rồi cậu ngậm miệng lại tựa như lúc cười nụ và thiếp ngủ bình an cho đến muôn đời.

Linh hồn hạnh phúc này, như chúng ta nuôi hy vọng từ lâu, lìa cõi trần bay thẳng về trời vào ngày 21-1-1859 vào lúc 11 giờ đêm, hưởng dương chưa đầy 14 tuổi. Cậu không tỏ dấu gì hấp hối và cũng không tỏ lộ mối đau khổ sầu muộn nào như người ta thường cảm thấy khi linh hồn lìa xác. Tôi chỉ còn biết gọi cái chết của Ma-gôn là giấc ngủ vui vẻ bằng cách nâng tâm hồn khỏi chốn đau khổ lầm than để về nơi vĩnh phúc.

Mối xúc cảm của các người tới dự

 Các người có mặt tại đó đều khóc vì xúc động hơn là buồn rầu. Vì tất cả đều khóc than việc mất một bạn hiền, nhưng tất cả đều thèm muốn số phận của cậu. Cha Zattini cứ mặc cho dòng tình cảm trào lên; vì không cầm hãm nổi, cha đã thốt ra những lời này.

  • Hỡi thần chết, mi không phải là gánh nặng cho các tâm hồn sạch tội. Đối với các tâm hồn sạch tội mi là vị đại ân nhân, mi đã đưa các linh hồn này vào nơi an hưởng đời đời không bao giờ chết. Ôi Ma-gôn, ước chi cha được thế vào chỗ con. Trong giây phút đó linh hồn Ma-gôn chịu phán xét trước mặt Chúa và được Đức Mẹ dẫn đưa vào nơi vui khoái muôn đời trên nước Thiên đàng. Ma-gôn thân mến, con hãy an nghỉ hạnh phúc muôn đời. xin con cũng cầu nguyện cho chúng ta, rồi đến lần chúng ta, chúng ta sẽ dâng kinh nguyện sốt sắng lên Chúa để người ban sự an nghỉ đời đời cho linh hồn con

CHƯƠNG XVI

CUỘC AN TÁNG KỶ NIỆM CUỐI CÙNG

Nỗi cam chịu của bà mẹ công giáo

Hôm sau vừa tờ mờ sáng, mẹ cậu đã lần mò tới phòng cậu để biết tin tức con mình. Thực là mối đau khổ biết bao cho bà khi người ta không cho bà biết tin con bà đã qua đời! Tuy thế bà vẫn bình tĩnh không hé môi nói một lời, không thở dài than vãn. Bà chỉ nói: “Lạy Chúa, Chúa là Thầy là chủ mọi vật. Ma-gôn thân mến, mẹ luôn luôn khóc vì mất người con hiền, nhưng mẹ cảm đội ơn Chúa, vì đã cho con chết trong nhà này, và đã cho con ơn chết lành trước mặt Chúa. Con hãy an nghỉ trong Chúa và con hãy cầu nguyện cho mẹ con, người mẹ đó khi con còn sống đã yêu con nhiều và nhất là giờ đây mẹ càng yêu con hơn vì biết con đương sống với các người công chính trên Thiên đàng. Bao lâu mẹ còn sống trên trần, mẹ sẽ không ngừng cầu nguyện cho linh hồn con và mẹ hy vọng một ngày mai sẽ cùng được sum họp trên nơi vinh phúc đó với con”. Vừa nói xong những lời này, bà khóc nức nở rồi vào thẳng nhà thờ để tìm nguồn an ủi trong kinh nguyện.

Phản ứng ở Khánh lễ viện

Ma-gôn qua đi là cả một mối đau thương cho học sinh trong nhà và cho tất cả những ai có dịp quen biết cậu. Cậu rất nổi danh về những ưu điềm thể xác cũng như tinh thần: Cậu được mọi người kính trọng vì những nhân đức cậu sắm được trong linh hồn. Sáng hôm sau các bạn cậu cùng nhau làm việc đạo đức để cầu cho linh hồn cậu được an nghỉ đời đời. Tất cả cùng nhau lần hạt, đọc kinh nhật khóa cầu cho người chết đồng thời xưng tội chịu lễ sốt sắng cầu cho Ma-gôn. Tất cả đều khóc than người bạn hiền, nhưng trong thâm tâm mỗi người đều được lắng dịu khi nghĩ tới tư tưởng: “Giờ này đây Ma-gôn đương chung sống với Savio trên trời cao”

Những cảm tưởng sâu đậm do các bạn đồng học và giáo sư Franesia cảm thấy đều được diễn tả dưới mấy hàng chữ sau đây:

“Ngay hôm sau Ma-gôn qua đời, tôi tới lớp học. Hôm đó là ngày thứ bảy và học sinh phải làm luận. Nhưng khi nhìn thấy chỗ Ma-gôn trống, đã gởi lại cho tôi cái tư tưởng tôi đã mất một học sinh tốt và Thiên đàng lại có thêm một công dân. Tôi xúc động; tất cả các học sinh cũng buồn, mối buồn xâm chiếm cả lớp học và trong bầu không khí yên lặng, tôi chỉ có thể nói lên được câu: “cậu đã chết rồi”. tất cả lớp học đều khóc nức nở. Tất cả đều yêu mến cậu, mà ai lại không yêu một em nhỏ có nhiều nhân đức như thế? Sauk hi chết, danh tiếng lòng sùng đạo của cậu đã được các bạn thầm khen, nay đã vang khắp nơi. Người ta thi nhau lấy từng tờ giấy trong vở của cậu. một người bạn lấy làm tự đắc vì có cuốn sổ tay của cậu Ma-gôn và trên đó có ký tên Ma-gôn. Về phần tôi, vì được cổ võ qua các nhân đức cậu đã thực hành khi còn sống một cách hoàn hảo, nên trong các trường hợp cần thiết tôi không ngần ngài cầu Ma-gôn chuyển cầu hộ tôi nơi tòa Thiên Chúa. Tôi phải thú nhận là kinh nghiệm không bao giờ đánh lừa tôi đâu. Hỡi Thiên Thần bé nhỏ, xin hãy nhận tấm lòng biết ơn sống động của tôi và xin chuyển cầu bên ngai tòa Chúa Giesu cho thầy con. Xin giúp tôi có lòng khiêm nhường như con có. Hỡi Ma-gôn, xin hãy cầu cho các bạn con tăng thêm đông và tốt lành để tất cả chúng ta có thể cùng vui sướng với nhau trên nơi cực lạc”

Cuộc an táng

Để biểu lộ lòng trìu mến của tất cả các bạn đối với người quá cố, người ta làm lễ an táng trọng thể bao nhiêu có thể tùy theo mức độ hoàn cảnh chúng ta cho phép.

Với hàng nến sáng choang, tiếng ca ai oán với tiếng kèn đồng âm u tất cả đều tiễn đưa người bạn quá cố ra nơi an nghỉ ngàn thu. Tại nơi đây đương khi cầu nguyện cho linh hồn Ma-gôn, chúng tôi từ biệt cậu lần sau cùng trong lòng nuôi hy vọng một ngày mai có thể cùng cậu chung hưởng cuộc sống an vui trên nơi cao xanh.

Bài điếu văn

Sau một tháng tiễn biệt cậu ngoài nghĩa trang. Cha Zattini, một hùng biện gia trứ danh ca tụng Ma-gôn qua bài giảng thuyết vừa hùng hồn vừa cảm động. Tôi rất tiếc là khuôn khổ cuốn sách nhỏ này, không cho phép tôi viết cả bài đó ra đây, nhưng dù sao tôi cũng chép mấy câu kết luận của bài đó để dùng làm kết luận cho cuốn sách nhỏ này.

Sau khi đã dùng khoa lợi khẩu miêu tả, những nhân đức chính nơi tâm hồn người bạn quá cố người lại mời các bạn đương buồn và xúc động không nên quên Ma-gôn, trái lại phải năng nhớ tới cậu trong kinh nguyện và theo gương cậu đã để lại cho chúng ta đương lúc còn sống trên trần. Sau cùng người kết luận:

“Đó là những gương sáng cậu đã để lại cho chúng ta, là những lời nói trước khi lìa biệt cõi đời, bây giờ Ma-gôn không còn sống nữa; chỗ trong nhà thờ cậu hay tới cầu nguyện nay trống rỗng, và kinh nguyện đối với cậu là cả nguồn an ủi cho cậu khi quỳ trong nhà thờ này. Cậu không còn nữa, sự ra đi bất ngờ như thế làm cho chúng ta có cảm tưởng các vị tinh tú trên trời mất sáng, kho tàng tản mát mất và chỉ tâm hồn còn lại thôi. Hôm nay, kể từ ngày chôn vùi thân xác cậu dưới năm tấc đất, đã được 30 ngày tròn rồi. Nếu lúc này cha có mặt tại mồ cậu, cha cũng sẽ theo người Do Thái vặt nắm cỏ bên mộ và ném về đằng sau đồng thời cha cũng sẽ buồn rầu thì thầm như con cái Juda: các chúng sinh trưởng như cỏ trong đồng nội. Ước chi nắm xương tàn của cậu mọc lên một lớp thiếu niên gợi lại kỷ niệm cậu và nhắc tới gương sáng đồng thời tăng thêm nhân đức của cậu

Vĩnh biệt người bạn thân mến, hiền dịu, tốt lành và cường tráng. Vĩnh biệt Mi-ca-en thân mến, Mi-ca-en đã làm hy vọng cho người mẹ hiền tăng thêm, chính người mẹ này đã đổ nhiều nước mắt xót thương hơn là nước mắt tự nhiên và giòng máu.. Ma-gôn đã làm cho mối hy vọng của người cha nuôi tăng thêm, chính người cha này đã nhân danh Chúa Quan Phòng nhận em, gọi em vào nơi êm ấm này và tại đây em đã học biết cách yêu mến Chúa mau chóng. Ma-gôn, anh là đồng bạn, là người tôn kính các bề trên, dễ dậy đối với các Giáo sư, khoan dung với hết mọi người! Anh nuôi cao vọng bước tới chức linh mục... và có lẽ anh sẽ được liệt vào gương mẫu trong hàng linh mục. Anh đã để lại trong cõi lòng chúng tôi một chỗ trống, một vết thương! Anh đã bay đi hay nói cách khác, thần chết đã mang anh đi xa lòng quý mến kính chuộng của chúng tôi. Chúng tôi có cần bài học nơi cái chết của anh không? Cần lắm chứ, người sốt sắng, kẻ uể oải đều cần tới bài học này. Người chểnh mảng lười biếng, yếu đuối, lạnh nhạt cũng cần tới bài học này. Chúng tôi cầu khẩn anh cho chúng tôi hay lúc này anh đang an vui ở nơi cực lạc, nơi đất hạnh phúc của các người sống không? Xin cho chúng tôi hiểu có phải anh đã tìm thấy nguồn suối, bên cạnh biển ân sủng và cho chúng tôi hay có phải tiếng anh đương hòa hợp với tiếng đoàn ca hát trên trời, tiếng đó rất đẹp lòng Chúa không? Xin cầu cho chúng tôi được lòng sốt mến, được tình yêu và lòng bác ái...Xin cho chúng tôi được sống tốt lành trong sạch, đạo đức và nhân đức... được chết an vui, bình tĩnh và đầy cậy trông trong lượng từ bi Chúa. Xin cho chúng tôi không bao giờ bị thần chết hay mối đau khổ của thần chết chạm tới như anh đã được thoát vậy. Xin cùng với các Thiên Thần trẻ của nhà này tức là Camilo Gavio, Gabriel Fascio, Luy Rua, Savio và Gioan Massaglia đã ra đi trước anh, nay đang an nghỉ trong lòng Chúa để cầu cho chúng tôi và cầu cho người làm đầu đáng mến của ngôi nhà này. Chúng tôi sẽ năng nhớ tới anh trong lời kinh nguyện; chúng tôi sẽ không bao giờ quên anh bao lâu chưa được về cùng anh an hưởng trên các vị sao sáng. Ôi Chúa là Đấng tạo dựng, nuôi nấng và cất anh về. Chúa đáng được chúc tụng muôn đời. Chúc tụng Đấng đã cất đời sống và sẽ trả cuộc sống đó lại cho anh.

 

MỤC LỤC

TRANG

Lời phi lộ                                                                                                                    

  • Cuộc hội kiến kỳ ngộ                                                                                         
  • Đời sống nội tâm và khi tới Khánh lễ viện                                             
  • Những khó khăn và sửa đổi tính tình                                                    
  • Cậu xưng tôi và bắt dầu năng chạy tới các phép bí tích 
  • Đôi lời nhắn nhủ thiếu niên                                                                                
  • Mối ân cần gương mẫu trong việc đạo đức                                              
  • Trung thành với bổn phận                                                                                  
  • Lòng sùng kính Đức Trinh nữ Maria                                                 
  • Lòng yêu đức khiết tịnh và cậu bảo tồn đức này thế nào                 
  • Hành vi bác ai đối với an hem đồng loại                                         
  • Hành động và những lời xảo quyệt của Ma-gôn                                         
  • Nghỉ hè tại Castelnuovo d’Asti                                                                 
  • Sửa soạn chết                                                                                             
  • Bệnh tật và các trường hợp rong khi mắc bệnh 85
  • Giây phút sau cùng và cái chết quý báu                                                      
  • Cuộc an táng – kỷ niệm cuối cùng – kết luận 99

Thánh Trẻ ĐA-MINH SAVIO

Do Chính Don Bosco Viết Năm 1859

Bản Ý Văn

Vita di San Domenico Savio,

Editrice ELLEDICI, 1991

 

Xuân Uyển SDB dịch và thêm phần suy tư cùng

các câu "hỏi - thưa" giúp cho các bạn trẻ học tập

Gương Thánh Trẻ Đa-minh Savio

Xuân Hiệp – 2011

 

LỜI GIỚI THIỆU

Thánh Đaminh Saviô, vị thánh của tuổi trẻ, được rất nhiều bạn trẻ Việt Nam biết tới và yêu mến!

Nhưng làm sao biết được Ngài để bắt chước?

Đây là cuốn truyện hay nhất về Đaminh Saviô do chính tay Don Bosco người cha của tuổi trẻ viết về học trò của mình.

Ngài gói ghém tất cả phương châm nên thánh và phương thức nên thánh của Ngài ở đây:

Là hãy trọn vẹn sống cho Chúa và anh em hãy quyết tâm làm thánh bằng việc chu toàn bổn phận vì lòng mến Chúa, sống vui vẻ thi hành các việc đạo đức cách tốt đẹp.

Đó sẽ là cuộc sống hạnh phúc nhất của bạn…

Mời bạn đọc đi đọc lại chuyện đời Saviô của Don Bosco và cương quyết bước theo chân của Người anh thánh thiện Đaminh Saviô này.

Trong cuốn sách này cả hai vị thánh, Don Bosco và Đaminh Saviô nói với chúng ta!

 

LỜI NÓI ĐẦU

Các con thân yêu của cha,

Các con đã nhiều lần xin cha viết đôi chút về người bạn Đaminh Saviô của các con; cha đã làm hết sức mình để thỏa mãn nguyện vọng của các con. Đây là đời sống của anh Đaminh Saviô, viết ra cách đơn sơ và vắn gọn, và cha biết các con sẽ thích thú.

Có hai khó khăn chống lại việc xuất bản quyển sách này. Thứ nhất hễ ai viết về người mà hiện còn rất đông các nhân chứng đang sống, tất sẽ gặp phải sự phê phán. Cha tin rằng cha sẽ vượt qua được khó khăn này khi buộc mình chỉ kể những chuyện mà chính cha hay chính các con đã thấy và lưu giữ lại hầu hết những điều do chính tay các con viết ra và chứng nhận.

Khó khăn khác là việc cha buộc phải nói về mình nhiều lần, bởi lẽ cậu bé này đã sống gần ba năm trong nhà này, và cha liên tục phải kể ra những chuyện có liên hệ tới cha. Cha  tin rằng mình vượt được cản trở này bằng cách giữ đúng bổn phận của một sử gia chỉ biết viết ra sự thật của các sự kiện mà không vị nể ai. Nhưng nếu các con tìm thấy có sự kiện nào trong đó cha nói về mình cách mãn nguyện, các con hãy hiểu đó là vì cha quý yêu thương người bạn đã qua đời của các con cũng như cha đã yêu thương các con hết thảy[1].

Tình thương này khiến cha mở trọn cả cõi lòng thầm kín  của cha, để nói như người cha nói cùng các con rất thân yêu của mình.

Có người trong các con sẽ hỏi là tại sao cha viết tiểu sử Đaminh Saviô chứ không phải tiểu sử của các bạn trẻ khác đã từng sống giữa chúng ta với tiếng tăm về nhân đức không vương tỳ ố. Phải nay, các con thân yêu của cha, chúa quan phòng đã thương gởi tới cùng chúng ta các mẫu gương nhân đức như: Gabrile Fascio, Luy Rua, Camillo Gavio, Gioan Massaglia và các bạn khác[2].

Nhưng so với Saviô người bạn có một đời sống hiển nhiên rất kỳ diệu thì các bạn trên không có những hành vi đáng kể và quý báu bằng. Đàng khác, nếu Thiên Chúa ban ơn sức khỏe cho cha, cha cũng có ý định thu thập các hành vi của các bạn khác đó để thỏa mãn lòng ước vọng của các con và của cha khi cống hiến cho các con đọc và bắt trước điều xứng hợp với lứa tuổi các con[3].

Trong khi ấn bản mới này, cha có thêm vào vài nét mới. Cha tin rằng cả những ai đã đọc những gì đã trình bày trong các ấn bản trước đây, cũng sẽ tìm thấy ở ấn bản này có cái gì đó hay hơn.

Còn bây giờ, các con hãy bắt đầu rút tỉa các lợi ích từ các điều cha sẽ kể cho các con và hãy tự nhủ trong lòng các con những gì thánh Augustino đã nói: “nếu người đó, sao lại không, có cả tôi nữa?”. Nếu một người bạn của tôi, cùng ở tuổi tôi, cùng chung nơi ở của tôi, gặp phải cùng những nguy hiểm, có khi còn tệ hại hơn, mà đã có thời giờ và cách thức để giữ mình làm môn đệ trung thành bước theo Chúa Giêsu Kitô, thì tại sao chính tôi lại không thể làm được chuyện đó? Các con hãy nhớ kỹ là đạo giáo thực ra không hệ tại ở lời nói suông, mà cần phải tiến tới việc làm. Vậy chúng con khi thấy điều gì đáng ngưỡng mộ, thì đừng bằng lòng thốt lên: điều đó đẹp quá, tôi thích quá, tốt hơn hãy nói: tôi muốn cố gắng để chính tôi làm được những chuyện mà tôi đã đọc thấy  nơi các bạn khác, những chuyện đã khiến tôi cảm phục.

Xin Thiên Chúa ban cho các độc giả cuốn sách nhỏ này sự thánh thiện và ơn của Ngài, để các bạn thu được lợi ích từ điều mình sẽ đọc; xin Đức Nữ rất Thánh đồng trinh mà người bạn trẻ Đaminh Saviô đã nhiệt thành sủng ái, ban cho chúng ta được nên một lòng một trí yêu mến Đấng Tạo Hóa, là Đấng độc nhất đáng ta yêu mến trên hết mọi sự và trung thành phục vụ Ngài trong mọi ngày của cuộc sống chúng ta.

 

Lời tâm niệm

Chuyện thánh Đaminh Saviô xuất phát từ tấm lòng người cha nhân ái nhất của Don Bosco dành cho các bạn trẻ nam nữ.

   Don Bosco yêu Đaminh Saviô thế nào, cũng yêu bạn như vậy. Ngài là “thầy các bạn trẻ”, như Hội thánh đã truy phong.

   Saviô là gương sáng tuyệt vời nhất cho những ai muốn là môn đệ trung thành theo Chúa Giêsu Kitô.

   Bạn hãy luôn tự vấn:

   “Nếu Đaminh Saviô, sao không có cả tôi nữa”.

   Bạn hãy khắc ghi vào lòng lời dặn của Don Bosco: “đạo giáo không hệ tại ở lời nói suông, mà cần tiến tới việc làm”.

   Saviô anh hỡi, những gì anh ở tuổi thanh thiếu niên đã làm được, xin giúp chúng em cùng làm.

   Sau hết là cố gắng sống yêu thương nhau để phục vụ và yêu mến Thiên Chúa Đấng tạo hóa, như lời Don Bosco kêu xin Đức Mẹ để chúng ta được “một lòng một trí”.

 

Chương 1:  THỜI THƠ ẤU CỦA ĐAMINH SAVIÔ

Quê hương – tính tình Đaminh Saviô

   Cha mẹ của cậu bé mà chúng ta bắt đầu viết tiểu sử, tên là Carlo Saviô và Brigitta. Họ là những người dân nghèo nhưng lương thiện ở Castenuovo d’Asti, một làng cách Tôtino 25 cây số. Năm 1841, đôi vợ chồng này gặp cảnh túng thiếu nghiêm trọng, lại mất việc, nên đến ở Riva, một làng cách thị trấn Chieri 4 cây số; tại đây, người chồng trở về với nghề thợ rèn của thời trai trẻ[4]. Khi họ sinh sống tại làng này. Thiên Chúa chúc phúc cho cuộc hôn nhân của họ: Ngài ban cho họ một cháu nhỏ. Em sẽ là mối an ủi lớn cho họ. Em bé sinh ngày 2-4-1842. Khi họ đem con để được tái sinh trong nước rửa tội, họ đặt tên cho em là Đaminh. Tên gọi đó tự nó không có gì đặc biệt, nhưng lại đáng kể cho em bé chúng ta, như chúng ta sẽ thấy.

   Năm Đaminh đầy hai tuổi, cha mẹ em lại mong muốn và quyết định trở về sống tại làng quê cũ và lập cư tại Murialdo, một thôn nhỏ của Castenuovo d’Asti[5].

   Đôi cha mẹ tốt lành này hết sức lo cho con nhỏ của họ một nền giáo dục Kitô giáo. Em bé kẻ từ ấu thơ đã thật là một niềm hạnh phúc cho họ. Em  đã được ban cho cả một bản tính tốt lành, một trái tim bẩm sinh đạo đức,[6] em học đọc các kinh sáng chiều một cách dễ đến kỳ lạ, và vừa mới bốn tuổi thôi, em đã tự mình đọc được. Ở cái tuổi mà trẻ em tự nhiên cứng đầu cứng cổ này, em lại luôn luôn vâng lời mẹ cách hoàn hảo và nếu có khi nào em rời xa mẹ, thì chỉ là để đặt mình ở một góc nhà để có thể cầu nguyện cách tự do hơn trong ngày.

Các hành vi nhân đức đầu tiên của em

Ở tuổi nhỏ vì thiếu suy nghĩ, các trẻ thường liên tục phá phách và gây khó chịu cho các bà mẹ, đó là tuổi các em muốn thấy, muốn sờ và tệ hơn nữa là làm hư mọi sự. Nhưng cha mẹ Saviô quả quyết: “ngay từ tuổi thơ ấu, Đaminh không hề làm chúng tôi buồn lòng, không những cháu vâng lời sẵn sàng vâng nghe bất cứ cha mẹ bảo, mà còn ân cần đón được ý để làm những gì bé thấy là làm vui lòng chúng tôi”.

   Cách bé tiếp đón bố về nhà sau công việc thường nhật thật là lạ lùng và dễ thương. Bé chạy lại gặp bố, siết tay bố và nhảy lên ôm cổ bố:

- Bố yêu, bé nói, bố mệt lắm, phải không bố? Bố làm việc vất vả biết bao cho con và con chỉ được cái làm cho bố phiền hà; con cầu nguyện Chúa tốt lành ban cho bố sức khỏe và làm cho con nên tốt. – bé nói thế và theo bố vào nhà, lấy ghế ra cho bố ngồi, bé ở lại với bố và biểu lộ ngàn cách yêu thương. – người bố phải thú nhận: điều này là cả một niềm an ủi dịu ngọt trong những nỗi cực nhọc của tôi và tôi thật muốn nóng lòng về tới nhà để in một cái hôn dịu dàng lên bé Đaminh của tôi, bé thật chiếm hết tình thương của trái tim tôi.

Lòng đạo đức của em lớn lên vượt xa mức tuổi và chỉ mới bốn tuổi bé đã không cần ai nhắc bé đọc kinh sáng tối, kinh trước khi ăn, kinh truyền tin; chính bé còn mời gọi người trong nhà đọc kinh khi họ quên.

Một hôm cha mẹ bé chia trí vì một vài tiếng ồn ào, đã bắt đầu dùng bữa không làm dấu. Bé Đaminh tỉnh táo liền lên tiếng:

- Bố ơi, chúng ta chưa xin Chúa chúc lành cho của ăn của chúng ta; - nói xong, chính bé bắt đầu làm dấu thánh giá và đọc kinh như thường lệ.

Một hôm có người lạ được tiếp đón vào nhà bé. Ông ta cùng ngồi xuống ăn mà không làm dấu. Đaminh không dám nhắc nhở ông ta. Bé buồn bã lui vào một góc nhà. Cha mẹ bé thấy thái độ lạ lùng, mới đến hỏi bé. Bé trả lời:- Con không dám ngồi vào cùng với người khởi sự ăn như loài vật.[7]

Lời tâm niệm

   Cha mẹ Đaminh Saviô rất nghèo, như đã thấy qua các lần đổi chỗ ở của họ.

Bé Đaminh Saviô bẩm sinh tốt lành. Nhân đức như cùng sinh ra với cậu và được vun trồng tới mức anh hùng.

Những nhân đức Don Bosco nhắn nhủ các bạn trẻ qua gương Đaminh Saviô bé thơ là:

Sốt sắng cầu nguyện, ân cần yêu thương và biết ơn cha mẹ, lòng đạo phải được bền rễ và phát triển cách có ý thức.

   Thiên Chúa đối với Đaminh Saviô cũng như đối với bạn, phải là một sự hiện diện tràn say mến. Bạn phải hít thở Ngài như hít thở không khí!

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Đaminh Saviô là ai? Sinh ngày nào?

-   Đaminh Saviô đúng như tên gọi là: “Bé khôn của Chúa”. Cậu sinh ngày 2-4-1842.

  • Còn nhỏ, bé sống thế nào?

-   Bé bẩm sinh sốt mến, đạo đức. Bốn tuổi đã biết đọc kinh và luôn vâng lời mẹ cách hoàn hảo.

  • Bé ân cần ra sao?

-    Mỗi khi bố đi làm về, bé đã ân cần ra đón bố, an ủi và cầu nguyện cho bố.

  • Bé năng nhớ tới Chúa thế nào?

-   Mới bốn tuổi, bé luôn nhớ và nhắc mọi người đọc kinh sáng tối, trước khi ăn; và kinh truyền tin. Có lần bé từ chối ngồi ăn với người khách lạ không làm dấu trước khi ăn.

 

CHƯƠNG 2: HẠNH KIỂM VÀ NHÂN ĐỨC CỦA  SAVIÔ

Hạnh kiểm của Đaminh Saviô tại Murialdo.

Các nét son nhân đức - việc em chuyên cần tới trường thôn.

   Điều chúng tôi sắp nói thật khó mà tin được, nếu người kể chúng ra đã không đánh tan mối nghi ngờ của chúng tôi. Cha dựa vào lời tường thuật mà linh mục quản sở thôn Murialdo đã vui lòng cung cấp cho cha mẹ về cậu học trò yêu quý của Ngài: đó là cha Gioan Zucca miền Murialdo, khi ấy đã trở về cư trú ở quê ngài.

   Ngài nói; “trong những ngày đầu tiên tôi đến thôn Murialdo, tôi thường thấy một em bé khoảng 5 tuổi theo mẹ đến nhà thờ. Dáng thanh thản của em đều khiến tôi và những người khác chăm chú nhìn em. Có khi tới nhà thờ mà thấy cửa vẫn còn đóng, thì thật là một cảnh tuyệt diệu. Em không hề chạy nhảy đây đó hoặc la hét một mình hay với các bạn hữu, như các đứa trẻ cùng tuổi em thường làm, trái lại em dừng lại nơi ngưỡng cửa, quỳ gối xuống, cái đầu bé nhỏ của em hơi cúi xuống và đôi bàn tay vô tội chắp lại trước ngực, em sốt sắng cầu nguyện cho đến khi cửa mở. Phải thêm rằng đất có khi lầy bùn , trời đổ tuyết hay mưa; nhưng em bé chẳng quan tâm mà vẫn cứ quỳ gối xuống cầu nguyện[8]. Tôi thấy lạ quá và do một sự tò mò lành thánh thúc đẩy, tôi đã muốn hỏi cho biết em bé này là ai khiến tôi phải cảm phục, và tôi được biết em là con bác thợ rèn Carlo Saviô”.

   Khi gặp tôi trên đường, từ xa em đã tỏ lộ niềm sung sướng, và với gương mặt thiên thần em đã cung kính chào tôi trước và em đã bắt đầu đi học[9].

 

Các nét son nhân đức và sự chuyên cần tới trường

   Sẵn trí thông minh lại chuyên cần hoàn thành các bổn phận, trong một thời gian ngắn, em đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc học hành. Em buộc phải sống với các đứa trẻ độc ác và phá phách, nhưng không bao giờ tôi thấy em gây hấn. Khi xảy ra cãi cọ, em kiên nhẫn chịu những lời sỉ nhục của các đồng bạn và mau mắn xa lìa chúng. Tôi không nhớ là đã thấy em tham gia các trò chơi nguy hiểm, hay gây một chút rối loạn gì tại trường. Trái lại, có nhiều bạn rủ em đi chế nhạo các người cao tuổi, ném đá, ăn cắp hoa quả của người khác hay phá hoại ruộng đồng; nhưng em biết khôn khéo phản đối thái độ đó của chúng và từ chối tham gia.

   Lòng đạo đức sốt sắng mà em đã tỏ ra khi cầu nguyện ở ngưỡng cửa nhà thờ đã không giảm đi với tuổi lớn lên của em. Năm tuổi em đã học giúp lễ và giúp lễ cách sốt sắng[10].

   Mỗi ngày em tới với thánh lễ và nếu có ai muốn giúp lễ, thì em bằng lòng dự lễ, còn nếu không có ai, em đáp ứng với vẻ mặt đầy trang nghiêm. Vì còn quá trẻ tuổi và thân hình lại bé nhỏ, em không thể mang sách lễ qua bên kia; thật hay ho khi thấy em lo lắng lại gần bàn thờ, rướn người lên trên đầu các ngón chân, đưa tay với thật xa, cố gắng hết sức để chạm tới giá. Nếu vị linh mục hay những người khác muốn tặng em một món quà quý giá nhất trên đời, thì họ đừng di chuyển sách lễ, mà chỉ đưa giá sách lại gần em hơn để em có thể với tới được; thế là em sung sướng mang giá sách sang phía bên kia bàn thờ.

   “Em xưng tội thường xuyên[11] và vừa khi em có thể phân biệt bánh trên trời và bánh trần gian, em liền được chấp nhận cho rước lễ lần đầu. Được thấy những công việc tuyệt vời thể ấy mà ơn Chúa hoàn tất trong tâm hồn vô tội này, tôi đã nhiều lần tự nhủ: đây thật là em bé chứa chan hy vọng tươi đẹp. Chớ gì Thiên Chúa thương mở ra cho em đường để đưa các quả quý giá như vậy tới chỗ chín mọng”[12]

Tới đây kết thúc chứng từ của linh mục quản xứ Murialdo.

Lời tâm niệm

   Phải chăng lòng sốt sắng biểu lộ nơi thái độ cầu nguyện của Saviô; sáng sớm quỳ ở ngưỡng cửa nhà thờ còn đóng, bất chấp bùn dơ, mưa rơi, tuyết rơi, và không la hét, chạy nhảy phá phách như các trẻ khác, có dáng vẻ của một sự nhút nhát, yếu đuối hay lỗi thời.

   Don Bosco không tin như thế. Ngài quả quyết lòng đạo đức ấy không giảm sút với tuổi lớn lên, được biểu lộ khi bé giúp lễ cách chăm chú và sốt sắng, thơ ngây!

   Ai đã tiếp xúc với Thiên Chúa như mình hít thở không khí, luôn luôn cảm thấy lòng tràn ngập sự hiện diện yêu mến của Ngài…

   Nhân đức của Saviô còn được tỏ rạng. Hiền lành, nhưng khôn khéo phản đối và cương quyết không chấp nhận các đề nghị của các bạn xấu như ăn cắp hoa quả, ném đá, chế diễu người già, phá hoại ruộng đồng, tham gia các trò chơi nguy hiểm, gây rối trong trường…

   Bé Đaminh Saviô còn năng đi xưng tội và sớm được rước lễ, cuộc đời của bạn phải như Đaminh Saviô, chứa chan hy vọng tươi đẹp. Đó là lời Don Bosco nhắn nhủ bạn.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Lên 5 tuổi bé đi nhà thờ thế nào?

  - Bé đi cùng với mẹ, thái độ thật trang nghiêm, sốt sắng dù mưa đá, tuyết rơi, dù bùn dơ, bé quỳ trước ngưỡng cửa nhà thờ mà cầu nguyện khi cửa nhà thờ chưa mở vào sáng sớm.

  • Ở lớp, bé ra sao?

  - Bé lễ phép, thông minh, kiên nhẫn nhịn nhục và tránh bạn xa xấu.

  • Bé đến với Chúa thế nào?

  - Bé sớm biết giúp lễ, để ở gần Chúa và siêng năng đi xưng tội.

 

Đaminh Saviô được nhận rước lễ lần đầu

Đaminh đã đủ điều kiện để nhận vào rước lễ lần đầu. Em đã thuộc lòng cả cuốn giáo lý nhỏ; em đã hiểu rõ bí tích cao cả này và nóng lòng khao khát rước Chúa. Chỉ có tuổi của em là cản trở duy nhất, vì trong các làng quê, thông thường người ta không nhận các trẻ em rước lễ lần đầu nếu các em chưa tới mười một, mười hai tuổi tròn[13]. Còn Saviô thì chưa đầy bảy tuổi. Ngoài vẻ mặt non choẹt, thân hình bé tí của em lại càng làm cho em giống trẻ thơ quá; nên cha quản sở lưỡng lự tiếp nhận em. Ngài hỏi ý kiến các linh mục khác. Các vị này sau khi đã cân nhắc sự hiểu biết sớm phát triển, sự học hành và những khao khát mãnh liệt của Đaminh, đã gạt sang một bên mọi khó khăn và nhận em tham dự lần đầu tiên bánh các Thiên thần.

Sự thuận lợi, sự cầm lòng cầm trí và những quyết định.

Thật khó mà diễn tả những tình cảm mừng, vui khôn siết ngập tràn lòng em trước tin báo đó. Em chạy về nhà và sung sướng kể  lại cho mẹ; rồi khi cầu nguyện, khi đọc sách; em đã qua nhiều thời gian ở nhà thờ trước và sau thánh lễ và linh hồn em xem ra đã ở với các thiên thần trên trời. Vào dịp vọng ngày được quy định cho rước lễ, em gọi mẹ em: - Mẹ ơi, em nói, ngày mai con đi rước lễ; mẹ hãy tha thứ tất cả những nỗi buồn phiền con gây cho mẹ trong quá khứ; sau này con hứa sẽ thật ngoan ngoãn hơn; con sẽ chăm chú tại trường học, vâng lời, dễ dạy, kính trọng tất cả những gì mẹ muốn ra lệnh cho con. Nói xong em cảm động và bắt đầu khóc. Người mẹ mà xưa nay chỉ tìm thấy niềm an ủi nơi con, cũng cảm kích và không cầm nổi nước mắt. Bà nói với con: Con hãy an lòng Đaminh thân yêu của mẹ, mẹ đã tha thứ hết: con hãy cầu cùng Chúa gìn giữ con luôn tốt lành, hãy cầu Ngài cho cả mẹ và ba.

   Sáng ngày đáng ghi nhớ đó, em dậy đúng giờ, mặc áo đẹp nhất của em và đi nhà thờ lúc cửa còn đóng. Em quỳ gối ở ngưỡng cửa nhà thờ như bao lần em đã làm cho tới khi các em khác đến và cửa nhà thờ mở. Nghi lễ kéo dài 5 tiếng gồm việc mỗi em xưng tội, chuẩn bị và cám ơn sau rước lễ. Đaminh là người thứ nhất vào nhà thờ và là người cuối cùng ra khỏi đó. Trong cả thời gian ấy, em không biết mình ở trên trời hay ở dưới đất nữa[14]. Ngày hôm đó là ngày nhớ mãi không quên cho em. Ta có thể gọi đây là một khởi đầu đích thực, hay đúng hơn một sự liên tục tự nhiên của một đời sống, có thể làm gương cho bất cứ một Kitô hữu trung thành nào. Vài năm sau đó, khi xin em kể về ngày rước lễ lần đầu của em, ai cũng thấy được một niềm vui thật sinh động còn rạng rỡ trên khuôn mặt em. – Em đã viết vài điều ghi nhớ mà em gìn giữ hết sức chu đáo trong một cuốn sách đạo đức và điều đó em thường xuyên đọc đi đọc lại. Cha đã có thể có trong tay và ghi lại ở đây trong nét đơn sơ của nguyên bản. Lời lẽ như sau: “các điều ghi nhớ do tôi, Đaminh Saviô, ghi lại năm 1894  khi tôi được chịu lễ lần đầu năm lên 7 tuổi”.

  1. “Tôi sẽ xưng tội rất thường xuyên và chịu lễ tất cả mỗi lần cha giải tội cho phép.
  2. Tôi muốn thánh hóa các ngày lễ.
  3. Các bạn của tôi sẽ là Giêsu và Maria,
  4. Thà chết chẳng thà phạm tội”

Các điều ghi nhớ này được em thường xuyên nhắc lại và là quy luật cho các hành động của em cho tới cuối đời[15].

Trong số những ai đọc cuốn sách nhỏ này, nếu có ai phải thực hiện việc rước lễ lần đầu, cha mẹ hết lòng khuyên bảo bạn ấy hãy lấy cậu bé Saviô làm mẫu gương cho mình. Nhưng theo sự hiểu biết và khả năng của cha, cha cũng khuyên các người cha và các bà mẹ gia đình và tất cả những ai có quyền hành trên các trẻ em, hãy dành cho hành vi tôn giáo này một tầm quan trọng lớn lao nhất. Các vị hãy xác tín rằng việc rước lễ lần đầu được làm cách tốt lành sẽ đặt nền tảng luân lý vững chắc cho cả một đời; sẽ là một chuyện lạ nếu có ai sau khi đã hoàn tất tốt đẹp bổn phận cao trọng này, mà lại không có được sau đó một đời sống tốt lành và nhân đức. Trái lại, có cả hằng nghìn trẻ em hư hỏng, là nỗi thất vọng cho cha mẹ và những người chăm sóc chúng; nhưng nếu ta đi tới tận cội nguồn của sự dữ, ta biết được rằng hạnh kiểm của chúng bắt đầu ra như thế từ nơi sự chuẩn bị chưa đủ hoặc do không có chuẩn bị gì cả để rước lễ lần đầu. Tốt hơn là dời hành vi này lại, hay là đừng làm còn hơn là làm không tốt.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Bé rước lễ lần đầu năm nào?

- Năm bé mới 7 tuổi, vì bé sớm phân biệt được bánh Thiên thần với bánh trần gian.

  • Bé chuẩn bị rước lễ thế nào?

- Khi nghe tin được phép rước lễ lần đầu, bé sung sướng lắm và cảm kích xin lỗi mẹ vì các lỗi lầm!

  1. Cuộc rước lễ lần đầu ấy đối với bé ra sao?

- Bé vẫn luôn nhắc lại: “ôi ngày đó thật là ngày đẹp và vĩ đại đối với tôi”.

  1. Bốn quyết định của Saviô ra sao?

- Tôi sẽ năng xưng tội và rước lễ.

- Tôi muốn thánh hóa các ngày lễ.

- Bạn tôi sẽ là Chúa Giêsu và Đức Maria.

- Thà chết chẳng thà phạm tội.

  1. Rước lễ lần đầu và rước lễ quan trọng thế nào?

- Rước lễ lần đầu và rước lễ sốt sắng là nền tảng cho một đời sống luân lý và đạo đức tốt.

 

Chương 4: ĐAMINH SAVIÔ HỌC TẠI TRƯỜNG LÀNG

Trường làng Castelnuovo d’Asti - một mẫu đối thoại gương mẫu.

            Sau khi học xong lớp mẫu giáo và lớp một, (từ năm lên sáu và lên bảy), đáng lý Đaminh phải được tiếp tục học ở nơi khác. Nhưng ở một thôn nhỏ như thế, Đaminh đã không được toại nguyện. Đaminh khao khát đi học, còn cha mẹ bé thì vô cùng bận tâm về bé. Nhưng sao mà làm được chuyện đó bởi thiếu tiền bạc? Thiên Chúa, ông chủ tuyệt đối của mọi loài, chính Ngài sẽ quan phòng các phương tiện cần thiết để cậu bé bước theo con đường Ngài kêu gọi.

   Có những lần Đaminh thốt lên: - Nếu tôi là con chim, tôi sẽ tung cánh bay tới  Castelnuovo sớm chiều để tiếp tục đi học. Khát vọng mãnh liệt đó đã giúp em vượt qua mọi khó khăn và quyết định lui tới trường làng Castelnuovo, dù trường xa nhà tới bốn cây số rưỡi. Thế là một em bé mới mười tuổi mà đã chịu cuốc bộ đi về sớm chiều hai bận cả thảy 18 cây số. Có khi khốn đốn vì gió thốc, mặt trời thiêu đốt, bùn lầy, mưa rơi. Nhưng chẳng sao. Bé chịu mọi gian khổ và vượt qua mọi khó khăn; bé thấy đó là cách vâng lời cha mẹ, cách học khoa học chiếm được ơn cứu độ và như thế là đủ để bé vui sướng chịu đựng mọi gian khổ[16].

   Một hôm có người lớn tuổi thấy Đaminh một mình đi tới trường vào lúc 2 giờ trưa dưới ánh mặt trời thiêu đốt. Như để an ủi em, ông lại gần và nói với em:

   - Em bé ơi, em không sợ đi một mình trên quãng đường này sao?

   - Em đâu có đi một mình, có Thiên thần bản mệnh hằng theo em từng bước[17].

   - Dẫu sao cháu cũng cực nhọc vì đường xá dưới cái nóng nực này và phải đi lại 4 lần mỗi ngày!

   - Ồ, chẳng có gì cực, chẳng có gì mệt mỏi cả khi ta làm việc cho một ông chủ trả lương rất hậu.

   - Ông chủ nào thế cháu?

   - Đó là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng, Ngài trả cả bát nước lã ta cho kẻ khác vì lòng yêu mến Ngài.

   - Ông này kể lại chuyện trên cho một số bạn hữu và luôn kết luận như  sau: một cậu bé tuổi còn nhỏ như thế mà đã nuôi những tâm tình như vậy, sau này chắc chắn sẽ làm cho người ta nói về cậu trong sự nghiệp cậu sẽ ôm ấp.

 

Câu trả lời khôn ngoan trước một lời khuyên xấu

Trong những lần đi về từ trường học như vậy, em đã gặp phải một nguy hiểm nghiêm trọng cho linh hồn do một số bạn hữu[18]:

Giữa cái oi ả mùa hè, nhiều trẻ có thói quen đi tắm ở những hồ nước, những dòng suối, những ao đầm và những nơi tương tự. Khi cả lũ trẻ tụ lại chơi tắm, cởi truồng và có khi ở những nơi lộ liễu, thì có những nguy hiểm về thể xác, như chúng ta quá thường nghe những lời than vãn về các trẻ con và người lớn chết đuối trong dòng nước; nhưng nguy hiểm cho linh hồn còn lớn hơn. Biết bao trẻ em khóc lóc đã đánh mất sự vô tội vì đã đi tắm với bạn bè như thế ở những nơi tai hại! Vậy nhiều đồng bạn của Saviô có thói quen đi tới đó. Không bằng lòng với chuyện chính chúng đi tới đó, mà còn muốn đem cả Saviô đi với chúng và chúng đã một lần lôi kéo được cậu. Nhưng sau khi đã nhận ra đó là một điều xấu, Saviô tỏ ra vô cùng đau đớn[19]. Thế là không thể nào lôi kéo cậu tham gia một lần nữa, trái lại, cậu ăn năn và khóc lóc nhiều lần về mối nguy hiểm cho linh hồn và thể xác mà cậu đã tự đặt mình vào. Tuy nhiên có hai thằng bạn trớ trêu và táo bạo nhất lại cố lôi kéo cậu thêm một lần nữa. Chúng nói với cậu:

- Đaminh, mày muốn đến tham gia với chúng tao một cuộc chơi?

- Cuộc chơi nào?

- Chơi bơi lội ấy mà.

- Ô, không! Tôi không đi đâu. Tôi không khéo lắm, tôi sợ chết đuối.

- Điều đó, Saviô đã từ chối đi tắm với họ.

- Đi chứ! Thú lắm! Những ai bơi, không còn thấy nóng bức, ăn ngon và rất khỏe.

- Nhưng tôi sợ chết đuối.

- Ôi chà, đừng sợ. Chúng tao sẽ dạy mày hết; lúc đầu mày sẽ xem chúng tao bơi, rồi mày sẽ bơi như thế. Mày sẽ xem chúng tao bơi lội trong nước như cá, và nhảy như những tay khổng lồ.

- Nhưng như vậy không có tội sao khi chúng ta đi tới những nơi đầy nguy hiểm ấy?

- Chả có tội gì cả; hơn nữa mọi người đều đi cả mà.

- Thôi đủ rồi; tôi chẳng hiểu gì nữa và chẳng biết nói sao.

- Đi đi, đi đi: cứ tin vào lời tụi tao: chẳng có gì xấu, và chúng ta sẽ cứu mày khỏi mọi nguy hiểm.

- Trước khi làm những gì các bạn nói, tôi muốn xin phép mẹ tôi đã, nếu mẹ nói được thì tôi sẽ đi, nếu không tôi không đi.

- Mày im đi, đồ ngu, đừng dại mà đi nói với mẹ mày; bà chắc chắn sẽ không để mày đi, hơn nữa bà còn nói với cha mẹ chúng tao và sẽ làm cho chúng tao bị nhừ tử bằng những cú đòn.

Ô, nếu mẹ tôi không để cho tôi đi, đó là dấu chuyện đó không tốt; bởi thế tôi không đi; và nếu các bạn muốn tôi nói thẳng với các bạn, tôi sẽ nói cho các bạn biết là tôi đã bị đánh lừa và đã đi với các bạn chỉ có một lần thôi và sẽ không bao giờ đi nữa trong tương lai! Bởi ở những nơi đó, luôn luôn có nguy hiểm chết đuối và xúc phạm đến Chúa. Các bạn đừng nói với tôi nữa về chuyện bơi lội; nếu cha mẹ các bạn không bằng lòng chuyện đó, các bạn cũng không nên làm nữa; vì chúa phạt những đứa con làm trái ý muốn của cha mẹ. Đaminh đã trả lời cách khôn ngoan đến thế cho các khuyến dụ xấu này, và đã tránh được một nguy hiểm nghiêm trọng trong đó cậu đã có thể bị sa vào, và liều đành mất kho tàng vô giá là sự vô tội. Cái nguy hiểm này kéo theo với nó muôn ngàn hậu quả tai hại.

 

Lời tâm niệm

Don Bosco giáo dục các bạn trẻ. Ngài lo lắng nhất là sao cho các bạn trẻ tránh các dịp tội, làm mất sự vô tội, và bị cuốn lôi vào trong các hậu quả buồn thảm: Như câu chuyện cám dỗ Đaminh Saviô đi tắm và những dịp gây gương xấu có thể bày ra cho lũ trẻ rủ nhau đi tắm ngoài phép của cha mẹ.

Nay các gương xấu quyến rũ người ta tới những ý tưởng và hành động xấu tràn ngập qua sách báo và tranh ảnh, xi-nê xấu.

Ngay cả các anh chị lớn chăm lo cho các em trẻ ở xứ đạo… cũng có thể liều gặp những giao du nguy hiểm với các bạn khác hay giữa họ mà sinh ra những gương mù, những chuyện đàm tiếu không hay, và không còn là gương tốt cho trẻ nhỏ.

Chúng ta phải nghe lời khuyên của Don Bosco giữ cho mình tâm hồn trong  trắng và vô tội trong cuộc sống. Nếu có khi nào tâm hồn ta hoen ố, ta hãy mau chạy tới tòa cáo giải  để khôi phục sự trong trắng của tâm hồn, và quyết tiến trên đàng nhân đức.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Năm lên 10 tuổi, Saviô đi học ra sao ?

- Cậu phải lên trường làng, cuốc bộ mỗi ngày 18 cây số. Nhưng cậu luôn theo ý thiên thần bản mạnh mà suy nghĩ những chuyện tốt  lành .

  • Tại sao Đaminh Saviô không nghe lời bạn hữu rủ đi bơi lội?

- Vì nguy hiểm chết đuối và cũng vì có nguy hiểm theo bạn xấu phạm  tội mất lòng Chúa.

 

Chương 5: HẠNH KIỂM CỦA ĐAMINH SAVIÔ TẠI TRƯỜNG CASTELNUOVO D' ASTI

Hạnh kiểm của Saviô tại trường Castelnuovo d’asti

Khi theo học trường Castelnuovo, Saviô bắt đầu học cách cư xử đối với các bạn học. Nếu em thấy bạn nào chăm chú trong lớp, dễ dạy, lễ phép, thuộc bài, làm bài và được thầy khen, thì bạn ấy lập tức trở thành bạn của em. Nhưng  nếu là một gả bướng bỉnh, xấc láo, chểnh mảng việc bổn phận, nói  xấu hay nói tục ư ? Đaminh sẽ xa lánh nó như bệnh dịch. Còn những em hơi ươn lười, thì em ân cần chào hỏi, giúp đỡ khi cần, nhưng không kết bạn thân với chúng[20].

Những lời nhận xét của thầy dạy Saviô

Lối sống của em ở Castelnuovo d’asti đáng làm gương cho bất cứ bạn học sinh trẻ nào ước ao tiến bộ trong khoa học và lòng đạo đức. Vì thế cha ghi lại ở đây nhận xét rất cân nhắc do thầy của Đaminh Saviô là cha Alexandro Allora viết[21]:

Ngài viết như sau:

“Tôi rất sung sướng được giải bày nhận xét của tôi về cậu bé Đaminh Saviô. Mới trong một thời gian vắng, bé đã chiếm trọn cảm tình của tôi, đến độ tôi thương bé bằng cả tấm lòng dịu dàng của một người cha. Tôi vui mừng đáp ứng yêu cầu của Cha, vì tôi còn giữ lại một kỷ niệm rất sinh động, rõ ràng và đầy đủ về việc học, hạnh kiểm và nhân đức của em.

“Tôi không thể nói nhiều về hạnh kiểm tôn giáo, vì em ở thôn khá xa, nên được miễn tham dự giờ họp mặt công đoàn vào Chúa nhật vào ban sáng và trưa như các em khác, để cầu nguyện, nghe sách thiêng, tham dự thánh lễ, học giáo lý. Giá được, thì em đã nổi gương về lòng đạo đức và sốt sáng.

Sau khi em đã học lớp thứ nhất tiểu học tại Murialdo, em nhỏ tốt lành này đã xin và nhận ngay vào trường của tôi là lớp tiểu học năm thứ hai, ngày 21-06-1852, là ngày các học sinh kính thánh Luy, bổn mạng của tuổi trẻ.

Em vóc người mảnh khảnh, yếu đuối, nét mặt nghiêm trang pha lẫn dịu dàng, với một vẻ trang trọng nhưng dễ thương không thể tả được. Tính tình em rất hiền hậu và dịu dàng, luôn luôn bình thản. Lúc nào em cũng như vậy trong lớp và ngoài lớp, và khắp mọi nơi. Mỗi khi thầy dạy nhìn em, nghĩ tới em hay nói với em, đều cảm nhận từ nơi em một ấn tượng tuyệt vời và vui sướng. Đó là một cái gì đó mà một vị thầy có thể coi là sự đền bù thân ái nhất cho những khó nhọc gian khổ mình thường phải chịu để đào tạo một cách vô bổ những tâm hồn cằn cỗi và bướng bỉnh của một số học trò. Do đó, tôi có thể nói là em xứng với tên Saviô “bé khôn, bé ngoan” của mình, và vẫn luôn tỏ ra như thế bằng hành động, nghĩa là trong học hành, trong lòng đạo, trong khi chuyện trò cùng bạn hữu và trong mọi việc em làm. Từ ngày đầu tiên em nhập trường của tôi cho đến cuối năm học và bốn tháng của năm sau đó, em tiến bộ cách phi thường trong việc học hành. Em luôn được chỗ nhất trong lớp học của em và đáng những bằng khen khác trong toàn trường; hầu như luôn luôn em được điểm cao nhất trong tất cả các môn học mà người ta dần dần dạy cho em. Kết quả tốt về học hành như vậy không chỉ là do thiên tư ngoại thường của em, mà còn do lòng yêu thích học hành và nhân đức tuyệt độ của em.

“Đáng cảm phục cách riêng là sự chăm chỉ của em trong việc chu toàn các bổn phận nhỏ nhặt nhất của người học sinh Kitô hữu và cách riêng là sự kiên trì và đều dặn của em trong việc đi đến trường. Quả vậy tuy sức khỏe yếu em lại phải đi mỗi ngày 4 cậy số đường dài, cả thảy đi về mỗi ngày. Thế mà em thi hành với tâm hồn bình tĩnh và vẻ mặt thanh thản đến kỳ lạ, dù trong mùa đông giá buốt, dưới mưa và tuyết rơi, đó là điều khiến thầy giáo em không thể không nhận ra một chứng ta và gương sáng hiếm quý và đáng khen thưởng. Cậu học sinh xứng đáng này đã đau ốm niên khóa 1852-1853, và cha mẹ em phải thay đổi liên tục chỗ ở, khiến tôi thật hối tiếc là không thể tiếp tục đứa học trò thân yếu rất mực như thế nữa. Những hy vọng thật lớn lao và thật tươi đẹp về em lại bị tiêu tán đi bởi những nỗi sợ ngày càng lớn tôi cảm thấy cho em, là em sẽ không thể tiếp tục học hành được nữa do thiếu sức khỏe hay thiếu tiền bạc[22].

Lời tâm niệm

Một học sinh dễ mến, một em bé đạo đức, một người bạn thân ái, được thầy yêu bạn quí. Đó là lời kết luận về một năm bốn tháng học hành của Đaminh Saviô tại trường Castelnuovo.

Nhưng cũng rất đáng lưu ý thái độ khôn ngoan của Đaminh Saviô: yêu mến mọi người, giúp đỡ mọi bạn, nhưng không kết du với bạn xấu, chỉ chơi thân với các bạn tốt.

Nét đặc biệt nữa là chăm chỉ học hành và lòng can đảm tới trường bất chấp trời nắng, mưa, tuyết…

Nhân đức của một con người chứng tỏ là có thực, thì cần được thử luyện. Và Đaminh Saviô đã chứng tỏ được điều đó. Giáo dục cần tới sự can đảm rèn luyện bản thân mình.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Saviô cư xử với các bạn hữu thế nào?

- Em yêu mến và giúp ích mọi người, nhưng biết xa lánh bạn xấu và kết thân với bạn tốt.

  • Nét đẹp nơi tâm hồn Saviô biểu lộ thế nào?

- Em nghiêm trang, nhưng thật dịu dàng, thân ái.

  • Saviô kiên trì thực hành nhân đức thế nào?

- Em chăm chỉ học hành, chẳng ngại đường xá, bất chấp nắng mưa, giá lạnh, em cuốc bộ hằng ngày 18 cây số để đi học.

 

Chương 6: Saviô theo HỌC TẠI TRƯỜNG MONDONIO

Trường học Mondonio 

Có vẻ như Chúa quan phòng muốn cho cậu bé này thấy thế gian là chốn đầy ải, nơi ta phải hành trình hết chỗ này qua chỗ khác; hay đúng hơn, Ngài muốn cậu bé được nhiều thôn làng biết tới để tỏ ra tại nhiều nơi như tấm gương tuyệt vời về nhân đức.

Cuối năm 1952 (các nhà truyện ký hiệu nay ước tính chính xác là vào các tháng đầu của năm 1853), cha mẹ em bỏ Murialdo đến lập cư tại Mondonio[23], một thôn nhỏ gần Castelnuovo. Tại đó, câu tiếp tục gương sống như đã thi hành ở Murialdo và ở Castenuovo; bởi đó cha phải nhắc lại những chuyện các thầy cũ của Saviô đã viết về em, như cha Cugliero chẳng hạn đã tả lại, cũng na ná giống như chuyện chúng ta  vừa kể. Cha chỉ kể ra đây một ít nét đặc biệt thôi, để tránh phải lập đi lập lại[24].

Ngài viết: “Tôi dám nói là suốt hai mươi năm tôi lo dạy trẻ em, tôi không có trò nào sánh bằng Saviô trong lòng đạo đức. Em còn bé về tuổi tác, nhưng đã sâu đậm ngay tầm người hoàn hảo. Sự chuyên cần, chăm chỉ của em với việc học hành, cũng như vẻ dễ mến cuốn lôi tình thương mến của thầy và biến em nên niềm vui của bạn hữu. Khi tôi nhìn ngắm em ở nhà thờ, tôi hêt ý sức lạ lùng thấy cậu bé tuổi còn thơ như vậy, mà biết cầm lòng cầm trí đến thế. Nhiều lần tôi nhủ thầm: - Đấy đúng là một tâm hồn vô tội, đã được mở ra đón trọn niềm hạnh phúc của thiên đường, và với những tình cảm mến nó có, nó đi đến ở với các thiên thần trên trời”.

 

Một vụ vu khống nghiêm trọng.

Giữa các chuyện đặc biệt, cha Cugliero thầy dạy xưa của Saviô đã ghi lại chuyện sau:

“Một hôm giữa các học trò của tôi có xảy ra một lỗi phạm nghiêm trọng đến nỗi kẻ có lỗi đáng bị đuổi khỏi trường (lỗi nghịch ngợm đó là chuyện mấy học trò lấy tuyết và đá đút đầy vào lò sưởi). Các kẻ phạm lỗi đề phòng lỗi lầm của mình khỏi bị thầy phát giác, đã đến tìm thầy và đồng lòng đổ lỗi cho bé Đaminh tốt lành. Tôi không thể tin được là Saviô có thể gây rối loạn đến mức ấy; nhưng kẻ tố cáo đã biết tô mầu sự thật cho lời tố cáo khiến tôi buộc phải tin. Vậy tôi vào lớp, rất bực tức vì sự rối trật tự xảy ra; tôi nói với thủ phạm cách chung chung rồi nói thẳng với Saviô như sau: - Lỗi này lại cần là phải chính con phạm sao? Con không đáng cha đuổi con ngay lập tức khỏi trường sao? May mà đây là lần đầu tiên con phạm như thế, nếu không… con liệu đấy để là lần cuối cùng thôi đấy!. - Đaminh đáng lẽ chỉ cần nói một lời minh oan, là sự vô tội được sáng tỏ. Nhưng cậu bé đã im lặng: cậu cuối đầu xuống ra dấu mình nhận lời quở phạt là chí lí, và không ngẩng mặt lên nữa[25].

Nhưng Thiên Chúa bảo vệ kẻ vô tội. Hôm sau các thủ phạm đích thực được khám phá, và Đaminh được sáng tỏ là vô tội. Rất ân hận vì các lời quở mắng đã dành cho kẻ bị nghi oan là thủ phạm, tôi mới nói:

- Này Đaminh, tại sao con đã không nói ngay là con vô tội? Đaminh trả lời: - Bởi vì bạn ấy đã mắc những lỗi lầm khác nữa, nên có thể bị đuổi khỏi trường; còn con, con hy vọng sẽ được tha thứ, vì đấy mới chỉ là lỗi đầu tiên con bị tố cáo tại trường: hơn nữa, con đã nghĩ là ngay Chúa Cứu Thế cũng đã từng bị vu khống cách bất công.

“Sau đó, em im lặng, nhưng tất cả đều ngưỡng mộ sự kiên nhẫn của Saviô, người đã biết lấy lành báo ác, sẵn lòng chịu đựng ngay cả hình phạt nặng nề để cho chính kẻ vu khống mình được gặp điều may”. Thế là hết lời kể của Cha Cugliero, thầy dạy của em.

Lời tâm niệm

Nhân đức được thử luyện mới đáng kể. Giáo dục là phải dạy người ra biết thi hành nhân đức.

Hơn nữa, ở đây Saviô đã thi hành các nhân đức khiêm nhường chịu sỉ nhục cách bất công, yêu mến bạn hữu và yêu mến cùng bắt chước Chúa.

Khoa giáo dục Don Bosco đề nghị ở đây, qua câu chuyện này, quả rất thực tế, và bắt nguồn từ lòng yêu mến Chúa.

 

Các câu 'Hỏi-Thưa'

  • Nơi định cư cuối cùng của gia đình Saviô ở đâu?

-  Đó là Mondonio nơi Đaminh Saviô lên 10 tuổi, tiếp tục theo học.

  • Saviô bị vu oan ra sao?

-  Saviô bị vu oan đút tuyết và đá vào lò sưởi, và cúi đầu chịu tội vì thương bạn hữu mình.

  • Saviô có những tâm tình nào trong sự việc này?

-  Cậu khiêm nhường, thương bạn, yêu mến và muốn bắt chước Chúa đã từng bị vu oan và chịu chết vì chúng ta.

 

Chương 7: SAVIÔ GẶP DON BOSCO LẦN ĐẦU TIÊN

Lần gặp gỡ đầu tiên của Cha với Đaminh Saviô

Các chuyện Cha sắp kể đây, Cha có thể nói với chúng con cách chi li, vì hầu như chúng xảy ra trước mắt Cha, và hơn nữa hầu như chúng đều xảy ra giữa vô vàn các bạn trẻ, và ai cũng đồng lòng quả quyết như vậy.

Vào năm 1854, Cha Cugliero vị linh mục chúng ta vừa nói đến, nói với Cha về người học sinh rất đáng để ý về lòng đạo đức này. Ngài nói: “Tại đây, nơi nhà của Cha, có thể có những học sinh xứng đáng như vậy, nhưng sẽ khó có ai vượt trổi em này về tài năng và nhân đức. Cha cứ gặp em thử đi, và Cha sẽ gặp thấy một thánh Lu-y mới.” Vậy Cha thỏa thuận với ngài là ngài gửi em bé ấy đến với Cha tại Murialdo, vào dịp Cha vẫn tới đó cùng với các trẻ em của nhà nguyện xá của Cha, để cho chúng thưởng thức tí cảnh miền quê, và đồng thời cử hành tuần chín ngày và Đại lễ Đức Mẹ Mân Côi rất thánh[26].

Hôm đó là sáng sớm thứ hai đầu tháng mười, Cha thấy một em bé được bố dẫn tới nói chuyện với Cha. Gương mặt hoan hỉ, vẻ tươi cười, nhưng lễ phép như có nam châm khiến Cha phải đưa mắt nhìn.

- Con là ai? Cha hỏi: Con từ đâu đến?

Em trả lời:

- Con là Đaminh Saviô, mà thầy giáo của con là Cha Cugliero đã nói với Cha, và chúng con đến từ Mondonio.

 

Cha liền kéo em ra riêng  một nơi, và nói chuyện về việc học hành của em, về cuộc sống của em cho đến hôm nay. Hai Cha con lập tức tín nhiệm nhau, Saviô với Cha và Cha với Saviô.

 

Các câu chuyện rất lạ trong bối cảnh này

Cha biết có nơi em nhỏ này một tâm hồn hoàn toàn theo tinh thần của Chúa, và cha ngạc nhiên không ít khi nhận thấy việc mà ơn thánh Chúa đã tác động ở nơi một cậu bé còn quá trẻ như thế này[27].

Sau câu chuyện khá dài, trước khi gọi người bố tới, Saviô nói với cha các lời y hệt như sau:

Vậy cha thấy thế nào? Cha sẽ con đưa về Tôrinô để học chứ?

- Ồ, cha nghĩ là có một tấm vải tốt đấy?

- Tấm vải đó có thể dùng để làm gì?

- Để làm một chiếc áo đẹp kính dâng Chúa.

- Vậy con là tấm vải, còn cha là người thợ may, vậy cha hãy đem con đi với cha và làm nên chiếc áo đẹp cho Chúa.

- Cha sợ sức khỏe yếu ớt của con không chịu được việc học hành.

- Cha đừng sợ chuyện đó; Chúa Đấng đã cho con sức khỏe và ơn sủng cho tới bây giờ, cũng sẽ giúp cho con tương lai.

- Nhưng khi con đã học la-tinh xong, con muốn làm gì?

- Nếu Chúa ban cho con đủ ơn, con hết lòng khao khát ôm ấp đời giáo sĩ[28]. Được, bây giờ cha thử xem con có đủ khả năng học hành không đã. Con hãy cầm cuốn sách nhỏ này, đó là một cuốn báo nhỏ bạn đọc công giáo do cha viết. Hôm nay con hãy học trang sách này[29]. Mai con sẽ trở lại đọc thuộc lòng cho cha nghe.

Nói xong, cha để em tự do chạy nhảy với các bạn trẻ khác, rồi cha bắt đầu chuyện vãn với bố của em. Chỉ mới tám phút trôi qua, Đaminh đã tươi cười tiến lại và nói với cha:

- Nếu cha muốn, con xin đọc bây giờ trang sách của con.

Cha cầm lấy cuốn sách và ngạc nhiên nhận thấy rằng em không chỉ học thuộc từng chữ trong trang sách cha đã chỉ, mà còn hiểu rõ ý nghĩa của những chữ trong đó.

- Tốt lắm, cha nói với em. Con đã đọc trước bài học cha chỉ cho con học, thì cha cũng sớm trả lời cho con ngay. Được, cha sẽ đưa con về Torinô; và bắt đầu từ bây giờ con  được kể vào số các con thân yêu của cha; ngay từ bây giờ con hãy bắt đầu cầu xin Thiên Chúa, để Ngài giúp cha và con làm theo thánh ý của Ngài.

Không biết làm sao diễn tả được nỗi niềm bằng lòng và biết ơn của mình, em đã cầm tay cha, siết chặt và hôn nhiều lần để chào cha, và nói:

- Con hy vọng sẽ sống sao để không bao giờ khiến cha phải than phiền về hạnh kiểm của con.

 

Lời tâm niệm

Giáo dục là cộng tác và phát huy công việc kỳ diệu mà ơn thánh Chúa đã tạo nên nơi tâm hồn con người? Đó là quan niệm chân chính nhất của nền giáo dục Kitô giáo mà Don Bosco là người đại diện có thế giá.

Bạn hãy cộng tác với ơn thánh Chúa nơi bạn, đừng từ chối ơn Chúa và để ơn Chúa ra vô ích. Bạn sẽ bắt đầu sai, hoàn toàn sai, nếu bạn không giúp các em thiếu nhi cộng tác với ơn thánh Chúa để thực sự nên tốt hơn. Làm thể khác là kiêu ngạo và phải gánh lấy thấy thất bại. Một công việc giáo dục tốt là làm cho người ta nên thánh như ơn của chúa!

Các câu 'Hỏi-Thưa'

  • Tình cảm đầu tiên giữa Don Bosco và Đaminh Saviô như thế nào?

- Vừa gặp và nói chuyện, hai cha con lập tức tín  nhiệm nhau, cha với Saviô với cha.

  • Ngay từ lúc ban đầu đó, Don Bosco nhận thấy gì nơi Saviô ?

- Cha ngạc nhiên không ít khi thấy công việc mà ơn thánh Chúa đã tạo nên nơi cậu bé còn quá trẻ này.

  • Đaminh xin Don Bosco làm gì cho mình?

- Con là tấm vải, còn cha là người thợ may. Vậy cha hãy đem con đi với cha và làm con nên một tấm áo đẹp cho Chúa!

 

CHƯƠNG 8: SAVIÔ ĐẾN NGUYỆN XÁ

THÁNH PHAN-XI-CỎ SA-LẺ

 

Tuổi trẻ nay thế này mai thế khác lộ rõ đặc điểm của nó là hay thay đổi ý định xoay quanh điều nó muốn; bởi thế chẳng hiếm khi xảy ra là ngày nay các trẻ quyết định một chuyện, mai lại chuyện khác; hôm nay ta thấy một nhân đức được thực hành ở mức cao vời, mai lại ngược hẳn lại; và nếu không có ai ở đó chăm chú theo dõi, thì một nền giáo dục đáng lý có thể đạt tới thành công thật mỹ mãn thì lại rơi vào một kết quả thật tồi tệ. Nhưng với Đaminh Saviô thì không như thế. Tất cả những nhân đức, mà chúng ta đã thấy phát sinh và lớn lên nơi các giai đoạn khác nhau của cuộc sống của em, thì mỗi lúc mỗi tăng trưởng cách kỳ diệu và chúng tăng trưởng cùng với nhau, không có nhân đức nào lại tác hại tới nhân đức khác.

Tới nhà Nguyện Xá[30]. Đaminh Saviô vào gặp Cha trong phòng để như em nói, phó thác hoàn toàn bản thân trong tay các bề trên của mình. Mắt em lập tức nhìn vào một tấm bảng viết bằng chữ lớn các lời sau đây vẫn được thánh Phanxicô Salê thường xuyên nhắc đến: Da mihi animas, cetera tolle. Cha cho em đọc cách chăm chú và ước mong em hiểu ý nghĩa câu ấy. Do đó cha mời gọi em, hơn thế còn giúp em dịch để tìm ra ý nghĩa của nó: Lạy Chúa, xin cho con các linh hồn, và xin Chúa cất đi các sự khác. Em ngừng lại một lúc rồi nói:

- Con đã hiểu; ở đây không có chuyện buôn bán tiền bạc, mà buôn bán các linh hồn, con hiểu ra rồi; con hy vọng linh hồn con cũng có phần trong chuyện buôn bán này.

Cuộc sống ban đầu tại đó

Suốt một thời gian em sống rất bình thường. Người ta không ngưỡng mộ gì nơi em ngoại trừ sự tuân giữ chính xác luật nhà. Em quyết tâm chăm chỉ học hành. Em nhiệt tình tham gia vào mọi bổn phận của em. Em lắng nghe cách sung sướng các bài giảng. Em ghi sâu trong lòng rằng lời Chúa là hướng đạo viên của con người trên con đường về trời; bởi đó, mỗi châm ngôn mà em được nghe trong phần bài giảng đều được ghi sâu vào lòng em và em không bao giờ quên cả[31].

Các lời huấn đức, các bài giáo lý, các bài giảng dù có dài đến đâu, vẫn luôn là niềm thích thú đối với em. Nếu có nghe điều chi chưa hiểu rõ, em lập tức đi hỏi nghĩa. Đó là khởi đầu của một đời sống gương mẫu, gồm sự tiến bộ từ nhân đức này sang nhân đức khác, sự chu toàn chính xác các bổn phận, khiến khó ai có thể làm hơn được.

Để học biết các điều luật và kỷ luật của nhà, em lễ phép lại gần bất cứ bề trên nào đó; em hỏi ngài, xin sự soi sáng và các lời khuyên bảo, và khẩn khoản xin ngài thương nhắc bảo mỗi khi ngài thấy em lỗi phạm các bổn phận của mình.

Hạnh kiểm em thi hành giữa các bạn cũng rất gương mẫu. Thấy ai phóng túng, trễ nải trong các bổn phận hay chểnh mảng trong các việc đạo đức ư? Đaminh xa lánh bạn ấy. Còn nếu có một bạn gương mẫu, chăm chỉ, lo học hành,  được thầy khen ư? Bạn ấy lập tức trở nên bạn và người thân của Đaminh.

Ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm đã lại gần, Cha Giám đốc mỗi buổi chiều đều nói đôi lời khích lệ các bạn trẻ trong nhà, để mỗi người chuẩn bị cử hành lễ đó xứng với Mẹ Thiên Chúa cao cả; nhưng ngài nhấn mạnh cách đặc biệt là các em hãy xin cùng Đấng bảo vệ của trời cao này các ơn các em cảm thấy là cần hơn cả.

Đó là năm 1854. Các Kitô hữu khắp nơi trên thế giới sống như thể trong một bầu khí cuồng nhiệt thiêng liêng bởi vì người ta chuẩn bị công bố ở Rôma tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội. Và nay cha cũng muốn nhắc lại là cả nơi chúng ta nữa, chúng ta cũng làm hết sức mình để cử hành thánh lễ này với vẻ rực rỡ bên ngoài và với kết quả thiêng liêng cho các bạn trẻ của chúng ta.

Saviô là một trong các bạn hữu cảm thấy khát vọng phải cử hành đại lễ Mẹ cách thánh thiện. (Trong tuần 9 ngày, cha đã cho hết học sinh mỗi ngày một trong các hoa thiêng vào các dịp huấn đức tối: các hoa thiêng là các hành vi nhân đức để đem ra thực hành). Saviô viết lại 9 hoa thiêng đó, tức là 9 hành vi nhân đức để thực hành, và mỗi ngày rút thăm để lấy ra một hoa thiêng. Em chuẩn bị với và niềm vui của tâm hồn, em xưng tội chung, và em lên rước Chúa với tất cả tâm tình sâu lắng[32].

Chiều hôm ấy 8 tháng 12 năm 1854, sau khi xong các nghi thức thánh tại nhà thờ, qua lời khuyên của cha giải tội, Đaminh tới trước bàn thờ Đức Mẹ, tuyên lại lời hứa em đã làm vào dịp rước lễ lần đầu, rồi nói đi nói lại các lời sau:

- Lạy Mẹ Maria, con dâng cho Mẹ trái tim con. Xin làm cho nó luôn thuộc về Mẹ. Giêsu Maria, xin hãy luôn là bạn hữu của con! Xin thương để con chết còn hơn là để xảy ra nỗi bất hạnh là phạm tội mà thôi!

Ôn lại câu chuyện trên, hai mươi hai năm sau, ngày 18-11-1976. Don Bosco còn cảm kích nhắc lại:

“Cha vẫn còn nhớ, như ở ngay lúc này đây, khuôn mặt vui tươi của bé Đaminh Saviô thiên thần, ngoan ngoãn và tốt lành quá đỗi! Em đến cùng cha hôm trước tuần chín ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm. Em nói với Cha:

- Con biết là Đức Mẹ ban các ơn lớn lao cho ai làm tuần chín ngày Mẹ cách tốt đẹp.

- Vậy con muốn Mẹ làm gì cho con trong tuần 9 ngày này.

- Nhiều điều lắm, Cha.

- Những điều gì vậy?

- Trước hết con muốn xưng tội chung trọn đời con để chuẩn bị tâm hồn con cách đích đáng. Rồi con muốn thi hành chính xác các hoa thiêng mà Cha ban mỗi ngày trong tuần 9 ngày, từ chiều này sang chiều khác.

Hơn nữa con muốn sắp đặt bản thân con để được rước lễ mỗi sáng.

- Con không còn gì nữa sao?

- Có chứ. Con còn một điều nữa.

- Điều gì thế?

- Con muốn tuyên chiến chí tử với tội trọng.

- Còn gì nữa không?

- Con muốn cầu xin hết lòng với Mẹ rất thánh và Chúa để cho con thà chết không thà rơi vào một tội nhẹ nghịch với đức nết na.

 Cha liền cho em một tấm thiệp nhỏ để em viết các quyết định này. Em đã giữ được các lời em hứa, vì Đức Mẹ rất thánh giúp đỡ em”.

Khi em đã lấy Mẹ Maria làm cột trụ nâng đỡ lòng sốt mến của em, thì cuộc sống luân lý của em tỏ ra thật gương mẫu và đạt tới các hành vi nhân đức cao cả đến nỗi từ đó Cha bắt đầu ghi chú để không quên đi mất[33].

Sau khi miêu tả các hành động của cậu bé Saviô tới chỗ này rồi, Cha thấy mình đứng trước biết bao nhiêu sự kiện và nhân đức đáng chú ý một cách đặc biệt đối với cả Cha là người viết và cả các con là người đọc. Vậy để cho được trình bày rõ ràng hơn, Cha xét nên trình bày các sự việc không theo thứ tự thời gian, mà theo nét tương đồng của các sự kiện có liên lạc đặc biệt với nhau và liên quan đến cùng một vấn đề. Cha sẽ chia các sự việc ra thành các chương, bắt đầu với việc học la-tinh, là lý do chính khiến em đến và được nhận vào nhà Valdocco này.

Lời tâm niệm

Giáo dục có nhiều khía cạnh khác nhau. Ta thường hay nghĩ đến việc rèn luyện trí tuệ, thao luyện thể xác, tập luyện các đức tính, một tinh thần minh mẫn trong một thể xác tráng kiện”.

Don Bosco muốn việc giáo dục rèn đúc nên một vị thánh. Điều đó yêu cầu những gì?

- Một sự tiến bộ vững vàng, không chấp nhận sự đổi thay, nhẹ dạ của tuổi trẻ.

- Việc chu toàn chính xác các bổn phận và kỷ luật của đời sống.

- Sự vâng nghe các người trên chỉ dạy.

- Trên hết là lòng yêu mến Chúa Giêsu và Đức Mẹ, khiến người thanh thiếu niên xa lánh tội. Cách riêng là tội chống lại sự nết na, đạo hạnh. Trong một thế giới thiên về thể xác, một thanh thiếu niên trong sạch, ngời sáng là một tấm gương quí giá.

Chúng ta hãy đi theo lời hướng dẫn của Don Bosco, vị thầy đáng quí của tuổi trẻ.

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Saviô có giống các bạn trẻ khác là hay thay đổi không?

- Saviô không giống vậy. Các nhân đức muôn vẻ nơi Saviô cứ ngày một tăng triển hài hòa cùng với nhau.

  • Câu châm ngôn “Xin cho con các linh hồn, còn mọi sự khác xin Chúa cất đi” có ý nghĩa gì đối với Saviô?

- Con hiểu đây không phải là một chuyện buôn bán tiền bạc, mà là buôn bán các linh hồn, và linh hồn con cũng có phần trong chuyện buôn bán này.

  • Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm 1854 đánh dấu gì trong đời Saviô?

- Năm đó Đức thánh Cha tuyên bố “Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội”: Đaminh xưng tội chung và rước lễ sốt sắng, quyết tâm không phạm tội, nhất là tội lỗi đức nết na, và muốn mãi là bạn thân thiết của Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

 

Chương 9: CUỘC SỐNG SÔI NỔI CỦA ĐAMINH SAVIO
 BÊN DON BOSCO

Lớp học La-tinh- Hạnh kiểm tại trường- Những chuyện lạ

Saviô đã học căn bản Latinh tại Mondonio; do đó nhờ chuyên cần học hành và thiên tư ngoại thường, em đã sớm được lên lớp Latinh năm 2[34]. Em theo học nơi giáo sư Giuse Bonzanino người thầy đạo đức và bác ái; vào lúc đó, Nguyện xá Valdocco chưa có các lớp trung học như ngày nay. Ở đây Cha cũng phải nói lên sự gương mẫu của em bằng các lời của các thầy dạy em. Sau đó Cha chỉ nêu lên vài chuyện trong năm học Latinh đó, cách riêng là hai chuyện mà các người biết em đã ghi nhận với một niềm cảm phục đặc biệt. Giáo sư Bonzanino nhiều lần thú nhận là không nhớ có ai chăm chú, dễ bảo, lễ phép như cậu bé Saviô. Em nêu gương trong mọi sự. Áo quần, đầu tóc không hề đỏm dáng; nhưng trong bộ áo quần bình dị và trong nếp sống của người nghèo ấy, em rất ngăn nắp sạch sẽ, gia giáo, lễ phép, khiến cho các bạn em con nhà quí tộc hay lịch lãm theo học rất đông tại trường đó, đều sung sướng bầu bạn với Đaminh, không những vì em học khá và đạo đức, mà cũng vì lối cư xử lịch thiệp và đáng yêu của em. Nếu thầy thấy có trò nào hay nói chuyện, thì thầy cho Đaminh ngồi kề bên, và em sẽ khôn khéo tìm cách lôi kéo bạn ấy im lặng, chú tâm và hoàn thành tốt bổn phận của mình.

 

Ngăn cản một cuộc đánh nhau

Ngay năm ấy, đời sống của Đaminh hoàn thành một hành vi đáng gọi là anh hùng, khó mà tin là có được ở cái tuổi non trẻ ấy. Chuyện có liên quan tới hai bạn gây gỗ với nhau tới mức nguy hiểm. Cuộc cãi lộn bắt đầu với lời qua tiếng lại sỉ nhục gia đình của nhau. Sau những lời sỉ nhục, là những lời mạ lị và họ đi tới thách nhau dùng những cục đá để thắng lý nhau. Đaminh khám phá được chuyện bất đồng đó; nhưng làm sao có thể ngay cản được vì hai bạn khỏe hơn và lớn tuổi hơn? Em cố thuyết phục họ từ bỏ kế hoạch đó, cho họ thấy là sự thù hận ngược với lý trí và luật thánh của Thiên Chúa; em viết thư cho từng bạn đe dọa sẽ đem chuyện này nói với thầy dạy và cha mẹ của họ; nhưng tất cả đều vô ích. Ngoài mối nguy hiểm làm hại nặng nề đến mạng họ, họ còn liều xúc phạm lớn lao hơn đến Thiên Chúa.

Saviô ruột gan nóng bời, em muốn đối lại với họ mà không biết thế nào. Thiên Chúa gợi ý cho em làm như sau. Em đợi họ sau giờ lớp, để có thể nói chuyện riêng với cả hai[35]:

- Bởi các anh cứ ngoan cố bám lấy ý định đáng tởm của mình, tôi xin các anh ít là đồng ý cho tôi một điều kiện.

Họ trả lời:

- Chúng tôi đồng ý miễn là điều kiện cuộc thách đấu của chúng tôi.

- Nó là một thằng khốn nạn, một trong hai đứa lập tức lên tiếng - và đứa kia nói ngay: “Tôi không thể làm hòa với nó, cho tới khi một trong hai đứa chúng tôi bị bể đầu đã”.

Saviô run lên trước lời qua tiếng lại ác độc thế ấy; tuy vậy, vì ước ao ngăn cản điều tệ hại hơn, em đã ngừng lại và nói:

- Điều kiện tôi sắp đề nghị đây không ngăn cản các anh đánh nhau.

- Vậy đó là điều kiện nào?

- Tôi chỉ muốn nói ra điều kiện đó chính chỗ mà các anh muốn ăn thua đủ với nhau bằng những cục đá.

- Bạn sẽ chơi chúng tôi chứ gì, hay là bạn định giăng bẫy gài chúng tôi.

- Tôi sẽ ở với các anh, và tôi không chơi phá các anh; các anh cứ yên tâm.

- Thế bạn định đi gọi ai chứ gì?

- Đúng đáng lý tôi phải làm thế, nhưng tôi sẽ không làm đâu; nào chúng ta đi, tôi sẽ ở với các anh, chỉ xin các anh giữ lời mình đã hứa thôi.

Chúng liền hứa với Đaminh. Họ đi tới cánh đồng của thành cổ, ở ngoài Cổng Susa[36].

Hai đối thủ giận ghét nhau tới mức Saviô phải vất vả lắm mới có thể can ngăn họ khỏi đấm đá ẩu đả nhau trên quãng đường ngắn họ phải đi để đến chỗ hẹn.

Tới nơi đã hẹn, Saviô làm chuyện mà chắc chắn không có ai tưởng tượng nổi: Em để cho họ chia khoảng cách để đứng đối diện nhau; mỗi người cầm sẵn trong tay 5 viên đá, vào chính lúc Saviô lên tiếng.

- Trước khi các bạn thi hành cuộc thách đấu, tôi muốn các bạn hoàn thành điều kiện tôi đề nghị mà các bạn đã chấp nhận.

Nói đoạn, em rút ra tượng thánh giá nhỏ em vẫn đeo ở cổ, giơ cao lên rồi nói:

- Tôi muốn mỗi bạn đều nhìn thẳng vào Chúa chịu đóng đinh, để rồi, trong khi ném một viên đá vào tôi, bạn hãy dõng dạc nói các lời sau đây: “Chúa Giêsu Kitô vô tội đã chết khi tha thứ cho những kẻ đóng đinh Ngài, còn tôi kẻ có tội lại muốn xúc phạm đến Ngài và thực hiện một việc báo thù nghiêm trọng”.

Nói xong, em đến quỳ gối trước một bạn tỏ ra giận dữ nhất với lời:

- Bạn hãy bắt đầu với tôi đi. Bạn hãy ném viên đá nặng nhất vào đầu tôi.

Bạn này không hề chờ đợi một chuyện như thế, bắt đầu run cả người lên và nói:

- Không, không bao giờ. Tôi không có chuyện gì chống lại em và tôi sẵn sàng bảo vệ em nếu có đứa nào dám làm hại em.

Nghe như vậy, Saviô chạy sang bạn khác và cũng dùng những lời như trước. Bạn này cũng ngỡ ngàng và nói giọng run run rằng vì Saviô là bạn của mình, nên mình sẽ không bao giờ làm một chuyện gì không hay cho bạn.

Khi ấy Đaminh Saviô đứng lên, và nói với vẻ nghiêm nghị và cảm kích:

- Như các bạn nói: cả hai đều sẵn sàng liều thân vào nguy hiểm lớn lao để bảo vệ tôi, một người chỉ là tạo vật khốn nạn, nhưng các bạn lại không thể tha thứ cho một lời xúc phạm và bêu diễu tại trường học, để cứu linh hồn các bạn đáng giá máu của Chúa Cứu Thế, và các bạn sẽ dấn mình vào sự hư mất với tội này sao?

Nói xong, em im lặng, nhưng vẫn giơ cao Chúa chịu đóng đinh nơi tay.

Trước cảnh tượng bác ái và can đảm như thế, hai bạn đều bị thuyết phục. Vào lúc đó, một trong họ quả quyết, tôi quá xúc động; tôi thấy mình ớn lạnh, và tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng đã buộc một người bạn hữu tốt ấy là Đaminh Saviô phải dùng đến biện pháp cuối cùng để ngăn cản tội ác xấu xa của chúng tôi. Nhưng ít là vì muốn trao cho bạn một dấu chứng thiện chí, tôi đã vui lòng tha cho người đã xúc phạm đến tôi, và xin Saviô gợi ý cho tôi xem có linh mục kiên nhẫn và bác ái nào để cho tôi xưng tội: như thế, sau khi làm bạn với em Saviô trở lại, tôi được hòa giải với Chúa, Đấng mà tôi đã xúc phạm cách nặng nề bằng lòng ghen ghét và khát vọng trả thù của tôi.

Đây là một gương xứng để mọi bạn trẻ Kitô hữu bắt chước khi bạn ấy thấy xảy ra trước mắt mình một hành vi trả thù như thế, hay khi bạn bị kẻ khác xúc phạm, sỉ nhục một cách nào đó[37].

Nhưng trong chuyện này cái làm vinh dự đặc biệt nhất cho hạnh kiểm và đức ái của Saviô chính là sự im lặng Saviô luôn giữ liên quan tới những chuyện đã xảy ra. Và mỗi chuyện có lẽ sẽ hoàn toàn không ai biết tới, nếu chính những người đích thân tham dự không kể đi kể lại nhiều lần.

 

Tránh được một dịp nguy hiểm.

Việc đi đến trường rồi lại từ đó trở về nhà là một dịp rất nguy hiểm cho các bạn trẻ từ làng quê lên tỉnh, nhưng cho Đaminh Saviô thì đây là một dịp đích thực để thực thi nhân đức. Luôn luôn bền lòng thi hành lệnh của các bề trên, em đi học hay về nhà mà không bao giờ ngó ngang ngó ngửa, hay lắng nghe những chuyện không thích hợp với một Kitô hữu trẻ. Nếu em thấy một bạn nào đó dừng lại, chạy nhảy, ném đá, hay tới lui những nơi không được phép, có hôm em được rủ đi dạo không có phép, hôm khác em được bạn rủ bỏ học để đi chơi, nhưng em luôn luôn biết trả lời là không.

- Trò chơi đẹp nhất của tôi là làm các bổn phận của mình và nếu các anh là bạn hữu thật của tôi, các anh phải khuyên tôi chu toàn cách chính xác những bổn phận của mình, và đừng bao giờ lỗi các bổn phận.

Tuy nhiên, em chẳng may lại rơi vào tay một vài bạn thúc ép em cách khéo léo, đến độ Saviô ở mức sắp rơi vào cạm bẫy của họ. Em đã quyết định đi cùng họ và bỏ học ngày hôm đó. Nhưng sau khi đã đi với họ một quãng đường, em nhận ra mình đã rơi vào lời rủ rê xấu, nên rất hối hận, em gọi các bạn rủ rê người khác làm xấu như vậy lại và nói với họ;

- Này các bạn, bổn phận buộc chúng ta đi tới trường và tôi muốn đi tới đó; chúng ta làm những chuyện làm buồn lòng Thiên Chúa và các bề trên của chúng ta. Tôi ăn năn vì điều mình đã làm; nếu sau này các bạn còn khuyên tôi như thế, các bạn sẽ không còn là bạn tôi nữa.

Những người bàn này tiếp nhận lời cảnh cáo của người bạn Saviô thân yêu của họ. Họ đã đi tới trường và trong tương lai không còn tìm cách kéo Saviô ra khỏi bổn phận của mình. Cuối niên học, nhờ hạnh kiểm tốt và lòng bền bỉ hiếu học, em đáng được cho lên lớp trên với các bạn có điểm cao nhất. Nhưng sang năm học latinh thứ ba, sức khỏe Saviô xấu đi, nên bề trên xét tốt hơn để em theo lớp riêng ở tại nguyện xá, để có thể cho em điều kiện tốt hơn để an dưỡng, học hành và vui chơi[38].

Năm lên lớp cổ điển hay tu từ học năm I, Saviô có sức khỏe có vẻ khá hơn. Em được gởi đi học cùng vị giáo sư nổi tiếng, cha Mattheo Picco. Ngài đã nhiều lần nghe nói về những thiên tư của Saviô, nên ngài vui lòng nhận em làm học sinh miễn phí trong trường của ngài. Tại đó Saviô chứng tỏ là một trong số những học sinh giỏi được thừa nhận của thành phố chúng ta[39].

Saviô đã làm và đã nói nhiều điều đáng nêu gương trong năm thứ ba của trường latinh và năm thứ nhất của tu từ học; chúng ta sẽ từ từ trình bày khi kể lại các sự việc có liên quan tới em.

Lời tâm niệm

Lễ phép, ngoan ngoãn, thân ái, khiêm nhường, nhã nhặn, chu toàn chính xác các bổn phận của mình vì lòng mến Chúa: đó là con đường nên thánh của cậu bé Saviô.

Nhưng chúng ta tự hỏi những cố gắng của em là thực sự đến mức nào? Em có ý thức được các việc đó chăng?

Thế nhưng Saviô đã chứng tỏ tình yêu mến của em đối với Chúa và các bạn là chân chính, đến độ chỉ mới 13 tuổi đời, Saviô đã dám liều chết để cứu hai bạn thách đấu khỏi phạm tội và biết tha thứ cho nhau.

Saviô cũng có những cám dỗ của các bạn trẻ rủ rê nhau đi chơi thay vì đi học. Nhưng cậu bé cũng luôn cảnh tỉnh và khéo léo trở về với bổn phận và làm cho người khác trở về với bổn phận.

Không cần làm những việc anh hùng vượt quá tầm tay của chúng ta. Nên thánh chỉ bằng cách chu toàn mọi bổn phận hằng ngày vì lòng mến Chúa và anh em.

Chúng ta có sợ Don Bosco viết hay quá về Saviô chăng? Hai bằng chứng nhỏ cho ta thấy Don Bosco không nói quá.

Trước hết là những năm 1855-1856, Torino vẫn còn bị đe dọa vì cơn dịch hạch mới lại tái xuất hiện vào hè. Don Bosco lập hội tự giúp những người bị lây bệnh. Ngài còn lập một đội gồm một số em cầu nguyện để tránh lây bệnh. Trong đội này có cả Saviô. Saviô viết thư cho bố, bảo đảm rằng em sẽ không phải đi săn sóc người ốm, dù sau đó hai ngày chính em đi giúp một bà hấp hối vì bị dịch. Sau đây là lời lẽ của Saviô trong lá thư.

Bố rất mến.

Con có tin rất lạ để viết cho gia đình; nhưng trước hết con cho bố biết tin tức của con. Cám ơn Trời, con đến nay luôn khỏe, và con  được hưởng một sức khỏe hoàn hảo nữa là khác, con hi vọng bố và cả nhà cũng vậy; việc học của con ngày càng tiến bộ và Don Bosco ngày càng bằng lòng. Còn tin lạ là hôm nay con có thể ở với Don  Bosco cả một giờ. Những lần trước chỉ được có 10 phút thôi. Con nói với Don Bosco về nhiều chuyện, trong đó có cả chuyện về Hội cầu nguyện để Chúa bảo đảm cho khỏi nạn dịch. Don Bosco nói rằng bệnh dịch lại tái phát và nếu thời tiết không lạnh lại, thì nguy kịch lớn. Con cũng tham gia hội; và việc làm chỉ là để cầu nguyện thôi. Con cũng nói về em gái như nhà đã nói với con, và Don Bosco nói là cứ dẫn em đến nhà của Ngài ở Becchi dịp lễ Đức Mẹ Mân Côi, để xem kiến thức của em và phẩm chất của em.  Vậy ở nhà hiểu chứ. Sau hết con xin chào bố và cả nhà, chào cha Cugliero thầy dạy con, chào Surê Robinô và bạn con Đaminh Saviô Ranellô.

Con yêu của Bố

Đaminh Saviô

Liệu Saviô có hay kêu trách không? Đây là lời kể của cha Bonetti, vị linh hướng tương lai của tu hội Salêdiêng:

Dù chuyện tôi kể về Đaminh Saviô thiên thần không vinh dự gì cho tôi lắm, nhưng là để cho sự thánh thiện của cậu bé tuyệt hảo này được biết đến và để nêu gương cho các bạn khác.

Niên khóa 1856-1857, tôi là bạn học của Saviô, và vì tuổi lớn, nên được làm trưởng tốp, có nhiệm vụ coi 10 bạn cùng lớp đọc bài cả sáng lẫn chiều để cho điểm. Trong số các bạn của nhóm, có cả tâm hồn cao thượng của Đaminh Saviô. Em chăm chỉ nhất đến đọc bài với tôi. Em học bài rất thuộc, và khi vừa học xong, thì hết sức mau mắn đến xin trả bài. Nhưng tôi không sẵn lòng tiếp đón em, vì giờ để trả bài chưa đến, và em lại đến quá sớm. Nhưng em với vẻ dễ thương và nụ cười duyên dáng trên môi, lại nói khéo quá, khiến tôi dù đang bận chuyện mình cần làm cũng không chống cự nổi sự nài nẵng êm ái ấy và buộc phải nghe em trả bài. Nhưng em thường đọc một mình trước xa các bạn khác, nên tôi không lo ghi điểm ngay, đợi mãi sau này một đàng quên điểm thật của Saviô, một đàng vì nghiêm khắc nên điểm bài của em Saviô, tôi cho không đúng với điểm em đã xứng đáng qua việc trả bài của em.

Một hôm có mình tôi thôi, em Saviô mới nói đến chuyện bài học. Em nói rất dịu dàng; mình tin rằng mình đã luôn trả bài rất thuộc; nhưng tình cờ được thấy sổ điểm, mình mới thấy trái lại. Nói xong, em vội chuyển sang chuyện khác. Những lời trên của Saviô, người bạn chăm chỉ và học giỏi nhất trong số các bạn, khiến tôi phải hồi tâm suy xét lại, bởi vì Saviô luôn đáng được điểm cao nhất. Tôi rất cảm phục Saviô vì bạn chỉ trao đổi rất nhẹ nhàng như vậy, và tôi quyết tâm làm bổn phận của tôi tốt hơn.

Tuy bạn Saviô biết điểm bài tôi cho bạn ấy chẳng làm vinh dự cho bạn là bao nhưng bạn không hề hé răng cho các bạn khác để đòi hỏi sự công bằng, và chắc chắn bạn cũng chẳng nói chuyện ấy với tôi, nếu không phải vì sợ rằng các bạn khác sẽ vấp phạm vì bởi bạn nghĩ rằng Saviô cũng học ít và không làm tốt bổn phận của mình.

Don Bosco trình bày cho ta một sự thánh thiện của tuổi trẻ hệ tại ở việc chu toàn bổn phận vì lòng mến Chúa và với biết bao niềm vui thân ái.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Sự thánh thiện Saviô tỏ lộ thế nào?

-  Saviô thân ái, nết na, khiêm cung, sạch sẽ, ngăn nắp và giúp đỡ các bạn nên tốt vì lòng mến Chúa.

  • Trong một trận quyết tử của đôi bạn, Saviô đã làm gì?

-  Saviô không tố cáo chuyện đó với ai, chỉ xin họ thi hành một điều kiện Saviô sẽ cho họ biết tại chỗ quyết đấu; em tự hiến để họ hả cơn giận của họ. Bằng cách ném viên đá đầu tiên vào em, và giơ cao thánh giá cho họ biết Chúa Giêsu đã chuộc tội linh hồn họ bằng giá máu của mình, linh hồn mà giờ đây họ làm cho ra hoen ố bằng tội báo thù.

  • Đi học xa nhà, Saviô có theo lời rủ rê của các bạn xấu không?

-  Không bao giờ. Dù có khi đã chấp nhận bỏ học đi một quãng với họ. Saviô đã hối hận và quyết tâm từ chối và yêu cầu họ hãy nên tốt hơn.

 

CHƯƠNG 10: QUYẾT ĐỊNH NẺN THÁNH

CHA BOSCO CHO TÔI BÍ QUYẾT NÊN THÁNH

 

  • Luôn luôn vui tươi
  • Chu toàn bổn phận
  • Gặp Chúa Giêsu mỗi ngày
  • Giúp đỡ các bạn hữu

 

Quyết định nên thánh

Sau khi đã kể qua về việc học của Saviô trong lớp latinh, bây giờ chúng ta hãy nói về quyết định nên thánh của em.

Sáu tháng đã trôi qua kể từ khi Saviô vào nguyện xá. Khi có một bài giảng ở đó về cách thức dễ dàng để làm thánh, vị giảng thuyết ngừng lại để triển khai ba tư tưởng đã gây ấn tượng sâu xa nơi tâm hồn Saviô. Đó là ‘Ý của Thiên Chúa là chúng ta tất cả phải làm thánh: đạt được điều đó là một chuyện dễ: Chúa dã chuẩn bị một phần thưởng lớn lao trên trời cho ai làm thánh”[40].

Bài giảng này đối với Đaminh giống như là tia lửa đốt cháy trái tim bằng tình yêu Thiên Chúa. Em không nói gì  cả suốt vài ngày, có vẻ vui hơn thường lệ, đến nỗi các bạn và cha cũng nhận xét thấy. Cho rằng đó là vì những trắc trở mới về sức khỏe, cha mới hỏi xem em có đau vì bịnh gì không. Em trả lời

- Đúng hơn, con chịu đau vì một việc thiện.

- Con muốn nói sao?

- Con muốn nói là con cảm thấy một ước vọng và một nhu cầu làm cho con nên thánh; con đâu có tưởng có thể làm cho mình nên thánh cách dễ như vậy; nhưng bây giờ con đã hiểu là con có thể làm được chuyện ấy cả trong khi vẫn sống vui vẻ, nên con muốn cách tuyệt đối và có cần một cách tuyệt đối là nên thánh. Vậy cha hãy nói con phải tự hành xử thế nào để bắt đầu công việc ấy.

Cha ca ngợi ý định này, nhưng cha khích lệ em đừng lo lắng vì trong sự xáo động của tâm hồn ta không thể nhận biết được tiếng Chúa; vậy cha muốn chuyện đầu tiên em phải làm là một niềm vui bền bỉ và chừng mực; và cha khuyên em hãy kiên trì trong việc hoàn thành các bổn phận đạo đức và học hành, cha căn dặn em đừng bỏ tham dự trò chơi với các bạn.

Một hôm cha nói với em là muốn cho em một món quà em thích; nhưng ý của cha là chính em đứng ra chọn. Em trả lời ngay:

- Món quà con xin là xin cha làm cho con nên thánh. Con muốn hiến trọn thân con cho Chúa và vĩnh viễn cho Chúa, và con cảm thấy có nhu cầu phải nên thánh, và nếu con không làm thánh, con sẽ không làm nên gì cả. Thiên Chúa muốn con làm thánh, và con phải làm cho mình nên được như thế[41].

Trong một dịp[42], cha giám đốc muốn cho một dấu yêu thương đặc biệt cho các trẻ của nhà nguyện xá, và cho phép chúng được xin bất cứ điều gì ngài có thể làm được bằng cách viết cho ngài vào một tờ giấy. Do đó ta có thể dễ dàng tưởng tượng những giấy xin kỳ quặc và tức cười mà các em khác đã làm. Saviô thì viết duy nhất lời này trên một tờ giấy nhỏ:

- Con xin cha cứu linh hồn con và làm cho con nên thánh.

Một hôm cha cắt nghĩa vài lời theo chữ gốc. Vậy em hỏi cha:

- Thế Đaminh có nghĩa là gì?

- Đaminh có nghĩa là “của Chúa”.

Em nói ngay:

- Cha thấy đấy, con có lý để xin cha làm cho con nên thánh: ngay cả cái tên cũng nói con là của Chúa. Vậy con phải và con muốn hoàn toàn là của Chúa và con muốn làm cho mình nên thánh, và con sẽ bất hạnh bao lâu con sẽ không là thánh.

Nỗi cuồng nhiệt em tỏ ra muốn làm cho mình nên thánh không đến từ chuyện em không có một đời sống hoàn toàn của một người thánh. Nhưng em nói vậy là bởi vì em muốn làm việc đền tội nhiệm nhặt, muốn qua nhiều giờ để cầu nguyện, là những chuyện mà cha giám đốc của em cấm em, vì chúng không hợp với tuổi và sức khỏe cũng như những công việc của em[43].

 

Lời tâm niệm

Thật dễ dàng để tất cả mọi người phải làm thánh, là hoàn toàn thuộc về Chúa. Đó là tiếng nói hoàn toàn của riêng Don Bosco nói cho các bạn trẻ. Và tất nhiên, với Don Bosco, đó phải là làm thánh trong sự vui vẻ. Chẳng phải là lối sống  dễ dãi, hời hợt, mà là một niềm vui loại trừ nỗi sầu thảm. Hơn nữa, ý tưởng làm thánh nơi Don Bosco nhằm đến loại bỏ các phương tiện cứng cỏi và phá hoại sức khỏe. Và chỉ cần bằng lòng sử dụng các phương tiện khác hợp với tuổi, sức khỏe và công việc của mình.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Don Bosco giảng cho các bạn trẻ là phải làm thánh như thế nào?

Ý của Thiên Chúa là chúng ta tất cả phải làm thánh. Đạt được điều đó là chuyện dễ. Chúa đã chuẩn bị một phần thưởng lớn lao trên trời cho những ai làm thánh.

  • Saviô đáp lại gợi ý của Don Bosco thế nào?

Con có lý để xin cha làm cho con nên thánh. Tên con có nghĩa là của Chúa. Con phải và con muốn hoàn toàn là của Chúa và làm cho mình nên thánh.

  • Theo Don Bosco phải nên thánh bằng cách nào?

Sống vui vẻ chu toàn bổn phận vì lòng mến Chúa và sống đạo đức và chỉ làm những gì hợp với tuổi, với sức khỏe và công việc của mình.

 

Chương 11: LÒNG NHIỆT THÀNH CỨU CÁC LINH HỒN

Chuyện thứ nhất em được khuyên để làm thánh là hết sức chinh phục các linh hồn về cho Thiên Chúa, bởi vì chẳng có gì thánh thiện hơn ở trên thế gian này cho bằng việc cộng tác vào thiện ích cho các linh hồn mà Chúa Giêsu đã đổ máu châu báu cho đến giọt cuối cùng để cứu lấy[44]. Saviô biết được việc thực hành này rất quan trọng, và người ta nghe em thốt lên nhiều lần:

- Nếu tôi chinh phục được tất cả các bạn hữu tôi về cho Thiên Chúa, tôi sẽ sung sướng biết bao.

Nên trong suốt thời gian chờ đợi, em không để thoát một dịp nào để khuyên nhủ, cảnh giác những ai đã nói hay làm các điều nghịch với luật thánh của Thiên Chúa.

Điều làm em kinh tởm hơn cả và báo hại không ít cho sức khỏe của em là lời nguyền rủa phạm thượng, hay là nghe nhắc đến danh thánh Chúa một cách vô lối. Nếu có khi nào trên các đường phố hay ở nơi đâu mà em lại nghe được những lời như thế, em lập tức cúi đầu, lòng đầy đau đớn và thốt lên với cả tấm lòng sốt mến: ngợi khen Chúa Giêsu Kitô.

Một hôm một bạn đi qua công trường thành phố thấy Saviô cất mũ và thì thầm đọc vài lời, bạn ấy liền hỏi:

- Cậu làm gì thế, cậu nói gì thế?

- Cậu không nghe sao? Saviô trả lời. Người đánh xe kia kêu đến tên Thiên Chúa cách vô cớ. Nếu tớ thấy có kết quả, tớ đã chạy lại để nhắc nhở ông ta đừng làm thế bao giờ nữa; nhưng sợ rằng làm thế ông ta lại còn nói những chuyện tệ hơn nên tớ tự giới hạn mình ở việc cất mũ và nói” ngợi khen Chúa Giêsu Kitô”. Và như vậy để đền bù đôi chút sự sỉ nhục họ đã xúc phạm đến danh Chúa.

Bạn kia cảm phục thái độ và lòng can đảm của Đaminh và nay vẫn còn kể lại cách vui vẻ giai thoại này để tôn vinh bạn Saviô và làm gương cho các đồng bạn[45].

(Saviô can đảm chứ. Nếu em chạy lại nhắc nhở người đánh xe, em vẫn có thể liều lãnh cú tát của ông ta như chơi)

Một lần đi học về, em nghe ông kia khá lớn tuổi nói một lời phạm thượng đáng ghê tởm. Người bạn Đaminh của chúng ta run lên khi nghe tiếng đó; em ngợi khen Thiên Chúa trong lòng mình, rồi làm một chuyện quả là đáng ngưỡng mộ. Với vẻ kính trọng em chạy lại với cái người nói phạm thượng mà không biết gở miệng kia và xin ông ta chỉ đường về nhà nguyện xá thánh Phanxicô Salê. Trước vẻ dễ thương thiên đường ấy, ông kia chút bỏ ngay vẻ hung dữ đi và nói.

- Bác không biết, cháu bé yêu quí ạ, bác tiếc quá.

- Ô, nếu bác không biết con đường về ấy, bác có thể ban cho cháu một ân huệ.

- Cháu cứ nói , bác sẵn lòng.

Saviô ghé sát tai ông ta, nói thật khẽ để người khác không nghe:

- Bác ơi, bác sẽ làm cháu sung sướng lắm nếu khi bác giận dữ, bác nói lên những lời khác mà không xúc phạm đến danh thánh Chúa.

- Tốt quá, ông kia trả lời, với vẻ rất đỗi ngạc nhiên và cảm phục; đúng, cháu có lý: đây là một tật xấu đáng nguyền rủa mà bác quyết lướt thắng bằng bất cứ giá nào.

Một hôm có một em bé 9 tuổi cãi nhau với bạn bên cửa nhà và trong cuộc tranh tụng, nó kêu đến tên đáng kính thờ của Chúa Giêsu Kitô. Khi nghe vậy, Saviô dù cảm thấy nỗi bực tức trong lòng mình, nhưng với tâm hồn êm ái, tới với hai đứa đang cãi lộn và làm dịu chúng; em nói với bạn vừa kêu danh Chúa vô cớ:

- Em hãy đi với anh và em sẽ bằng lòng.

Cử chỉ dịu dàng của Saviô làm cho em nhỏ kia bị chinh phục. Saviô dắt tay em và đưa em vào nhà thờ, tới trước bàn thờ, đặt em bé quì xuống bên mình và nói:

- Em hãy xin Chúa tha thứ lỗi phạm em đã phạm đến Ngài khi kêu danh Chúa vô cớ.

Nhưng vì em bé này không thuộc kinh ăn năn tội nên Saviô đọc kinh ăn năn tội với em.

- Em hãy nói lời này với anh để đền bù sự xúc phạm đến Chúa Giêsu Kitô: ngợi khen Chúa Giêsu Kitô, xin cho danh thánh và đáng kính thờ của Chúa được ca ngợi luôn mãi.

Em năng đọc truyện các vị thánh đã làm việc cách đặc biệt cho phần rỗi các linh hồn. Em thích nói về các vị truyền giáo lao nhọc tại những nước xa xăm vì phần ích của các linh hồn, và vì không thể gửi tới cho họ các trợ giúp vật chất, em dâng mỗi ngày cho Chúa vài kinh nguyện, và ít là một lần trong tuần em chịu lễ cầu nguyện cho họ.

Nhiều lần chính cha nghe thấy em thốt lên:

- Có biết bao linh hồn chờ đợi sự giúp đỡ của chúng ta tại Anh quốc. Ôi, nếu con có sức và nhân đức, con muốn đi tới đó ngay bây giờ, và với lời giảng dạy và gương sáng, con muốn chinh phục tất cả các linh hồn về cho Chúa. Em thường than phiền, nơi lòng mình, hay thường khi nói ra với các bạn, về sự ít nhiệt tình của nhiều người trong việc dạy dỗ các trẻ nhỏ về những chân lý của đức tin.

Khi nào tôi vừa được làm thầy xong, em nói, tôi muốn đi ngay tới Mondonio, và tôi muốn quy tụ tất cả các em nhỏ dưới một mái nhà và dạy các em giáo lý, kể cho các em cả đống các gương tốt và làm cho tất cả các em nên thánh. Có biết bao trẻ em bất hạnh có lẽ rơi vào chốn hư mất do thiếu người dạy dỗ chúng trong đức tin.

Điều em nói bằng lời, em chứng minh bằng việc làm, vì vừa với sức tuổi và sức học của em, em sung sướng được dạy giáo lý tại nhà thờ nguyện xá, và nếu có ai cần, thì em lên lớp và dạy dỗ giáo lý cho họ vào bất cứ giờ nào trong ngày hay bất cứ ngày nào trong tuần, với duy mục tiêu là có thể nói về các chuyện thiêng liêng và cho họ biết điều quan trọng là phải cứu lấy linh hồn mình[46].

Một hôm, một bạn trơ trẽn muốn cắt ngang Đaminh khi em đang kể một chuyện đáng nêu gương trong giờ chơi.

- Những chuyện này có can gì với mày? Nó nói.

- Có can hệ gì tới tôi ư? Em trả lời. Có chứ, vì linh hồn của các bạn tôi được cứu chuộc bằng giá máu Chúa Giêsu Kitô; các chuyện ấy có can hệ tới tôi vì chúng ta tất cả là anh em của nhau, như vậy chúng ta phải yêu mến linh hồn của chúng ta. Chúng can hệ đến tôi vì Thiên Chúa nhủ bảo ta giúp đỡ lẫn nhau để cứu lấy nhau. Chúng can hệ đến tôi vì nếu tôi thành công cứu được một linh hồn thì tôi sẽ được đảm bảo là cứu được linh hồn của chính tôi[47].

Sự chăm lo tới các linh hồn không bao giờ thuyên giảm ở nơi Đaminh trong các thời gian hè ngăn ngủi được ở tại nhà bố mẹ; các hình ảnh, huy hiệu, tượng thánh giá các cuốn sách nhỏ hay bất cứ đồ vật gì em có được tại trường hay trong khi dạy giáo lý, em đều dành riêng để dùng đến vào kỳ hè. Hơn thế, trước khi rời nguyện xá, em thường xin riêng các bề trên mình để các ngài cho em các ảnh tượng thánh đó, để như lời em nói, làm cho các bạn đến chơi với em được sống vui vẻ.

Khi vừa về xứ sở, em đã thấy các bạn đồng trang lứa và nhỏ hơn đến bao vây lấy mình, có cả các bạn lớn tuổi hơn nữa. Tất cả đều cảm thấy rất hạnh phúc chơi với Saviô. Thế là em phân phát cho chúng các quà em có vào lúc thích hợp, khích lệ chúng khi thì về giáo lý, khi thì về các bổn phận của chúng.

Với cách thức đẹp đẽ này, em đã đem được một số bạn cùng với em đi học giáo lý, tham dự kinh nguyện, thánh lễ và các việc thức hành đạo đức khác.

Cha chắc chắn rằng em dùng không ít thời giờ để dạy dỗ một bạn hữu[48].

Saviô có cách nhắn nhủ các em nhỏ:

- Nếu em làm được dấu thánh giá tử tế, anh sẽ thưởng cho em một mẫu ảnh, rồi anh sẽ giới thiệu em tới một vị linh mục, ngài sẽ cho em một cuốn sách làm quà. Nhưng anh muốn em làm dấu thật tử tế cơ, miệng thì đọc các lời làm dấu, tay phải thì đặt nên trán, rồi đưa xuống ngực, rồi chạm tới vai trái cách tử tế, rồi sang vai phải và kết bằng chấp tay lại đàng hoàng đọc: Amen.

Em nhiệt nồng ao ước dấu của ơn cứu chuộc này được làm cách đàng hoàng, và chính em nhiều lần làm dấu đàng hoàng trước các bạn, và mời gọi các bạn cùng làm như thế.

Ngoài việc thi hành chính xác bổn phận trong từng giây phút, em chăm lo cho hai em nhỏ, dạy chúng đọc, viết, học thuộc giáo lý, giúp chúng đọc kinh sáng tối. Em dẫn chúng tới nhà thờ, chỉ cho chúng chỗ lấy nước thánh đã được làm phép, cho chúng biết phải làm dấu thánh giá cách nghiêm chỉnh thế nào. Thời giờ mà đáng lý em dùng để chạy nhảy đó đây, thì em dùng để kể các chuyện thánh cho các người thân trong gia đình và các bạn khác muốn đến nghe. Tại quê nhà, em cũng thường đi viếng Thánh Thể mỗi ngày em coi như là một mối lợi kiếm được mỗi khi khuyên nhủ được một người bạn nào cùng đi với mình. Do đó, có thể nói rằng không có dịp làm việc thiện, dịp cho một lời khuyên nhắm đến lợi ích của linh hồn nào ở trong tầm tay em mà em lại để cho thoát mất.

 

Lời tâm niệm

Don Bosco sống nhiệt thành vì các linh hồn đã được máu Chúa Kitô cứu chuộc. Chính trong nhiệt tình này, Don Bosco sống hai tình yêu: một cho Chúa Kitô, một cho đồng loại.

Câu trả lời vì sao Saviô quan tâm đến các công việc tông đồ cũng nêu lên: vì vinh danh Chúa, vì lợi ích của Chúa Giêsu, vì lòng nhiệt thành lo cho ơn cứu độ của các linh hồn anh em, vì nỗi lo lắng cho ơn cứu độ của chính mình. Đó là những động lực dần ăn sâu vào tâm huyết Saviô.

Bạn hãy tự xét xem bạn thật sự quan tâm đến gì, và bạn xin thánh Đaminh Saviô giúp đỡ bạn để đi đúng hướng hơn.

Phải bước theo anh Đaminh Saviô.

Chân Phước Rua đã làm chứng: thật đáng cảm phục cậu bé ở tuổi ấy do nhiệt tình lo cho vinh danh Chúa đến nỗi cảm thấy kinh sợ và đau đớn nơi thể xác khi nghe một lời phạm thượng, khi thấy một lỗi xúc phạm đến uy nhan Chúa.

Còn ông già 74 tuổi đã làm bạn với Saviô ở cái hồi còn 13 tuổi đã tuyên thệ để nói trước tòa án phong thánh cho Saviô rằng: những ngày đầu đến nguyện xá, chơi bun tôi hay nói phạm thượng đến Chúa do thiếu học và thói quen xấu. Mỗi lần nghe thấy, Saviô ngừng trò chơi, thốt lên lời đau đớn, lại gần tôi, với lời lẽ bác ái, khuyên tôi tới ngay với Don Bosco để xưng tội. Tôi làm ngay, và lời cảnh báo của Saviô đã giúp tôi chừa được thói xấu ấy.

Thật đẹp đi theo gương thực hành đời sống tông đồ của Đaminh.

Các câu 'Hỏi-Thưa'

  • Tại sao ta phải nhiệt tình lo việc tông đồ?

-  Vì chẳng có gì thánh thiện hơn ở trần gian này cho bằng việc cộng tác cứu các linh hồn mà Chúa Giêsu đã đổ đến giọt máu châu báu cuối cùng để cứu chuộc.

  • Nghe thấy một lời nói phạm thượng, Saviô làm gì?

-  Saviô đau đớn trong lòng và cả nơi thể xác, em đọc lời ca ngợi Chúa Giêsu để đền bù tội đó, và nếu được tới khuyên nhủ người nói phạm thượng hãy chừa thói quen xấu đó.

  • Saviô đã làm việc tông đồ thế nào?

-  Em làm mọi nơi mọi lúc bằng các lời khuyên, dạy giáo lý, kể chuyện thánh, tặng ảnh thánh và các món quà nhỏ mà em tích lũy được.

  • Làm việc tông đồ được lợi ích gì?

-  Ta cứu rỗi người khác và được đảm bảo cứu rỗi linh hồn mình.

 

CHƯƠNG 12:  SAVIÔ DỄ MẾN VÀ CAO ĐẸP

 

Tính Dễ Mến

Ý nghĩ kiếm các linh  hồn về cho Thiên Chúa không khi nào rời Saviô. Trong giờ rảnh rỗi, em là linh hồn của cuộc chơi; nhưng những gì em nói và làm đều luôn hướng tới lợi ích luân lý của mình hay của người khác. Luôn luôn em nắm vững nơi tâm hồn các nguyên tắc lễ phép cao đẹp này, là không cắt ngang lời nói của các bạn. Nhưng nếu các bạn im lặng thì em lập tức gợi tới các vấn đề của lớp học, như về lịch sử, các bài toán và em còn luôn có trong tay cả ngàn câu chuyện nho nhỏ, khiến cho ở bên em ai cũng cảm thấy dễ chịu. Nếu có khi nào có ai hướng câu chuyện sang việc chỉ trích, than phiền, nói xấu, hành tỏi, hoặc đại loại giống như thế, thì em cắt đứt ngay và đưa ra những câu chuyện vui hay một câu chuyện cổ tích hay những câu chuyện thích thú khác làm mọi người cười vang. Thế là em tránh được những câu chỉ trích, hành tỏi và ngăn cản các bạn khỏi xúc phạm đến Thiên Chúa[49].

Vẻ mặt vui tươi, tính khí sinh động khiến em trở nên người bạn thân thiết đối với các bạn ít yêu chuộng lòng đạo đức, đến độ ai cũng thích được bầu bạn với em và tiếp thu phần lớn những lời khuyên nhủ mà thỉnh thoảng em gợi ra.

 

Và Tư Cách Cao Đẹp Giữa Các Bạn Trẻ.

Một hôm có bạn ước ao đeo mặt nạ nhưng Saviô lại không:

- Cậu có muốn thực sự trở nên giống cái mặt nạ cậu mang không? Với hai cái sừng ở trán, với cái mũi dài thuồn thuột và một cái áo của tên làm xiếc chăng?

- Ồ không. Bạn kia trả lời.

Đaminh liền thêm:

- Vậy, nếu cậu không muốn nên như thế, thì tại sao cậu lại muốn xuất hiện với vẻ ấy bằng chiếc mặt nạ của cậu và làm xấu hổ các dung mạo đẹp đẽ mà Thiên Chúa đã ban cho cậu.

Một lần kia trong giờ chơi có một người nhập vào dưới nhóm các bạn trẻ đang vui chơi: hắn ta bắt chuyện với một người trong nhóm, nhưng nói to để các bạn chung quanh có thể nghe được. Hắn rất xảo quyệt tìm cách kéo các bạn trẻ lại với mình, khởi sự bằng cách kể lại các chuyện kỳ lạ khiến người ta phải tức cười. Các bạn trẻ tò mò chẳng bao lâu xúm lại quanh hắn và mê mệt nghe những câu chuyện kỳ lạ hắn kể. Khi thấy mình có một đám thính giả đông như vậy, hắn bắt đầu kể sang các chuyện về tôn giáo, và giống như cái loại hạng người ấy vẫn thường làm, hắn bắt đầu tuôn ra những chuyện xảo trá làm dợn tóc gáy, chế nhạo những chuyện thánh thiêng nhất và miệt thị tất cả các linh mục, tu sĩ. Một số các bạn tham dự không thể chịu đựng được những chuyện vô đạo đó, nhưng không dám đóng miệng hắn lại, đành chịu rút êm. Nhưng một số đông những trẻ dại dột khác thì tiếp tục lắng nghe hắn. Giữa lúc đó thì Saviô tình cờ đến. Chợt hiểu được câu chuyện hắn đang nói đó thuộc loại nào, Saviô dẹp bỏ mọi thứ vị nể lập tức nói với các bạn:

- Nào chúng ta hãy rời khỏi đây để con người bất hạnh này ở lại một mình đi; ông ta muốn cướp lấy linh hồn của chúng ta đó.

Các bạn trẻ nghe theo tiếng của một người bạn thật dễ thương và nhân đức như vậy, nên đã lập tức xa lìa tên xâm nhập của quỷ dữ này. Người này thấy mình bị toàn thể bỏ đi, đã đi khỏi đó và không bao giờ xuất hiện nữa[50].

Lần khác có một số bạn muốn đi tắm. Đó là chuyện ở đâu cũng nguy hiểm cả, nhưng cách riêng ở vùng ven Torino, nơi không kể đến những nguy hiểm vô luân, còn có cả những dòng nước sâu và chảy mạnh, khiến các bạn trẻ thường trở thành những nạn nhân bất hạnh của nạn chết đuối. Saviô nhận ra ý định của các bạn ấy, em đã tìm cách mua vui cho các bạn bằng cách kể cho các bạn hết chuyện lạ này đến chuyện lạ khác. Nhưng khi em thấy họ dứt khoát muốn đi bằng bất cứ giá nào, thì em bắt đầu lên tiếng mạnh mẽ:

- Không, tôi không muốn các bạn đi.

- Nhưng chúng tôi không làm gì xấu cả.

- Các bạn không vâng lời các bề trên của các bạn, các bạn liều mình lao vào các dịp nguy hiểm là gây nên hay tiếp nhận các gương mù, hay có thể bị chết đuối, chuyện đó không phải là xấu ư?

- Nhưng nóng quá, chúng tôi không chịu nổi.

- Nếu các bạn không thể chịu nổi cái nóng của thế gian này, liệu các bạn có thể chịu các nóng của hỏa ngục mà các bạn đi tới chỗ đáng chịu sao?

Cảm kích bởi những lời lẽ này, họ đã thay đổi ý kiến. Họ bắt đầu tham gia cuộc chơi với Saviô và tới giờ cầu nguyện họ đến nhà thờ tham dự phụng vụ thánh.

Một số bạn trẻ khác của nguyện xá có lòng muốn làm ích cho các bạn hữu mình, đã liên kết thành một hội để cải hóa các bạn xấu. Saviô cũng thuộc về hội này và là một trong những hội viên nhiệt thành nhất[51]. Nếu em có một cái kẹo, một trái ăn, một thánh giá, một ảnh đẹp hay một món quà nào khác, em đều giữ lại để  thực hiện mục tiêu này.

- Có ai muốn cái này không?

- Tớ, tớ. . . và mọi người kêu và chạy tới Saviô.

- Từ từ nhé, Saviô nói, tôi muốn cho vật này cho ai thưa hay nhất và đúng nhất một câu hỏi giáo lý.

Và em chỉ hỏi những bạn khó bảo nhất và khi họ vừa có một câu thưa tốt, em lập tức đem tới cho bạn đó một phần thưởng.

Saviô còn cách khác để chinh phục các bạn trẻ khác: em gặp gỡ, rủ họ đi dạo chơi, chuyện trò, và nếu cần tham gia cuộc chơi với họ. Có khi người ta thấy Saviô vai mang một cây gậy lớn, giống thần Éc-quyn (Hercules) với chiếc búa to của mình. Em chơi bắt nhái, và chơi tận tình trong trò chơi ấy. Nhưng rồi trong thoáng chốc em ngừng cuộc chơi, rồi khẽ nói với bạn:

- Bạn có muốn thứ bảy này cùng đi xưng tội không?

Bạn kia vì thấy chuyện xưng tội còn xa, vì muốn tiếp tục chơi ngay và cũng nể tình Saviô, trả lời “được” ngay. Saviô chỉ muốn có thế, em lại tiếp tục cuộc chơi. Nhưng em không ngơi để ý tới người bạn của mình: mỗi ngày vì cớ này hay cớ khác, em luôn nhắc nhở bạn hãy nhớ là “bạn đã nó được đấy nhé”, và gợi cho bạn biết cách xưng tội tử tế. Thứ bảy đến, giống như thợ săn đã theo dõi một con mồi "bở", Saviô theo bạn vào nhà thờ, đi xưng tội trước bạn, lại còn báo cho cha giải tội trước, rồi em còn ở với bạn sau đó để cùng tạ ơn Chúa.

Những việc đó, tuy rất thường xuyên xảy ra, nhưng kết quả là Saviô rất được mãn nguyện, và các bạn thu lượm được lợi ích lớn lao[52]. Bởi vì thường xảy ra là có bạn nào đó không rút ra được kết quả nào đó từ một bài giảng được nghe tại nhà thờ, nhưng lại chịu nghe theo những lời gợi ý của Saviô.

Có đôi khi có bạn này hay bạn kia hứa hẹn với Saviô trong suốt tuần lễ, nhất là các bạn học nghề, bởi lẽ phân ban học nghề gồm đủ loại bạn trẻ, trong khi phân ban học sinh của nguyện xá gồm các em có chuẩn bị hơn: nhưng tới thứ bảy lại chẳng có mống nào ló mặt trong giờ xưng tội. Thế là Saviô lại gặp lại các bạn đó, nói như chế nhạo:

- Này tướng nhà trời, cậu chơi mình nhé.

- Cậu thông cảm, bạn kia trả lời, tớ chưa sẵn sàng, tớ cảm thấy khó quá.

- Thật đáng thương, Saviô thêm, cậu đã chịu thua thằng quỷ rồi. Nó luôn sẵn sàng tiếp đón cậu, bây giờ cậu lại càng không sẵn sàng hơn trước, hơn thế, tớ trông cậu không có vui vẻ gì. Này hãy thử đi xưng tội xem, hãy cố gắng đi và nỗ lực xưng tội tử tế và bạn sẽ thấy có cả một niềm vui lớn lao tràn ngập cõi lòng bạn.

Rất hay xảy ra là bạn đó sau khi đã xưng tội xong, chạy ngay lại với Saviô với tấm lòng đầy vui vẻ, thú nhận:

- Thật, mình rất vui vẻ; sau này mình muốn đi xưng tội thường xuyên hơn.

Trong các nhóm bạn trẻ, vẫn luôn có những bạn vì hơi thô bạo, dốt nát, vì thiếu giáo dục hay bị dằn vặt bởi nỗi buồn nào, nên vẫn hay bị các bạn khác bỏ rơi. Những bạn này cảm thấy gánh nặng của nỗi cô độc, vào chính lúc họ đang cần tới nhu cầu được sự an ủi của một người bạn.

Những bạn này lập tức trở thành các bạn của Saviô. Em lại gần họ, tìm cách nói những lời vui vẻ, khuyên bảo họ; kết quả là thường có nhiều bạn trẻ đã quyết lao mình vào đời phá phách, nhưng những lời bác ái của Saviô, mà trở về với những tình cảm tốt đẹp.

Bởi lẽ đó, tất cả các bạn đau ốm bất kể, đều xin Saviô làm người chăm sóc sức khỏe cho và những ai có những nỗi ưu phiền đều cảm thấy lòng thỏa thuê khi đến tâm sự dốc hết với Saviô.[53] Bằng cách đó em có cả con đường rộng mở thênh thang để liên tục thi hành đức ái đối với các người bên cạnh và tăng thêm công nghiệp của em trước mặt Thiên Chúa.

 

Lời tâm niệm

Đức tính của người tông đồ là tính vui vẻ, dễ mến. Theo anh Đaminh Saviô, ta phải cố gắng luyện tập để hấp thụ đức tính đó ngày một thiết thân hơn để thực sự là linh hồn của nhóm bạn trẻ. Bạn hãy tích cực tham gia các cuộc chơi với cả ngàn câu chuyện hay, nhưng luôn tế nhị, lắng nghe, khuyên bảo, sống thẳng thắn không vị nể, biết bảo vệ nhắc nhở anh em mình. Là người tông đồ bạn hãy có cả trăm cách để lôi kéo các bạn: thưởng quà, tham gia các cuộc chơi, là thiên thần bản mệnh  dẫn các bạn đi xưng tội, học giáo lý, làm bổn phận và bầu bạn với những ai cô đơn.

Cha Francesia, khi còn trẻ đã dạy Saviô, làm chứng rằng: “Một hôm tình cờ tôi gặp Don Bosco đang nói chuyện với cậu bé Đaminh Saviô. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy bé, mà tôi nghĩ rất nhút nhát, lại nói chuyện với Don Bosco với dáng vẻ nghiêm nghị, tay chống lại hai bên sườn: khi những chuyện này thật không thể chấp nhận được ở nguyện xá… Ồ, Don Bosco trả lời, được chúng ta sẽ giải quyết, cần một chút kiên nhẫn. – Nhưng Saviô lại nhấn mạnh: - đó là một gương mù, không thể cứ chịu vậy. – Đó là lần đầu tiên tôi thấy một cậu bé nói như có uy quyền với Don Bosco. Cậu bé đã làm điều đó đầy sức thuyết phục khiến ta không thể nghi ngại là giả vờ hay vị nể.”

Cha Francesia ngạc nhiên là phải, vì lần này ngài không tìm thấy nơi bé Đaminh Saviô vẻ hồn nhiên thường tình mà Don Bosco luôn nói tới, nhưng là sự quyết tâm đầy trách nhiệm.

Hồn nhiên vui tươi là việc làm tông đồ vì yêu mến Chúa và yêu mến anh em, nhưng đó không thể là một trò vui tùy hứng, mà đó là một việc nghiêm chỉnh và thiết thân với bạn.

 

Các câu ‘Hỏi – Thưa’

  • Saviô sống với các bạn thế nào?

-  Em rất vui vẻ, lịch sự, không cắt ngang lời bạn, có ngàn chuyện hay để kể, nhưng luôn khéo tránh mọi lời chỉ trích.

  • Đaminh và các bạn đi bơi lội thế nào?

-  Em nhắc nhở các bạn giữ đúng thời khóa biểu, vâng lời bề trên, tránh các dịp nguy hiểm cho cả thể xác lẫn linh hồn.

  • Em đưa các bạn tới xưng tội làm sao?

-  Em vui vẻ tham gia cuộc chơi  với các bạn và vào lúc thân tình, ngỏ với các bạn có lương tâm rối loạn tìm nguồn vui vẻ, sự an bình và sức mạnh trong bí tích thống hối.

  • Em lo làm bạn với những ai?

-  Những ai cô độc, đau khổ tức khắc trở thành bạn của Saviô.

 

Chương 13: TINH THẦN CẦU NGUYỆN

CỦA ĐAMINH SAVIÔ

 

Tinh thần cầu nguyện của Saviô

Giữa các ơn Thiên Chúa ban dư dật trên Saviô, thì em nhận được ơn tuyệt đỉnh là lòng sốt sắng trong kinh nguyện. Linh hồn em thường bằng chuyện vãn cùng Thiên Chúa đến độ ở bất cứ nơi nào, dù ngay giữa những tiếng ồn ào chói tai nhất,  em cũng có thể tập trung tư tưởng và tình cảm mến để nâng lòng lên cùng Thiên Chúa.

   Khi em tham gia cầu nguyện chung, em lộ ra hoàn toàn như một thiên thần, yên tĩnh và toàn thân toát ra lòng sốt sắng, không tựa vào đâu ngoài quì trên hai đầu gối, với đầu hơi nghiên và mắt hạ thấp; các bạn sẽ nói đó là một thánh Luy mới.

   Cần phải thấy mới thật sự ngưỡng mộ và muốn bắt chước Saviô. Năm 1854 ngài bá tước Cays được bầu làm hội trưởng danh dự hội thánh Luy,[54] là hội được lập ở Nguyện xá này. Lần đầu tiên tham dự kinh phụng vụ của chúng ta, đã thấy cậu bé cầu nguyện với tư thế sốt sắng như vậy, khiến ông vô cùng ngạc nhiên. Kết thúc các giờ phụng vụ, ông muốn tìm hỏi xem cậu bé đã khiến ông hết sức ngưỡng mộ đó là ai. Đó là Đaminh Saviô.

Giờ chơi của Saviô hầu như luôn luôn được chia làm hai phần: Em dành một phần giờ chơi để đọc sách đạo đức, hay cùng với một số bạn đọc kinh để cầu nguyện cho các linh hồn luyện tội hoặc để tôn kính Đức Nữ Trinh rất thánh.

 

Lòng sùng kính đối với Mẹ Thiên Chúa

Lòng sùng kính đối với Mẹ Thiên Chúa thật là lớn lao với Đaminh. Để tôn kính Mẹ, em làm mỗi ngày vài hy sinh. Em không nhìn thẳng vào mặt một người nữ; đi học không ngó ngang ngó ngửa. Có khi em đi qua các cảnh tượng công khai ngoài phố khiến các bạn của em say mê đến bồn chồn chẳng biết mình ở đâu nữa. Có bạn hỏi Saviô: “Bạn thích cảnh tượng nào nhất”, em trả lời mình chẳng thấy gì. Thế là có lần một bạn nổi giận lên tiếng quở trách Saviô:

- Vậy cậu định làm gì với con mắt của cậu, nếu không dùng để ngắm những cảnh đó?

Saviô trả lời:

- Tôi muốn dùng mắt của tôi để nhìn dung nhan Đức Mẹ chúng ta trên trời, khi nhờ ơn Chúa trợ giúp tôi sẽ nên xứng đáng để đến thiên đàng tìm Mẹ.

Em có lòng sùng kính đặc biệt đối với trái tim vô nhiễm của Đức Maria. Mỗi lần vào nhà thờ, em đến trước bàn thờ Mẹ, cầu xin Mẹ ơn gìn giữ lòng mình luôn xa mọi tình cảm không trong sạch Em nói:

- Lạy Mẹ Maria, con muốn luôn là đứa con bé nhỏ của Mẹ; xin Mẹ cho con đựơc ơn chết trước khi con phạm một tội nào nghịch nết na.

Mỗi thứ sáu em chọn một thời gian khi chơi, để cùng vài một bạn vào nhà thờ đọc kinh triều thiên bảy sự đau đớn Đức Mẹ, hay ít là kinh cầu Đức Mẹ, Bảy sự đau dớn.

Không những em có lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa rất thánh, mà còn vô cùng sung sướng khi có thể đưa dẫn một ai dâng lên Mẹ các việc thực hành đạo đức. Một ngày thứ bảy nọ em rủ một người bạn vào nhà thờ với em để đọc giờ Kinh chiều kính Đức Mẹ. Em này tỏ ra miễn cưỡng, nói rằng mình có tay bị lạnh. Saviô liền lấy găng tay của mình mà cho bạn, và thế là cả hai vào nhà thờ. Lần khác em lấy áo choàng khỏi bờ vai, để cho một bạn khác mượn, để bạn vui vẻ cùng em vào nhà thờ cầu nguyện. Ai lại không cảm động và kính phục trước những hành vi đạo đức quảng đại như vậy?

 

Tháng Đức Mẹ

Chẳng có khi nào Đaminh tỏ ra nhiệt tình sốt sắng đối với Đấng Nữ Bảo trợ trên trời của chúng ta cho bằng vào tháng năm. Em thỏa thuận với các bạn khác là mỗi ngày trong tháng này làm một việc thực hành đạo đức đặc biệt nào đó ngoài những gì được cử hành trong nhà thờ chung với mọi người. Em chuẩn bị cả một chuỗi những gương nhân đức để rồi vui sướng kể lại hầu thúc đẩy các bạn khác cùng nên những kẻ sùng kính Đức Mẹ Maria. Em thường nói cho các bạn về các gương đạo đức vào các giờ chơi: em khích lệ họ hết thảy hãy đặc biệt đi xưng tội và chịu lễ thường xuyên vào tháng này. Chính em nêu gương trước; mọi ngày em đều tiến tới Bàn Thánh để rước lễ với vẻ cầm lòng cầm trí vô cùng lớn lao ở ngoài mọi ước nguyện.

Một câu chuyện cho thấy tình thương dịu dàng của trái tim em biểu lộ ra nơi lòng sùng kính của em đối với Đức Mẹ. Các học sinh ở phòng ngủ nơi em ngủ quyết định chi tiền riêng để làm một bàn thờ nhỏ đẹp để làm tăng vẻ long trọng của buổi kết thúc tháng Đức Mẹ.

Saviô hoàn toàn ở trong cuộc tổ chức này; nhưng tới lúc mỗi người phải mở túi ra đóng góp phần của mình: - Ồ tôi thật khổ! Em thốt lên, chúng ta đây ai cũng tốt! Nhưng để làm được chuyện này, thì cần tiền; mà tôi thì lại không có một đồng xu nhỏ trong túi. Tuy vậy, tôi cũng muốn làm một điều gì đó bằng bất cứ giá nào. - Rồi em đi lấy ra một cuốn sách đã được ban cho em làm phần thưởng, và em đi xin phép bề trên, rồi trở lại sung sướng nói:

- Các bạn ơi, tới lượt tôi có thể cũng góp phần của tôi dâng kính Mẹ Maria; các bạn hãy cầm lấy quyển sách này, cố gắng hoán đổi sao cho ra tiền như các bạn có thể; đó là phần dâng cúng của tôi.

Trước hành động bộc phát và quảng đại như thế, các bạn đều cảm kích, và cũng đều muốn dâng cúng các sách và các vật tương tự. Với những vật đó, họ tổ chức một cuộc xổ số nho nhỏ, mà kết quả thu được thật dư giả để đáp ứng những phí tổn cần đến.

Khi đã làm xong bàn thờ, các bạn trẻ ước muốn đánh dấu buổi lễ của họ bằng vẻ lộng lẫy tối đa. Mọi người đều hết sức lo làm, nhưng họ không thể hoàn tất việc trang hoàng. Họ cần phải làm việc cả vào đêm cho ngày lễ.

- Cả tôi nữa, Saviô nói, tôi tình nguyện qua suốt đêm để làm việc. Nhưng bởi em đã ốm ít hôm trước, nên các bạn buộc em đi ngủ. Em không muốn phi phục, nhưng chỉ vì vâng lời mà em chấp nhận lên giường ngủ. Em nói với một trong số các bạn:

- Ít nhất, vừa khi mọi sự đã xong, bạn đến ngay đánh thức mình, để mình có thể ở trong số những người đầu tiên chiêm ngưỡng bàn thờ được trang hoàng dâng kính Đức Mẹ thân yêu của chúng ta.[55]

 

Lời tâm niệm

Hai lòng sùng kính chính ở nguyện xá của Don Bosco là lòng sùng kính Đức Mẹ Vô nhiễm và Chúa Giêsu Thánh Thể.

Saviô hoàn toàn là người của Chúa. Đức Hồng y Cagliero đã viết: “Tinh thần đức tin và sự kết hợp với Thiên Chúa là thường hằng nơi em, đến nỗi đời em là cả một cuộc đời một đức tin sinh động, chắc chắn, và không hoài nghi nơi trái tim của em, một trái tim đơn sơ và thuộc trọn về Chúa. Mọi việc em làm đều kèm theo một đức tin lớn lao, và những tình cảm thần thiêng, và siêu nhiên thúc đẩy và sinh động hóa em khiến tất cả chúng tôi, các bạn, thầy và các hộ trực của em, đều ngưỡng mộ khi nói chuyện với em. Em chỉ sống bằng Thiên Chúa, với Thiên Chúa và cho Thiên Chúa”.

Cha Caviglia cũng nhận định: Linh hồn của Saviô được hướng dẫn ngay từ đầu bởi một ý thức vươn tới Thiên Chúa và đầy tràn Thiên Chúa: em không gắn bó với trái đất; em được dựng nên để kết hợp với Thiên Chúa.

Thế nên Don Bosco miêu tả Saviô cầu nguyện thật là kỳ diệu: em hoàn toàn sống cho Chúa với dáng vẻ tuyệt hảo. Một hôm, mẹ Magarita, mẹ của Don Bosco, nói chuyện với ngài: - Con có biết bao trẻ tốt, nhưng không ai hơn được Saviô. - Sao vậy, mẹ? - Nó ở nhà thờ giống như một thiên thần ở trên trời.

Về lòng sùng kính Đức Mẹ của Saviô, Don Bosco miêu tả đi miêu tả lại nhiều lần, ở nhiều chương: Em gọi Đức Mẹ bằng Mẹ yêu mến! Nhìn lên ảnh Mẹ, mặt em khi thì in niềm vui sinh động, khi thì mang vẻ huyền bí, khi thì hết sức chú tâm: Sự liên hệ giữa em và Mẹ sâu xa biết mấy! Em đã từng thú nhận: Với Mẹ, tôi cảm thấy một niềm hài lòng khôn tả trong lòng”.

Đời sống của người tông đồ buộc phải hoàn toàn sống cho Chúa và hoàn toàn say mến Mẹ. Có thế, bạn mới có thể tỏ lộ Thiên Chúa tốt lành và Đức Mẹ yêu dấu cho các bạn trẻ và đem hạnh phúc đến cho họ.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Ơn lớn lao Saviô nhận được nơi Chúa là ơn gì?

-  Đó là lòng sốt sắng Thiên Chúa đổ tràn vào lòng em khi cầu nguyện.

  • Thái độ Saviô khi cầu nguyện thế nào?

-  Hoàn toàn yên tĩnh, không tựa vào đâu, quì thẳng người trên hai đầu gối, đầu hơi nghiêng, và hoàn toàn ở với Chúa.

 

  • Lòng sùng kính Đức Mẹ của em mang lại lợi ích gì?

-  Em giữ gìn đôi mắt hoàn toàn nết na dưới đất để nhìn mặt mẹ Maria yêu dấu trên trời. Em xin Mẹ được chết trước khi phạm một tội gì nghịch nhân đức nết na.

 

  • Tháng 5, tháng Mẹ, Saviô làm gì?

-  Saviô sốt sắng trang hoàng bàn thờ kính Mẹ, hy sinh quyển sách quí em có để đóng góp vào phí tổn và muốn ở trong số những người đầu tiên chiêm ngắm bàn thờ dâng kính Mẹ được hoàn tất.

 

 

Chương 14: SAVIÔ NĂNG XƯNG TỘI VÀ RƯỚC LỄ

Xưng tội

 Kinh nghiệm đã chứng minh rằng các bí tích xưng tội và rước lễ là những cột trụ nâng đỡ vững chắc của tuổi trẻ. Hãy cho cha một cậu bé năng lui tới các bí tích này, và các bạn sẽ thấy người bạn đó sẽ lớn lên trong thời trẻ, đạt tới tuổi tráng niên, cho tới tuổi già với một hạnh kiểm đáng làm gương cho tất cả nhưng ai biết tới cậu. Đó là nguyên tắc mà cha rất ước mong các bạn trẻ thấu hiểu để đem ra thực hành, và tất cả ai chăm lo cho việc giáo dục thấu hiểu để khắc ghi vào lòng các bạn trẻ.

Trước khi Saviô vào sống tại Nguyện xá, em lui tới các bí tích này mỗi tháng một lần như thói quen của các trường thời đó. Sau này em chịu các bí tích đó chuyên cần hơn. Một hôm em nghe linh mục giảng tại tòa giảng nguyên tắc sau: “Các bạn trẻ thân mến, nếu các con muốn kiên trì trên con đường về trời, cha nhắn nhủ các con ba điều: các con hãy năng đi xưng tội, chịu lễ thường xuyên, hãy chọn một vị linh mục mà các con có thể mở lòng mình ra cho ngài, và không đổi cha giải tội khi không cần thiết”.

Saviô đã hiểu tầm quan trọng của các lời khuyên này.

Em bắt đầu chọn một cha giải tội và em đi xưng tội với ngài cách đều đặn trong suốt thời gian em ở giữa chúng ta. Để ngài có thể có nhận định đúng đắn về lương tâm của em, em muốn làm một lần xưng tội chung. Em bắt đầu xưng tội nửa tháng một lần, rồi tám ngày một lần, và chịu lễ cũng thường xuyên như vậy. Cha giải tội nhận thấy em tiến bộ trong những chuyện tinh thần nên khuyên em chịu lễ ba lần mỗi tuần và sau một năm cho phép em chịu lễ mỗi ngày.

Có một thời gian em bối rối, nên đi xưng tội cứ bốn ngày một lần hay thường xuyên hơn thế; nhưng cha linh hướng không cho phép em làm thế nữa, và em giữ xưng tội hằng tuần theo đức vâng lời.

Em tín nhiệm cha giải tội cách vô giới hạn. Thậm chí em nói về những chuyện hướng tâm ở cả bên ngoài tòa giải tội. Có người khuyên em đôi khi nên đổi cha giải tội, nhưng em không bao giờ muốn chịu như vậy. Em nói:

Cha giải tội là thầy thuốc của linh hồn, người ta không đổi thầy thuốc ngoại trừ mình thiếu tin tưởng nơi ngài hay chịu một cơn bệnh tuyệt vọng. Em không ở trong cảnh đó. Em hoàn toàn tin tưởng ở cha giải tội: ngài với tình cha và sự ân cần chăm lo cho linh hồn em. Em cũng không thấy trong em có các tật xấu nào không sửa đổi được.

Tuy nhiên cha linh hướng của em có khuyên em đôi lần đổi cha giải tội, đặc biệt vào dịp tĩnh tâm, và em vâng lời không có khó khăn gì.

Saviô cũng bằng lòng với chính mình. Em nói:

 

“Nếu tôi có nỗi buồn nhiều gì trong lòng, tôi đến cùng cha giải tội, ngài khuyên bảo tôi theo ý Thiên Chúa; chính Chúa Giêsu đã nói tiếng cha giải tội là tiếng Thiên Chúa. Nếu tôi muốn một cái gì vĩ đại, tôi đi đón nhận Mình Thánh Chúa: nơi đây tôi tìm thấy Mình Chúa đã bị nộp vì chúng ta, tức là chính thân thể, máu huyết, linh hồn cùng thần tính mà Chúa Giêsu Kitô hiến dâng cho Chúa Cha hằng hữu ở trên bàn thờ thập giá vì tất cả chúng ta. Vậy tôi còn thiếu gì nữa để mà sống hạnh phúc? Chẳng còn thiếu gì cả: tôi chỉ còn thiếu để có thể chiêm hưởng tận mặt chính Đấng mà giờ đây con mắt đức tin của tôi chiêm ngắm và thờ lạy trên bàn thờ”.

Với những tư tưởng đó, Saviô rút ra cho mình các ngày sống thực sự hạnh phúc. Từ đấy phát sinh niềm hân hoan, vui tươi lộ rõ trong mọi hành động của em. Chúng ta đừng tưởng rằng em không hiểu tầm quan trọng của những gì em làm, và không có được mức đời sống Kitô hữu xứng hợp với ai khao khát rước lễ thường xuyên. Bởi hạnh kiểm của em xét về mọi khía cạnh đều không thể chê trách. Cha đã mời gọi các bạn của em nói cho cha nếu trong ba năm em ở giữa chúng ta, họ có thấy nơi em một tật xấu nào phải sửa hay một nhân đức nào phải xin em vun trồng hay chăng; và tất cả đều đồng thanh quả quyết là họ chẳng tìm thấy nơi em có gì đáng phải sửa đổi; hay chẳng biết được có nhân đức nào cần phải thêm cho em.

Rước Lễ

Gương mặt em khi chịu lễ thật đạo đức, gương mẫu. Buổi chiều trước đó, trước khi đi ngủ, em cầu nguyện và kết thúc với lời sau đây: “Ngợi khen và cảm tạ Bí Tích Cực Thánh mọi nơi và mọi lúc”. Buổi sáng em dọn mình rước lễ cách đầy đủ; còn việc cám ơn Chúa sau rước lễ thì vô giới hạn. Hơn thế, nếu không được gọi, em quên cả ăn sáng, giờ chơi và có khi cả đi tới lớp học, và cứ đứng đó trong cầu nguyện hay đúng hơn trong chiêm ngắm lòng tốt của Thiên Chúa đã thông ban cho loài người một cách khôn tả những kho tàng của lòng nhân từ vô cùng của Ngài.

Đối với em thật là một niềm sung sướng được qua vài giờ trước Chúa Giêsu Thánh Thể. Ít là mỗi ngày một lần em đi viếng Chúa, và mời các bạn cùng em đi viếng Chúa. Đó là thời gian bất biến. Kinh em yêu quí nhất là kinh triều thiên kính Thánh Tâm Chúa Giêsu để đền bù những xúc phạm phải chịu từ các kẻ tà giáo, các kẻ vô đạo và các Kitô hữu xấu.

Đây là các ý chỉ Saviô phân phối cho các lần chịu lễ hằng tuần:

  • Chúa nhật: Để kính Chúa Ba Ngôi.
  • Thứ hai: Cho các ân nhân thiêng liêng và vật chất.
  • Thứ ba: Kính thánh Đaminh và thiên thần bản mệnh.
  • Thứ tư: Kính Đức Mẹ. Bảy sự đau đớn, cho kẻ có tội được trở lại.
  • Thứ năm: Cầu cho các linh hồn luyện tội.
  • Thứ sáu: Kính cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô.
  • Thứ bảy: Kính Đức Mẹ xin Mẹ che chở ta trong đời sống và trong giờ chết.

Em tham dự với niềm vui sướng bao la tất cả các việc thực hành kính Bí Tích Mình Máu Thánh Chúa. Khi gặp linh mục đưa Của Ăn Đàng cho một bệnh nhân, em quì xuống ngay, bất kỳ ở đâu; và nếu có giờ em sẵn sàng đi theo Ngài cho tới khi nghi thức kết thúc.

Một hôm linh mục đưa Của Ăn Đàng đi qua, mà trời mưa, đường xá lầy bùn. Không có chỗ nào khô ráo, em quì xuống ở giữa bùn. Một người bạn trách em rằng không cần phải làm dơ quần của mình như vậy. Em trả lời một cách đơn sơ: “Đầu gối và quần đều là của Chúa, bởi đó mọi sự đều phải được dùng để tôn vinh Ngài. Khi tôi đi qua gần bên Ngài, tôi không những dấn mình vào bùn, mà còn dám sà vào lò lửa, bởi vì như vậy tôi sẽ được tham dự vào ngọn lửa đức ái vô cùng là động lực luôn thúc đẩy Chúa Giêsu trao ban mình Ngài cho ta trong Bí Tích cao cả này”.

Một hôm em gặp một người lính cũng đang trong cảnh mưa và bùn lấm như vậy khi đi qua gần bên Bí Tích Cực Thánh. Không dám mời ông ta quì gối, em liền rút từ trong chiếc túi nhỏ chiếc khăn mùi xoa, và trải xuống đất vấy bùn, rồi ra dấu mời người lính sử dụng. Người lính lúc đầu tỏ ra bối rối, rồi ông ta kéo chiếc khăn ra một bên, và quí xuống ngay giữa con đường lấm bùn đó.

Vào lễ Mình Thánh Chúa Giêsu, em cùng các bạn mặc áo các trẻ giúp lễ, và được sai đi dự cuộc rước kiệu của giáo xứ. Em vô cùng sung sướng lên đường và coi đó là phần thưởng quí báu mà em nhận được, còn to lớn hơn tất cả các phần thưởng khác.

 

Lời tâm niệm

Xưng tội và rước lễ thường xuyên mục đích là để thanh luyện bản thân ta nên trong sạch để kết hợp ta với Chúa Giêsu, hầu có thể trau dồi mọi nhân đức và sửa chữa mọi nết xấu nơi ta.

Đây chính là phương châm giáo dục quí báu Don Bosco và Đaminh Saviô để lại cho chúng ta.

Hơn thế nữa Đaminh nêu gương cho chúng ta về lòng yêu mến Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể: hoàn toàn vui hưởng Chúa ngự trong đó, năng viếng Thánh Thể và tỏ lòng tôn kính Ngài khi ở gần Ngài.

Việc giáo dục mà bạn giúp đỡ cho các trẻ em phải gắn liền với lòng yêu mến các Bí Tích xưng tội và rước lễ, quyết tâm sửa đổi bản thân và trau dồi mọi nhân đức.

Ngoài việc xưng tội rước lễ thường xuyên, Đaminh còn thể hiện lòng sùng kính của mình xuyên qua việc năng nhờ đến thiên thần bản mạnh và năng việc Mình Thánh.

 

  1. Lòng sùng kính thiên thần bản mệnh:

Hãy năng đọc kinh sau đây: “Hỡi thiên thần của Chúa, Thiên Thần Bản Mệnh mà lòng từ ái Chúa đã trao phó con cho Ngài: Xin soi sáng, giữ gìn, dìu dắt và cai quản con. Amen”.

Em gái của Đaminh tên là Têrêsa kể rằng: “Chị của em tên là Raimonda cho em hay rằng khi em còn bé tí, rơi xuống ao nhỏ đầy nước và chết đuối mất. Anh Đaminh Saviô của em vội nhào xuống và kéo em lên. Mấy người chứng kiến mới hỏi anh Đaminh sao em bé nhỏ thế mà cứu được bé thơ mập và nặng nữa kia. Anh trả lời: Không phải em chỉ nhờ đến sức của riêng em; bởi vì khi một tay em kéo em bé của em lên, thì tay kia em được thiên thần bản mệnh giúp đỡ”.

 

  1. Đi viếng Thánh Thể:

Khi có dịp, em hãy vào nhà thờ viếng Chúa cách âu yếm trong Phép Thánh Thể. Trong nhà của Don Bosco, trẻ em năng đi viếng Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể vào các giờ chơi. Thói quen này là công của Saviô. Cha Francesia nói: “Trong cộng đoàn, việc thực hành viếng Thánh Thể mỗi ngày đã được thi hành và khuyến khích bởi chính Saviô”. Cha Gioan Branda cũng nói: “Việc thực hành Viếng Thánh Thể sau bữa ăn nay vẫn còn thực hành ở nguyện xá đã được chính Saviô khởi xướng. Saviô vẫn thường rủ vài bạn cùng đi viếng Chúa với mình”.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Đaminh xưng tội và rước lễ thường xuyên thế nào?

- Em xưng tội hằng tuần và rước lễ hằng ngày.

  • Em gìn giữ tâm hồn thế nào để xứng đáng tiếp nhận Chúa Giêsu?

-  Em có đủ mọi nhân đức và các bạn không thấy nơi em có nết xấu nào cần phải sửa. Em biết sống kết hợp thâm sâu cùng Chúa, cách riêng sau khi chịu lễ.

  • Em tỏ lộ thái độ bề ngoài thế nào để tỏ lòng tôn kính và yêu quí phép Thánh Thể?

- Khi linh mục mang Mình Thánh đi qua để đem đến cho bệnh nhân, em sốt sắng quì gối thờ lạy, dù phải quì trên bùn dơ, và vô cùng sung sướng tham dự kiệu Thánh Thể trong áo của các em giúp lễ.

 

Chương 15: SAVIÔ HÃM MÌNH ĐỀN TỘI

Các cách hãm mình khác nhau của Saviô

Tuổi còn nhỏ, lại hay yếu đau, và đời sống thực vô tội đúng lý phải miễn cho em khỏi thi hành bất cứ hình thức đền tội nào; nhưng em biết rằng một người trẻ khó có thể giữ sự vô tội của mình mà không làm việc đền tội, và cảm nghĩ này khiến cho em thấy con đường chịu đau khổ như được phủ bằng hoa hồng. Về việc đền tội, cha không có ý nói đến sự chịu đựng cách kiên nhẫn các lời sỉ nhục, các điều không vừa ý, cha không nói đến sự hãm mình và giữ gìn các giác quan trong khi cầu nguyện, tại lớp, khi học bài, trong trò chơi. Những hãm mình đó là thường hằng nơi em.

Cha chỉ nói tới các việc hãm mình đền tội mà Saviô muốn áp đặt cho thân thể. Được thúc đẩy chỉ bởi lòng sốt sắng, em đã quyết định ăn chay mỗi thứ bảy, chỉ dùng bánh và nước lã, để kính Đức Nữ Trinh Maria, nhưng cha giải tội đã cấm em việc đó, em đã muốn ăn chay vào mùa chay, nhưng sau một tuần, cha giám đốc nhà biết được, và ngài cấm em ngay. Em muốn ít là bỏ bữa ăn sáng, nhưng cả chuyện này em cũng bị cấm. Lý do khiến em không được phép làm những việc hãm mình đền tội này là ngăn cản không cho sức khỏe thất thường của em bị hoàn toàn suy sụp. Vậy phải làm gì bây giờ?

 

Bị cấm ăn chay, em tìm cách sát phạt thân xác em cách khác.[56] Em bắt đầu đặt những miếng gỗ, những mảnh gạch dưới giường để làm cho mình khó chịu ngay trong giấc ngủ; em muốn mang áo nhặm; nhưng tất cả những chuyện đó cũng đều bị cấm. Em lại bám lấy một phương thức mới. Vào mùa thu hay mùa đông, em để cho thời tiết lạnh cứ tăng mà không thêm chăn ấm, đến độ vào tháng giêng, em chỉ đắp chăn như vào mùa hạ. Một hôm em đau phải nằm ở giường, cha giám đốc tới thăm, thấy em nằm co quắp, ngài lại gần và khám phá ra em chỉ đắp trên mình tấm chăn mỏng.

 

Don Bosco can thiệp

Ngài mới nói:

  • Tại sao con làm như thế? Con muốn chết cóng ư?
  • Không. Em trả lời, con sẽ không chết cóng đâu. Chúa Giêsu trong hang đá Bêlem, và khi bị treo trên thánh giá, đâu có được đắp ấm bằng con. Thế là em bị nghiêm cấm không được làm như vậy, mà không có phép rõ ràng; em qui phục lệnh đó cách miễn cưỡng. Một hôm cha gặp thấy em quá đau khổ, thốt ra những lời lẽ:
  • Khổ con quá! Con thật sự bối rối. Chúa Cứu Thế nói là nếu con không làm việc đền tội, con sẽ không được vào thiên đàng; vậy mà con lại bị cấm làm việc đền tội: không biết thiên đàng của con sẽ ra như thế nào?

Cha mới nói với em:

  • Việc đền tội Chúa muốn nơi con là sự vâng lời. Con hãy vâng lời thế là đủ.
  • Vậy Cha không thể cho phép con một việc đền tội nào đó chăng?
  • Có chứ! Con được phép làm các việc hãm mình đền tội như chịu đựng các lời sỉ nhục xảy ra với con bất kể như thế nào một cách kiên nhẫn: vui lòng chịu đựng nóng, lạnh, gió, mưa, mệt nhọc và tất cả mọi khó chịu do sức khỏe mà Thiên Chúa muốn gởi tới cho con.[57]
  • Nhưng đó là những chuyện con bó buộc phải chịu mà?
  • Điều con bó buộc phải chịu, con hãy dâng nó lên cho Thiên Chúa, và nó sẽ trở thành nhân đức và công phúc cho linh hồn con.[58] Sung sướng và chấp nhận những lời khuyên này, Saviô yên lòng tiến bước.

 

Lời tâm niệm

Ai muốn làm thánh, thì phải biết hy sinh và hãm mình. Don Bosco đã từng viết: “Khi tình yêu Thiên Chúa chiếm hữu một tấm lòng, thì nó không còn buồn phiền bởi bất cứ nỗi đau khổ phải chịu nào nữa, trái lại mọi đau khổ đều trở thành hạnh phúc.

Từ những tấm lòng dịu dàng, đều phát sinh tư tưởng cao thượng là muốn chịu đau khổ vì một đối tượng cao cả, và niềm chắc chắn rằng một phần thưởng lớn lao trong cõi đời đời được dành cho những cơ cực phải chịu trên cõi đời này”.

Saviô sớm biết chịu hãm mình đền tội. Comolino Anastasia kể rằng mẹ của Saviô hay than phiền rằng Saviô con bà hay đánh tội hoặc để gỗ đá dưới giường ngủ của mình làm hư cả những tấm khăn lót giường.

Saviô rất ưa thích các hãm mình phạt xác này. Có lần em hơ ngón tay trên ngọn nến cho tới khi đọc hết kinh kính mừng, đến nỗi ngất xỉu… khiến Don Bosco phải cấm: không bao giờ con được làm chuyện này nữa, nếu không có phép của các bề trên! Ngài đã từng dùng áo nhặm, và ép mình vào kỷ luật. Nhưng Ngài không thấy các hãm mình phạt xác trên thích hợp với tuổi và sức khỏe mỏng manh của Saviô.

Bù lại, Saviô đã hiểu rõ và thực hành các lời khuyên của cha linh hướng. Đức Cha Cagliero làm chứng: “Em hãm mình nơi các giác quan. Em nổi bật về sự thực hành bền bỉ lòng kiên nhẫn, sự dịu dàng, chính xác và mau mắn trong các việc bổn phận.”

Không có con đường nên thánh nào mà không phải trải qua gian khổ và hy sinh.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Don Bosco nhận thấy Saviô luôn hãm mình như thế nào?

- Em luôn chịu đựng cách kiên nhẫn các lời sỉ nhục, các điều không vừa ý, gìn giữ các giác quan trong khi cầu nguyện, học hành, vui chơi.

  • Don Bosco cấm Saviô làm những việc làm hãm mình nào?

- Ngài cấm Saviô ăn chay, phạt xác, đặt đá, gỗ dưới giường hay đắp chăn mỏng vào mùa đông, vì không hợp với sức khỏe và tuổi của em.

  • Bù lại, Don Bosco khuyên Saviô thế nào?

- Con hãy chịu các lời sỉ nhục, nóng, lạnh, gió, mưa, mệt nhọc, và mọi sự con bó buộc phải chịu và dâng chúng lên cho Thiên Chúa.

 

 

Chương 16: HÃM DẸP CÁC GIÁC QUAN

   Xem sự đoan trang bên ngoài thật tự nhiên của Saviô chúng ta dễ dàng kết luận là Thiên Chúa đã dựng nên em như vậy. Nhưng những ai biết em cách mật thiết và chăm sóc giáo dục em đều có thể  quả quyết rằng đã có một cố gắng thật lớn lao nơi em cùng với sự trợ giúp của ơn Chúa.

   Đôi mắt em thật linh động khiến em phải kiềm chế bằng cả sức đàn áp không nhỏ. Nhiều lần em thổ lộ cùng các bạn hữu: “lúc ban đầu, mình áp đặt một quy luật tuyệt đối để ra lệnh cho đôi mắt và điều đó thật là mệt và đôi khi vì thế mình bị nhức đầu ghê gớm”. Em canh giữ khóe nhìn của em đến mức ai biết em, cũng không nhớ được em đã ngó nhìn một điều chi không xứng hợp với sự nết na nhiệm nhặt.

   Em thường nói: “Đôi mắt là hai chiếc cửa sổ, qua đôi mắt người ta đưa vào những gì mình muốn, còn chúng ta, qua cửa sổ của đôi mắt này, ta có thể đưa vào một Thiên thần hay thằng quỷ với sừng nhọn và để một trong hai làm chủ cõi lòng ta”.

   Một hôm có một chú bé ở đâu mang vào nhà cách trơ trẽn một tờ báo với những hình ảnh thô tục và vô đạo. Cả một nhóm trẻ quây quanh chú bé để xem các bức hình hấp dẫn có sức làm đỏ mặt cả một tên thổ phỉ hay một người ngoại đạo. Saviô chạy ngay tới, cứ tưởng là các bạn đang xem những ảnh thánh.

 Tới gần, Saviô tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi cầm lấy tờ báo như thể chơi giỡn và không kiêng nể, xé vụn tờ báo ra. Các bạn kinh ngạc quá, nhìn nhau không nói được lời nào. Saviô mới nói với họ:

   Chúng ta thật đáng thương! Chúa đã ban cho ta đôi mắt để chiêm ngắm vẻ đẹp của tạo thành, mà các bạn lại dùng nó để nhìn ngắm những cái ghê tởm do sự độc ác của con người nghĩ ra, để làm mất linh hồn của chúng ta sao? Các bạn đã quên rồi sao điều đã bao lần được rao giảng cho chúng ta? Chúa Kitô đã nói cùng ta là chỉ cần có một cái nhìn xấu xa là đủ để làm dơ bẩn linh hồn ta bằng một tội phạm (Mt 5,28), thế mà các bạn lại muốn con mắt các bạn no nê những điều xấu xa này sao?

   Một cậu bé trả lời:

   Nhưng chúng tớ chỉ nhìn những hình ảnh này để cười thôi mà.

   Phải, phải, để cười thôi mà, trong lúc chờ đợi này, các bạn chuẩn bị cho mình đi xuống để cười thôi ư… nhưng liệu các bạn sẽ còn cười được chăng nếu các bạn không may ra xuống đó?

   Tên khác nói chen vào:

   Nhưng chúng tớ đâu có thấy các hình ảnh này xấu đến vậy?

   Nếu còn tệ hơn; không thấy xấu xa đến như vậy khi các bạn nhìn những điều đáng tởm này, đó là dấu chứng tỏ con mắt các bạn đã có thói quen nhìn chúng, và những thói quen này không cất bỏ tội đi được: nó còn làm cho các bạn đáng tội hơn. Ôi thánh Gióp! Thánh Gióp! Ngài đã cao niên, Ngài là một vị thánh, một cơn bệnh đã buộc Ngài phải ngồi trên đống phân, thế mà Ngài đã làm một giao kèo với đôi mắt của Ngài: Ngài không cho chúng một sự tự do nào trong chuyện không trong sạch (Gióp 33,1).

   Lần này, thì mọi người ngậm tăm, và không ai dám quở trách Saviô, hay góp thêm một nhận xét nào khác.

   Nết na với đôi mắt, Saviô còn biết giữ miệng lưỡi cách kỹ lưỡng. Nếu có ai nói, dù đúng, dù sai cũng im lặng và em thường tự cắt đứt lời nói của mình để cho các bạn khác nói. Các thầy dạy và các bề trên của em đều đồng loạt quả quyết là họ không bao giờ có dịp nào để cho em một nhận xét về một lời nói không thích hợp tại lớp, khi học, khi ở nhà thờ. Hơn thế cả khi em bị sỉ nhục, em cũng biết kiềm chế lời lẽ của em và làm cho mặt em lắng đọng![59]

   Một hôm, em nhắc nhở một trong các bạn em hãy lưu ý đến một thói quen xấu. Thay vì tiếp nhận lời nhắc nhở nhỏ với lòng biết ơn, bạn hãy nổi sùng cách dữ tợn. Bạn ấy không ngớt lời sỉ nhục, đấm đá Saviô. Saviô dư sức trả đòn để bạn kia biết điều, vì em lớn hơn, khỏe hơn. Trái lại em chỉ báo thù theo cách thế Kitô hữu. Mặt em đỏ bừng, đúng như vậy, nhưng em khắc chế làn sóng giận dữ đang dâng lên trong em và ôn tồn lên tiếng.

   Tớ tha cho cậu, cậu đã làm sai, nhưng cậu đừng tái diễn lại như thế với các bạn khác.

   Còn có thể nói thêm gì về việc Đaminh hãm dẹp các giác quan? Cha chỉ xin đan kể ra đây ít sự kiện:

   Mùa đông, em bị nứt nẻ đến buốt lạnh ở tay. Nhưng dù đau đớn đến thế nào, người ta vẫn không nghe em thốt lên lời kêu ca, hay tỏ cử chỉ than phiền. Em lại còn tỏ vẻ sung sướng là đàng khác.

   Em nói:

   Các vết nứt buốt càng to, chúng lại càng có lợi cho sức khỏe. Em có ý nói đến sức khỏe của linh hồn.

   Một số đông các bạn em quả quyết rằng trong đợt lạnh lớn của mùa đông, mùa đông ở Torino với giá buốt và tuyết phủ, em vẫn có thói quen đi lại chậm rãi trong lớp, để không mất đi một cơ hội chịu đau đớn và làm việc đền tội nào. Một trong các bạn em làm chứng: “Tôi đã thấy nhiều lần vào giữa tiết đông giá buốt nhất, Savio lấy kim và ngòi bút ra rạch nát da và thậm chí cả thịt, để tạo nên các vết thương cho mình nên giống Thầy chí thánh hơn”.

Trong các nhóm trẻ, luôn có những bạn không bao giờ bằng lòng về bất cứ chuyện gì cả. Họ càm ràm về nghi lễ ở nhà thờ quá dài, càm ràm về kỷ luật, càm ràm về bữa ăn hay các thức ăn ở bàn ăn; họ luôn thấy có vấn đề để kêu ca.

Những đứa trẻ này là thánh giá đích thực cho các bề trên của chúng; bởi sự bất mãn của một người chuyển sang những người khác, có khi tác hại lớn đến cả nhóm. Saviô thì hành động ngược hẳn lại.

Không bao giờ đôi môi em mở ra những lời than phiền về cái nắng mùa hạ hay cái lạnh mùa đông. Dù thời tiết tốt hay xấu, em vẫn luôn luôn bình thản, tươi vui. Dù có được cho ăn như thế nào ở bàn ăn, em cũng luôn luôn bằng lòng về mọi sự. Và hơn thế, với nghệ thuật đáng ca ngợi, em còn tìm được cách để dùng dịp đó như phương thức hãm mình. Khi các bạn chê trách một món ăn, vì nấu nhũn quá, hay quá lạt, hoặc quá mặn, hay vô vị, thì ngược lại, em quả quyết là em ăn thấy ngon, và hợp gu lắm!

Em tập được thói quen ở lại nhà cơm sau các bạn để nhặt những mục bánh dư lại trên bàn ăn hay rớt xuống đất, để ăn như thể ăn chiếc bánh ngọt. Có ai thấy mà tỏ vẻ ngạc nhiên, em dấu ngay tinh thần hy sinh hãm mình bằng cách lên tiếng: “người ta không ngoặm đầy miệng những tấm bánh nhỏ; khi chúng chỉ là những miếng nhỏ; thì răng càng phải đỡ làm việc”.

Em nhặt lại các đồ ăn dư thừa, súp, các phần ăn còn sót… và ăn hết, và em làm chuyện đó, nào phải do tham ăn, vì em thường dành phần của em cho các bạn. (Vào thời đó, của ăn đâu có được dư giả).

Khi người ta hỏi em tại sao em chịu cực nhọc để thu lượm của dư mà biết bao bạn khác ghê sợ, em trả lời: “Mọi cái chúng ta có ở trần gian là ơn huệ quí báu Thiên Chúa ban cho chúng ta; nhưng giữa các ơn huệ, không kể ơn thánh sủng, thì ơn huệ lớn lao nhất là của ăn nuôi sống chúng ta. Một chút vụn đồ ăn đều đáng chúng ta tạ ơn Chúa và phải được nhặt lại một cách cẩn thận nhất”.

Đánh giầy, chải quần áo của các bạn, giúp đỡ các bạn đau ốm bằng các việc phục vụ khiêm cung nhất, quét nhà, làm mọi chuyện khác hệt như thế, đối với em là những giờ giải trí dễ chịu. Em thường nhắc lại: “Mỗi người phải làm điều mình có thể làm. Tôi không có khả năng làm những chuyện lớn, nhưng chuyện gì tôi có thể, tôi muốn làm vì vinh danh cao cả của Thiên Chúa; tôi hy vọng rằng trong lòng tốt lành vô cùng của Ngài, Thiên Chúa đoái thương nhận các việc hèn tôi tiến dâng lên Ngài đó.”

Saviô rất khiêm nhường. Em nói cách chân thành: “Tôi chẳng tốt là bao; tôi trông cậy Chúa sẽ thương tôi và bằng lòng với đôi chút việc này, bởi tôi làm vì yêu mến Ngài.”

Cha không nói đến vô vàn các chuyện khác tương tự thế. Mọi chuyện đều đồng thanh chứng tỏ tinh thần đền tội, bác ái và hãm dẹp mọi giác quan của Saviô cao độ đến mức nào; và đồng thời nhân đức của em thật khôn lanh trong cái nghệ thuật biết lợi dụng các dịp to và nhỏ, các chuyện tự nó không đáng kể, để lớn lên trong sự thánh thiện và trong công đức trước mặt Chúa.

 

Lời tâm niệm

Một con người đoan trang, đứng đắn, trong sạch, tràn đầy yêu thương, nghị lực phải là một con người không ngại hãm mình, hy sinh.

Kẻ hãm mình, không muốn thấy và cảm nghiệm hết mọi sự thế gian, mới giữ được tấm lòng trong sạch, mới có con mắt xuyên suốt để nhìn thấy Thiên Chúa.

Don Bosco thật cẩn thận miêu tả cho chúng ta hay Đaminh đã biết hãm mình như thế nào.

Anh đã giữ gìn con mắt thật trong sạch, xa lánh mọi hình ảnh xấu.

Anh đã gìn giữ miệng lưỡi để chỉ nói những lời dịu dàng. Cuộc đời anh không phải luôn luôn là bông hồng. Có lần một bạn tống anh một cú nên thân, với lời lẽ: “Đấy, đi mà mách với Don Bosco”, lần khác một bạn tát túi bụi vào anh, nguyền rủa: “Cút đi, đồ ho lao”. Anh vẫn tha thứ.

Thời ấy cuộc sống rất khổ cực, ăn không đủ no, biết bao lần Saviô nhường cơm cho bạn, vui lòng nhặt lại những mụn bánh vụn còn dư sau bữa để ăn, luôn biết tạ ơn Chúa vì của ăn nuôi sống Chúa ban cho.

Dù giá, rét, nóng lạnh, Saviô chấp nhận tất cả. Anh luôn vui lòng và tự nguyện chịu thêm những đau đớn nơi thân xác vì yêu mến Chúa.

Viết về những hy sinh hãm mình của cậu bé Saviô, Don Bosco cho ta thấy Ngài quí chuộng các hy sinh hãm mình đến mức nào, chính Ngài cũng mang áo nhặm và chấp nhận kỷ luật cuộc sống cách can đảm phi thường.

Giáo dục chính là rèn luyện bản thân trên con đường tu đức kiên cường. Chúng ta không được phép ở ngoài con đường đó.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Saviô hãm dẹp đôi mắt thế nào?

- Saviô luôn hãm dẹp đôi mắt không nhìn bắt cứ gì vượt quá mức của đức nết na.

  • Saviô cầm hãm lời ăn tiếng nói thế nào?

- Saviô không cắt ngang lời bạn, không nói gì sai trái, không buông lời cáu giận với kẻ thóa mạ.

  • Saviô hãm dẹp xúc giác thế nào?

- Saviô chấp nhận giá buốt và đôi khi còn làm những việc đền tội phạt xác.

 

CHƯƠNG 17: HỘI BẠN ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

SAVIÔ HOẠT ĐỘNG THEO TÔN CHỈ HỘI BẠN ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

Việc thành lập Hội Bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm

Có thể nói toàn thể cuộc sống Saviô là một hành vi sùng kính Đức Mẹ rất thánh. Em không để lỡ bất cứ dịp nào để tôn vinh Mẹ. Năm 1854, Đức Giáo hoàng tuyên bố tín điều Đức Mẹ được thụ thai vô nhiễm nguyên tội. Saviô nhiệt tình ước ao muốn làm cho ý nghĩa danh hiệu cao cả mà Giáo hội dành cho đức Nữ Trinh thiên đàng được sinh động và trường tồn trong chúng ta. Em thường nói:

-   Tôi ước ao làm một cái gì đó để tôn kính Mẹ, nhưng phải làm chuyện đó mau lên, vì thời giờ còn lại quá  ít cho tôi.

Đi theo hướng lộ của đức ái đầy chuyên cần em luôn có, em chọn một vài người trong số các bạn trung kiên của em và mời gọi họ cùng với mình liên kết lại để tạo thành Hội các bạn Đức Mẹ Vô nhiễm.

Mục đích là để có được cho mình sự che chở của Đức Mẹ Thiên Chúa trong khi sống và trong giờ chết. Hai phương thế giúp đạt mục tiêu này là: thực thi và cổ võ các việc thực hành đạo đức Kính Đức Mẹ vô nhiễm, và việc năng rước lễ. Đồng ý với các bạn hữu của mình, em biên soạn một điều lệ cho Hội và sau nhiều công lao lo lắng, ngày 8-6-1856, chín tháng trước khi chết, em cùng các bạn[60] đọc bản điều lệ này trước bàn thờ Đức Mẹ rất thánh. Cha vui lòng viết lại bản điều lệ này với ước mong nó có thể là khuôn mẫu giúp cho các bạn khác cùng làm như vậy. Đây là nguyên văn:

Chúng tôi, Đaminh Saviô, v.v… (kế đến là tên các bạn khác) nhằm đảm bảo trong khi sống và khi chết mình được sự bảo trợ của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm rất thánh và để hoàn toàn tận hiến bản thân phục vụ Người, ngày mùng 8 tháng 6 này, tất cả chúng tôi sau khi đã được kiện cường bằng Bí Tích xưng tội và Thánh Thể, và quyết tâm tuyên hứa với Đức Mẹ một lòng sùng kính con thảo và bền bỉ, chúng tôi hứa trước bàn thờ Mẹ và với sự chấp thuận của Cha linh hướng của chúng tôi, là sẽ bắt chước bao lâu có thể Luy Comollo[61]. Bởi đó, chúng tôi cam kết:

 

Điều lệ Hội Bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm

  1. Tuân giữ nghiêm ngặt các Luật nhà.
  2. Tác động tốt với các bạn, nhắc bảo họ cách bác ái, thúc đẩy họ làm việc thiện bằng lời nói, và còn hơn thế nữa bằng gương sáng.
  • Tận dụng thời giờ cách chính xác. Nhằm đảm bảo cho mình được kiên trì trong nếp sống mà mình quyết tâm tuân hành, chúng tôi đem đến cho vị giám đốc của chúng tôi để Ngài duyệt và phê chuẩn bản điều lệ sau đây:

 

  1. Luật thứ nhất: Chúng tôi chấp nhận vâng lời triệt để các bề trên mà chúng tôi qui phục với niềm tin cậy vô giới hạn.
  2. Bổn phận thứ nhất và đặc biệt của chúng tôi sẽ là chu toàn các bổn phận của mình.
  3. Đức yêu thương nhau sẽ liên kết các tâm hồn chúng tôi lại, và làm cho chúng tôi yêu thương hết thảy các anh em chúng tôi, không phân biệt, chúng tôi sẽ nhắc nhở họ cách dịu dàng khi việc sửa bảo xét là ích lợi.
  4. Chúng tôi sẽ chọn nửa giờ hằng tuần để họp nhau lại, và sau khi kêu xin Chúa Thánh Thần, chúng tôi đọc một đoạn sách thiêng liêng, bàn luận về các tiến bộ của Hội xét về lòng sùng kính và về nhân đức.
  5. Nhưng cách riêng tư, chúng tôi răn bảo nhau về các khuyết điểm mà mình thấy buộc phải sửa mình.
  6. Chúng tôi sẽ quyết tâm tránh dù chỉ là một việc làm phật lòng nhau vô cùng nhỏ bé nào, chịu đựng các bạn hữu và các kẻ làm phiền hà cách kiên nhẫn.
  7. Không xác định bất cứ một kinh nguyện nào. Thời gian còn lại sau khi chu toàn bổn phận của mình sẽ được xung vào mục tiêu xem ra hữu ích hơn cả cho linh hồn chúng tôi.
  8. Tuy vậy, chúng tôi chấp hành vài việc thực hành sau đây:
  • Năng lui tới các Bí Tích mỗi khi có phép.
  • Chúng tôi tới cùng Bàn tiệc Thánh Thể hằng Chúa nhật, các lễ buộc, các tuần 9 ngày và các lễ trọng kính Đức Mẹ, và các thánh bổn mạng của Nguyện xá.
  • Trong tuần, chúng tôi cố gắng chịu lễ vào thứ năm, trừ khi chúng tôi bị cản trở bởi công việc hệ trọng.
  1. Mỗi ngày, cách riêng khi lần hạt, chúng tôi sẽ phó thác cách riêng cho Đức Maria Hội của chúng tôi, xin Mẹ cho chúng tôi được ơn bền đỗ.
  2. Chúng tôi sẽ nỗ lực mỗi thứ bảy dâng kính Mẹ Maria đầu thai vô nhiễm nguyên tội một việc thực hành đặc biệt, hay một hành vi sùng kính đặc biệt.
  3. Chúng tôi sẽ giữ tư thế đoan trang nhất trong kinh nguyện, trong sách thiêng, trong các giờ kinh phụng vụ, trong khi học và tại lớp.
  4. Chúng tôi sẽ gìn giữ với lòng ghen tương thánh lớn lao nhất Lời thánh thiêng của Thiên Chúa và ghiền gẫm những chân lý mình đã được lắng nghe.
  5. Chúng tôi sẽ tránh bất cứ một sự mất mát thì giờ nào để bảo đảm cho linh hồn khỏi các cơn cám dỗ thường tấn công mãnh liệt chúng tôi vào lúc nhàn rỗi; bởi đó:
  6. Sau khi đã hoàn tất các bổn phận của riêng bản thân mỗi người chúng tôi, chúng tôi sử dụng thời giờ rỗi trong những công việc hữu ích, như đọc sách đạo đức và các sách đào luyện hay đọc kinh.
  7. Nên chơi hay ít là có thể chơi sau bữa ăn, khi ra khỏi lớp, hay sau giờ học bài.
  8. Chúng tôi sẽ lo báo cho các bề trên chúng tôi hay tất cả những gì giúp ích cho hạnh kiểm tốt của chúng tôi.
  9. Chúng tôi cố gắng ít sử dụng phép xin bao lâu có thể, những phép mà các bề trên vì lòng tốt rộng rãi ban, bởi vì một trong các mục tiêu của chúng tôi chính là việc chu toàn các luật nhà, các luật mà rất thường bị vi phạm do lạm dụng các phép tắc trên.
  10. Chúng tôi tiếp nhận từ các bề trên những gì được dùng làm của ăn cho chúng tôi, mà không bao giờ than phiền về đồ ăn dọn ra và chúng tôi cùng sẽ ngăn ngừa các bạn khác khỏi than phiền.
  11. Ai muốn tham gia Hội này, trước hết phải tẩy rửa lương tâm mình bằng Bí Tích xưng tội và nuôi dưỡng mình bằng bàn tiệc Thánh Thể, nêu gương hạnh kiểm tốt qua một tuần lễ thử thách, đọc chăm chỉ điều luật này và hứa cùng Chúa và Đức Maria Vô nhiễm rất thánh là sẽ tuân giữ cặn kẽ.
  12. Ngày được tiếp nhận, “các người anh em” sẽ Rước lễ cầu xin Uy nhan Chúa thương ban cho người bạn mới các nhân đức bền đỗ, vâng lời và tình mến Chúa chân thành.
  13. Hội được đặt dưới sự bảo trợ của Mẹ Vô Nhiễm, và mang tên là Hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm, và chúng tôi sẽ mang ảnh Mẹ rất thánh vô nhiễm. Chính lòng tin tưởng chân thành, con thảo, vô giới hạn nơi Mẹ, tình yêu thương dịu dàng vô song đối với Mẹ, lòng sùng kính vững bền sẽ làm cho chúng tôi vượt qua được mọi cản trở, kiên cường trong các quyết định, nghiêm khắc với chính mình, thân thương với người bên cạnh, và chính xác trong mọi sự.

Đàng khác, chúng tôi khuyên các anh em của hội viết tên cực thánh Giêsu và Maria trước hết hơi cõi lòng và tâm trí, rồi trên sách vở và các đồ vật mình có trước mắt.

Chúng tôi xin cha Giám đốc xét các luật này và bày tỏ nhận định của Ngài, và đoan chắc với Ngài là tất cả chúng tôi hoàn toàn đặt dưới ý muốn Ngài. Ngài có thể sửa đổi các luật này như Ngài thấy là thích hợp.

Còn Đức Mẹ thì sao? Xin Mẹ hãy chúc lành cho các cố gắng của chúng con, vì chính Mẹ gợi nguồn cảm hứng để khai sinh ra Hội lành này. Xin Mẹ hãy đáp ứng những trông chờ của chúng con, đón nhận các nguyện vọng của chúng con, và chúng con được tà áo Mẹ bao che, được sự bảo trợ của Mẹ kiện cường, chúng con dám thách thức các cơn bão của biển động, vượt thắng các đợt tấn công của kẻ thù hỏa ngục. Được Mẹ nâng đỡ như vậy, chúng con hy vọng sẽ làm gương cho các bạn hữu, nên niềm an ủi cho các bề trên, nên con yêu của Mẹ, và nếu Thiên Chúa thương ban cho chúng con ơn và đời sống để có thể phục vụ Ngài trong thừa tác vụ linh mục, chúng con sẽ dùng hết cả sức của chúng con, để thi hành chức vụ ấy với hết cả nhiệt tình, và không cậy vào sức mình, nhưng cậy dựa không bờ bến vào sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng con có thể hy vọng sau vũng nước chắc chắn sẽ nhận được vào giờ cuối cùng triều thiên đời đời mà Thiên Chúa dành cho ai phụng sự Ngài trong tinh thần và trong chân lý”.

Cha Giám đốc nguyện xá đã đọc điều lệ sống nêu ở trên, và sau khi đã duyệt xét rất kỹ, Ngài chấp nhận với những điều kiện sau:

Các lời hứa này không buộc dưới sức mạnh của một lời khấn.

Cũng không buộc phải giữ nếu không sẽ mắc tội.

Trong các cuộc họp, nên quyết định vài việc thi hành đức ái bên ngoài, như lau sạch nhà thờ, coi sóc trẻ em hay dạy giáo lý cho em nào dốt nát nhất.

 

Chia nhau ra để mỗi ngày trong tuần đều có một vài người chịu lễ[62].

Không thêm vào bất cứ việc thực hành tôn giáo nào mà không có phép đặc biệt của bề trên.

Cần phải đề ra mục đích nền tảng là cổ súy lòng sùng kính Đức Mẹ vô nhiễm và Bí Tích Thánh Thể.

Trước khi tiếp nhận một ai, hãy cho người đó đọc chuyện cuộc đời Luy Comollo.

 

Lời tâm niệm

Hội các bạn Đức Mẹ Vô nhiễm đáng được kể là chúc thư của Đaminh Saviô. Điều lệ hội mang vang âm của một tâm hồn sốt sắng sâu đậm, được thúc đẩy bởi sự cuốn hút của sự thiện, muốn tạo nên nhiều nhóm bạn trẻ muốn sống và minh định cách sống Kitô hữu của mình.

Điều lệ của hội phát sinh từ con tim và cái đầu của Saviô. Nhưng em viết với sự cộng tác của anh Rua, của anh Giuse Bongiovanni thành nhiệt tình với nhà, với luật nhà, với các bề trên. Bongiovanni sau này còn lập ra hội Thánh Thể. Rồi trở thành linh mục đạo đức, tốt lành, nhiệt tâm, được chết có cha Bosco vị giám đốc thân yêu nâng đỡ, trong tình con thảo dịu dàng với Đức Mẹ.

Saviô lập hội Đức Mẹ Vô nhiễm vào năm 1855. Đến mùng 8 tháng 6 năm 1856, điều lệ hội được hoàn thành và được tuyên hứa dựa vào cuộc sống tông đồ của cả một năm đã qua. Trong các hội viên ban đầu, phải kể Rua, Bongiovanni, Cagliero.

Khoa sư phạm của Don Bosco bao gồm sự cộng tác của chính các học sinh, và chính là “một nền Kitô giáo trong hành động”. Cagliero quả quyết: “Tôi nhớ có cả một nhiệt huyết nơi các bạn trẻ tốt lành hơn cả đang nỗ lực thực thi các nhân đức một cách phi thường: như hãm mình vào thứ bảy, tay đeo áo nhặm, nhịn ăn trái cây, cầu nguyện với tư thế rất đoan trang, và với sự vâng lời thánh thiện, họ thực hành đức khiết tịnh, cách đặc biệt còn dám khấn giữ mình khiết tịnh cách tạm, hợp với lứa tuổi của chúng tôi.” Các bạn thuộc nhóm bạn trẻ của Saviô có thể sử dụng chính các luật và các hướng dẫn này phát xuất từ chính trái tim Saviô và từ chính cõi lòng đầy tình cha của Don Bosco để sống và làm việc tông đồ. Từ nay, thay vì đọc chuyện đời sống Luy Comollo như Don Bosco bó buộc, bạn hãy đọc một chuyện đời sống chan hòa hơn thế nhiều của chính người anh thánh của bạn, thánh Đaminh Saviô, do chính tay Don Bosco viết cho bạn. Con đường thánh thiện đang mở ra thật bao lao biết mấy và thôi thúc biết mấy cho bạn.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  1. Hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm được chính thức thành lập ngày nào? Bởi ai?

- Hội được chính thức thành lập ngày 8-6-1956, bởi thánh Đaminh Saviô, với sự giúp đỡ của á thánh Micae Rua, linh mục Bongiovanni.

  1. Hội nhắm mục tiêu gì?

- Thúc đẩy giữ luật nhà cặn kẽ, lôi cuốn các bạn vào cuộc sống tốt và dùng thời giờ không phí phạm.

  1. Hội đề cao đặc biệt các điều lệ nào?

- Vâng lời bề trên, hoàn thành bổn phận thi hành đức ái giữa các bạn trẻ.

  1. Hội đặc biệt sùng kính ai?

- Hội đặc biệt sùng kính Mẹ Vô Nhiễm và Chúa Giêsu Thánh Thể.

 

 

Chương 18: NHỮNG TÌNH BẠN THÂN THIẾT

CỦA SAVIÔ

Saviô Bạn của mọi người

Ai cũng là bạn của Saviô: Những ai không yêu thương em, thì cũng kính trọng em vì các nhân đức của em. Em biết sống tốt với hết mọi người. Em thật vững vàng trong nhân đức, đến nỗi em luôn được kêu mời chơi với một số bạn phá bĩnh để nỗ lực chinh phục họ về cho Chúa. Và em biết lợi dụng giờ giải trí, các trò chơi, các câu chuyện rất bình thường, để rút ra từ đó các lợi ích thiêng liêng. Tuy nhiên, những ai ghi danh vào Hội các bạn Đức Mẹ Vô nhiễm[63] đều là những bạn riêng của Saviô. (Em có biết bao nhiêu cách để tỏ những tình cảm yêu thương, những chú tâm đặc biệt). Họ họp lại khi thì trong các cuộc họp tinh thần, khi thì trong các việc thực hành đạo đức Kitô hữu. Các cuộc họp được thực hiện với phép của bề trên; nhưng được dẫn dắt và tổ chức bởi chính các bạn trẻ. Trong đó họ bàn về cách thức cử hành các tuần 9 ngày chuẩn bị cho các đại lễ, phân phối các đợt chịu lễ mà mỗi người phải lo thực hiện trong các ngày nhất định trong tuần, trao phó cho nhau các bạn trẻ cần tới sự trợ giúp hơn cả, và mỗi người chọn lấy khách hàng của mình, người được bảo trợ của mình, để dùng hết mọi cách được đức ái Kitô hữu gợi ra để đưa dẫn họ vào cuộc sống nhân đức.

Saviô thuộc số các bạn hăng say nhất, và có thể nói trong các cuộc hội bạn này, em hành xử như một vị thầy có tiếng nói quyết định. (Thế nhưng bình thường Saviô khiêm nhường ít nói khiến nhiều khi các bạn hầu như không để ý tới việc Saviô có mặt trong các cuộc hội).

Mối liên hệ thân thiết với Camillo Gavio

Cũng có thể kể tới một số bạn của Saviô tham dự các cuộc họp hội này và tham gia chặt chẽ với Saviô, nhưng bởi họ còn sống, nên theo sự khôn ngoan, ta không nói đến. Cha chỉ xin kể ra hai người bạn, nay đã được Thiên Chúa gọi về quê trời. Họ là Camillo Gavio chỉ ở với chúng ta có hai tháng nhưng thế cũng đủ để em để lại nỗi nhớ nhung thánh thiện về em nơi các bạn của mình.

Lòng đạo đức sáng ngời của em và thiên tài hội họa và điêu khắc to lớn của em đã khiến Ủy ban hành chính Thị xã Tortona giúp cho em tới được Tôrinô để theo đuổi việc học nghệ thuật. Em đã đau nặng tại quê em; và khi đến Nguyện xá, em còn đang trong thời kỳ tĩnh dưỡng, lại sống xa làng quê và thân quyến, sống bầu bạn với cả một đám bạn trẻ không quen biết, nên em đứng nhìn các bạn khác chơi đùa, mà vẻ ưu tư suy nghĩ lung lắm. Saviô thấy ngay, và vội chạy tới để an ủi. Saviô trao đổi với bạn Gavio những lời lẽ chính xác như sau:

Saviô khai mào:

-   Này bạn, chắc cậu chưa biết ai chứ?

-   Ừ, phải. Nhưng mình thoải mái khi ngắm các bạn khác vui chơi.

-   Cậu tên là gì?

-   Camillo Gavio, làng Tortona.

-   Cậu lên mấy?

-   Mình tròn 15 tuổi.

-   Sao mặt cậu lộ vẻ buồn bã thế? Cậu đau phải không.

-   Đúng, mình thực sự đã bị đau nặng; mình bị bệnh tim đập nhanh, đáng lý đã đưa mình xuống mồ rồi, và bây giờ mình chưa khỏi hẳn.

-   Cậu ao ước được khỏi chứ?

-   Không hẳn đâu, mình ước ao thi hành ý Thiên Chúa.

Những lời nói sau cùng này cho thấy Gavio là một câu bé có lòng đạo đức khác thường và tạo nên nơi cõi lòng Saviô một niềm an ủi chân tình; cho nên em tiếp lời với tất cả niềm thân mật:

-   Ai ước ao thi hành ý Thiên Chúa, người đó ước ao thánh hóa bản thân mình; vậy cậu có ý muốn làm thánh chứ?

-   Ý muốn ấy nơi mình thật to lớn.

-   Tốt lắm. Chúng mình sẽ tăng số các bạn hữu của chúng mình. Cậu sẽ là một trong số những bạn tham gia vào những gì chúng mình đang làm để làm thánh.

-   Điều cậu nói với mình thật đẹp; nhưng mình không biết phải làm những gì!

-   Mình sẽ nói với cậu bằng vài lời; cậu biết ở đây chúng mình làm cho sự thánh thiện hệ tại ở việc sống rất vui vẻ. Chúng mình chỉ lo sao tránh tội, như kẻ thù lớn nhất đánh cắp đi ơn sủng của Thiên Chúa và sự quân bình của tấm lòng, chúng mình lo chu toàn chính xác các bổn phận của mình và năng lui tới với các chuyện đạo đức. Cậu hãy bắt đầu ngay từ hôm nay viết điều đáng ghi nhớ sau đây cho cậu: Chúng ta hãy phục vụ Chúa trong niềm vui thánh.

Lời lẽ này như chất cam lộ làm dịu những ưu phiền của Gavio, khiến chàng thiếu niên cảm thấy đó là niềm an ủi đích thực. Hơn nữa, kể từ đó, Gavio trở thành bạn trung thành và người kiên trì bước theo các nhân đức của Saviô. Nhưng cơn bệnh đáng lý đã đưa Gavio tới cửa mồ, vẫn chưa chữa dứt căn, nên lại tái phát sau hai tháng, và bất kể những chăm sóc của các bác sĩ và bạn hữu, người ta không sao tìm được phương pháp để chữa trị. Sau vài ngày trở bệnh nặng, Gavio nhận lãnh các Bí Tích sau hết cách rất gương mẫu và phó thác linh hồn của em cho Đấng Tạo hóa ngày 29 tháng 12 năm 1856.

Đaminh nhiều lần tới thăm bạn vào lúc bạn bị bệnh, và xung phong qua đêm để coi sóc bạn, nhưng em không được phép. Khi em biết bạn đã trút hơi thở cuối cùng, em muốn đến xem bạn một lần chót, và nhìn bạn đã chết, em cảm động nói:

-   Chào nhé, Gavio yêu mến, mình thâm tín rằng bạn đã bay về trời; vậy bạn hãy chuẩn bị một chỗ cho mình. Mình sẽ luôn là bạn của cậu, bao lâu Chúa còn để mình sống, mình sẽ cầu nguyện cho linh hồn cậu được an nghỉ.

Sau khi cùng các bạn khác đi đọc kinh cầu cho các người đã qua đời tại phòng xác, em còn đọc những kinh khác trong suốt ngày. Rồi em mời một vài người trong số các bạn học tốt lành lên rước lễ, và em cũng rước lễ nhiều lần để cầu nguyện cho người bạn quá cố.

Đây là một trong số những điều em nói cùng các bạn:

-   Các bạn thân mến, chúng ta đừng quên linh hồn của người bạn của chúng ta. Mình hy vọng giờ đây bạn đã hưởng vinh quang trên trời; nhưng chúng ta không ngừng cầu nguyện cho linh hồn của bạn được an nghỉ. Tất cả những gì giờ đây chúng mình làm cho bạn, Thiên Chúa cũng sẽ lo liệu để những người khác một ngày kia cũng sẽ làm cho chúng ta.

 

Lời tâm niệm

Saviô vào nguyện xá của Don Bosco ngày 29-10-1854. Nhưng đến tháng 6 năm 1855 Saviô đã lập Hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm, và người bạn Gavio của chúng ta vào nguyện xá đầu tháng 10 năm 1855, đã được Saviô mời gia nhập Hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm của mình. Ta đã thấy Saviô làm tông đồ và chia sẻ nghĩa vụ tông đồ với các bạn của mình trong hội các bạn trẻ của mình như thế nào, cách riêng với bạn Gavio ở đây.

Saviô xứng đáng được coi là người sáng lập hội các bạn trẻ sống đạo, vui chơi lành mạnh, và học hành chăm chỉ và lôi cuốn các bạn khác vào cuộc sống tốt lành. Nay ta gọi là các hoạt động này là các nhóm bạn của Saviô. Tôn chỉ đã được Saviô vạch ra trong điều lệ của hội vác bạn Đức Mẹ vô nhiễm. Bạn hãy dùng những phương châm và gương sáng của Saviô để sinh động hóa nhóm bạn trẻ của bạn và tích cực làm tông đồ cho Chúa và Đức Mẹ noi gương anh Saviô.

Các câu 'Hỏi-Thưa'

  • Hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm sinh hoạt thế nào?

- Họ họp trong các cuộc họp tinh thần, trong các sinh hoạt đạo đức bàn về cách thức cử hành các tuần 9 ngày trước các đại lễ, bàn về việc xưng tội, rước lễ, và việc tông đồ thực hiện giữa các bạn trẻ.

  • Saviô hành xử thế nào?

- Em thuộc số các bạn hăng say nhất, và trong các cuộc họp em hành xử như một vị thầy có tiếng nói quyết định.

  • Một bạn trong hội Bạn Đức Mẹ vô nhiễm tên là Gavio được Saviô vạch cho chương trình nên thánh và làm tông đồ thế nào?

- Sự thánh thiện là sống rất vui vẻ, lo tránh tội, chu toàn chính xác các bổn phận, năng lui tới và lôi kéo các bạn thi hành các việc đạo đức.

 

Chương 19: CÁC MỐI GIAO HẢO CỦA SAVIÔ

VỚI BẠN Gioan Massaglia

 

 Saviô có những mối giao hữu dài lâu và thân mật với Gioan Massaglia quê ở Marmorito, xứ sở không xa Mondonio quê của Saviô là mấy.

Cả hai cùng đồng thời gia nhập Nguyện xá; họ ở cạnh thôn xóm với nhau; cả hai đều có chung ý muốn ôm ấp bậc giáo sĩ, với khát vọng chân thành làm thánh.

Một hôm Saviô nói với bạn:

-   Nói rằng chúng ta muốn làm linh mục chắc chắn là chưa đủ. Chúng ta còn phải nỗ lực chinh phục các nhân đức cần cho bậc sống này nữa.

-   Đúng đấy, người bạn trả lời, nhưng nếu về phần mình ta hết sức làm những gì mình có thể, thì Thiên Chúa chắc chắn sẽ ban cho ta ơn sủng cùng sức mạnh để ta đáng được ân huệ lớn lao này là trở nên các thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô.

Tới mùa Phục sinh, họ cùng các bạn trẻ khác thực hiện cuộc linh thao rất gương mẫu. Khi cuộc linh thao kết thúc, Saviô nói với bạn:

-   Mình muốn chúng ta là những bạn hữu đích thực, bạn hữu đích thực giúp nhau những chuyện về linh hồn; bởi thế mình ước ao từ giờ trở đi chúng mình người này phải đóng vai người nhắc nhở cho người kia trong mọi chuyện, góp phần vào lợi ích thiêng liêng. Vậy nếu bạn thấy mình có khuyết điểm gì, bạn hãy nói cho mình ngay, để mình sửa đổi: hay nếu bạn thấy có điều gì tốt mình có thể làm được, thì bạn đừng quên nhắc nhở cho mình.

-   Tớ sẵn sàng làm điều đó cho bạn, dù bạn không cần, nhưng bạn phải làm điều đó cho tớ nhiều hơn, bởi bạn biết, tớ lớn tuổi, lại do việc học và trường lớp, tớ phải đối diện với những nguy hiểm lớn lao hơn.

-   Thôi chúng mình hãy gạt sang một bên những lời khen lẫn nhau, và hãy giúp làm điều tốt có lợi cho linh hồn của nhau.

Từ thời gian đó, Saviô và Massaglia trở thành những bạn hữu đích thực, và tình bạn của họ vững bền, vì nó được xây dựng trên nhân đức; bởi họ đã vào cuộc đua về gương sáng và các lời khuyên bảo để giúp nhau tránh điều xấu và thi hành điều thiện.

Cuối năm học, khi kết thúc các kỳ thi, các bạn trẻ đều được phép đi nghỉ hè hoặc với Cha Mẹ hoặc với bà con ho hàng.

Có một số bạn được thúc đẩy bởi ý muốn tiến bộ trong học hành và tham gia tốt hơn các việc thực hành đạo đức, đã thích ở lại Nguyện xá hơn. Trong số đó có Saviô và Massaglia. Cha thì biết cha mẹ các em bồn chồn mong đợi các em, và chính các em cũng cần nghỉ cho đỡ mệt, nên cha nói với cả hai:

-   Sao các con không đi nghỉ hè vài ngày:

Hai em này thay vì trả lời, đã cười ròn.

-   Các con muốn nói gì với cha qua tiếng cười này?

Saviô trả lời:

-   Chúng con biết cha mẹ chúng con sung sướng chờ đón chúng con về nhà, chúng con cũng yêu mến cha mẹ và rất sung sướng về gặp cha mẹ; nhưng chúng con biết con chim bao lâu ở trong lồng thì không có tự do, đúng vậy; nhưng đàng khác nó tránh khỏi diều hâu. Trái lại nếu nó xổ lồng, nó bay đi đâu tùy thích, nhưng từ lúc này sang lúc khác, nó có thể rơi vào móng vuốt của con diều hâu hỏa ngục.

(Đây là những tháng 8 và tháng 9 năm 1855. Saviô học các lớp cấp tốc với thầy Bonzaninô ở ngoài nhà, nên có lý do xin ở lại kỳ hè để làm việc. Còn Massaglia thì chuẩn bị qua kỳ thi để tuyển vào mặc áo Giáo sĩ. Thi xong, Massaglia ở lại với Don Bosco như thầy tư giáo.)

Dù nghe hai em nói vậy, cha xét thấy nên cho cả hai em về nhà một thời gian vì lợi ích của sức khỏe của cả hai. Hai em đã tuân theo ý của cha chỉ vì vâng lời, và ở lại nhà đúng trong những ngày mà cha đã ra lệnh cho họ.

Nếu cha muốn viết lên những nhân đức của cậu thiếu niên Massaglia, cha buộc phải lấy lại phần lớn những gì đã viết về Saviô, bởi bao lâu còn sống, Massaglia trung thành bước theo Saviô. Massaglia có sức khỏe tốt, có những triển vọng tuyệt hảo về sự nghiệp học hành. Khi đã học xong lớp văn chương cổ điển, em hoàn thành tốt đẹp kỳ thi tuyển mặc áo giáo sĩ. Nhưng bộ áo giáo sĩ mà em hằng yêu thích và tôn quí đó, em chỉ mang được có mấy tháng. Bị chứng đau cuống phổi, mà lúc ban đầu xem ra có vẻ chỉ là cảm lạnh, em đã không muốn cắt ngang việc học. Vì ước mong cho con mình được chữa chạy tận căn, và cắt đứt dịp học cho con, cha mẹ em đã đưa em về nhà. Trong thời gian ở lại tại nhà này, em đã viết cho bạn Saviô của em lá thư sau đây:

 

Bạn mến,

Mình nghĩ chỉ về nhà một vài ngày rồi lại trở lại Nguyện xá ngay, nên mình đã để mọi đồ đạc học hành ở đấy. Nhưng bây giờ chuyện xoay chuyển thể khác, có cơ kéo dài, và bệnh tình của mình ngày càng thêm bất ổn. Bác sĩ nói với mình là tình trạng tiến triển tốt hơn. Mình thì lại thấy là tệ hơn. Thử xem ai có lý. Đaminh thân mến, mình thấy đau buồn lắm vì xa bạn, và xa Nguyện xá, vì mình không có cơ hội thuận tiện để tham dự các việc đạo đức. Niềm an ủi độc nhất của mình là nhớ lại các ngày chúng ta đã định với nhau để dọn mình là cùng nhau đi chịu lễ.

Nhưng mình vẫn hy vọng là chúng ta tuy xa nhau bằng thân thể, nhưng không phải bằng tinh thần.

Trong khi chờ đợi, mình xin bạn vào nhà học chung và làm một vụ trinh sát trong hòm sách của mình. Bạn sẽ thấy ở đó những vở viết tay của mình, và ở gần đó có cả cuốn sách của Kempis, tức là sách Gương Chúa Giêsu Kitô. Bạn bó tất cả lại thành một bó và gửi cho mình. Bạn lưu ý là sách đó bằng Latinh; dù sách dịch mình đọc rất hay, nhưng sách dịch vẫn là sách dịch, và mình không cảm thấy cái hay như mình cảm nhận được ở trong nguyên bản Latinh. Mình mệt vì chẳng làm gì; nhưng bác sĩ lại cấm mình học. Mình đi dạo miết trong phòng và thường tự nhủ: Liệu tôi sẽ khỏi bệnh này chăng? Tôi sẽ trở lại để gặp lại các bạn chăng? Đây phải chăng là cơn bệnh sau hết của tôi? Dù những chuyện này có thế nào đi nữa, chỉ có Thiên Chúa là Đấng biết mà thôi, mình thấy là mình sẵn sàng thi hành trong cả ba trường hợp đó thánh ý rất đáng yêu của Thiên Chúa.

Nếu bạn có một lời khuyên tốt nào, bạn hãy viết cho mình nhé. Bạn hãy kể cho mình sức khỏe của bạn thế nào; bạn hãy nhớ tới mình khi cầu nguyện và nhất là khi bạn chịu lễ. Can đảm nhé. Bạn hãy yêu mình hết lòng trong Chúa; dù rằng chúng không thể bầu bạn cùng nhau lâu dài trong đời sống hiện tại, mình cũng hy vọng là chúng ta sẽ có thể một ngày kia sống hạnh phúc trong tình bầu bạn ở cõi đời đời.

Cho mình chào các bạn hữu và cách đặc biệt các anh em trong hội bạn Đức Mẹ vô nhiễm. Chúa ở cùng bạn và bạn hãy tin mình luôn luôn là người bạn hết lòng yêu mến.

Gioan Massaglia

(Tháng tư 1856)

Saviô thực hiện yêu cầu của bạn và gửi cho bạn những gì bạn xin, cùng với lá thư sau đây:

 

Bạn Massaglia thân yêu,

Thư của bạn làm mình rất sung sướng bởi nhờ lá thư này, mình biết chắc bạn còn sống, bởi vì sau khi bạn đi, chúng mình đã không được tin gì về bạn, và mình không biết phải đọc kinh Sáng Danh hay đọc kinh Từ vực sâu. Bạn sẽ nhận được những gì bạn yêu cầu. Mình chỉ phải nhắc bạn rằng Kempis là một người bạn rốt, nhưng ông đã chết, và không dời khỏi chỗ ở nữa. Vậy bạn phải đi tìm ông ta, lay tỉnh ông ta, đọc ông ta và nỗ lực thi hành những gì bạn tìm được khi đọc.

Bạn tiếc xót về cái thuận lợi chúng mình có ở đây để thực hiện các việc đạo đức, và bạn có lý. Khi mình ở Mondonio, mình cũng cảm thấy khốn khổ như vậy. Mình đã tìm cách thay thế bằng việc mỗi ngày đi viếng Chúa Thánh Thể một lần, cố gắng bao lâu có thể đem theo với mình nhiều bạn khác. Ngoài cuốn sách Gương Chúa Giêsu của Kempis, mình đọc sách Kho tàng giấu ẩn là Thánh lễ của Chân phước Leonardo. Nếu bạn thấy như thế là tốt, bạn cũng hãy làm như thế. Bạn nói với mình là không biết bạn sẽ trở lại Nguyện xá để thăm chúng mình chăng; bộ khung của mình xem ra cũng nhão rồi, và mọi sự xem ra tiên báo rằng mình cũng đang đi những bước dài để tiến tới kết điểm của việc học hành  và đời sống của mình. Dẫu sao, chúng ta cứ làm thế này: chúng ta sẽ cầu nguyện cho nhau, để cả hai chúng ta có thể chết lành. Ai trong hai chúng ta sẽ là người lên thiên đàng trước thì chuẩn bị chỗ cho bạn của mình, và khi bạn của mình sẽ lên gặp, thì đưa tay ra để dẫn bạn mình vào nơi ở trên trời[64].

Xin Thiên Chúa giữ bạn luôn ở trong ơn nghĩa của Ngài, và hỗ trợ chúng ta làm thánh, và làm thánh sớm, vì chúng ta thiếu thời gian. Tất cả các bạn hữu chúng ta mong mỏi ngày bạn trở lại Nguyện xá và chào bạn cách thân yêu trong Chúa.

Và mình, với tình thương yêu huynh đệ, tuyên bố sẽ luôn luôn là

Người bạn rất yêu thương

Đaminh Saviô

(Tháng tư 1856)

 

Bệnh của bạn trẻ Massaglia lúc đầu xem ra nhẹ; nhiều lần xem ra đã hoàn toàn qua khỏi, nhưng rồi nhiều lần lại tái hiện, cho tới khi bất ngờ Massaglia lâm vào giây phút cuối cùng của cuộc sống.

Linh mục Valfrè, nhà thần học, cha xứ nhiệt tình của Marmoritô, vị linh hướng của Massaglia trong kỳ hè viết thư đưa tin:

“Em có thời giờ để tiếp nhận những sự trợ lực của đạo công giáo chúng ta cách hết sức gương mẫu. Em chết cái chết của người công chính bỏ trần gian để bay về trời”[65].

Mất đi người bạn này, Saviô cảm nghiệm nỗi đau khổ sâu xa, nhưng em chấp nhận thánh ý Thiên Chúa và khóc bạn nhiều ngày. Đây là lần đầu tiên cha thấy gương mặt thiên thần này buồn bã và khóc vì đau đớn, niềm an ủi duy nhất của em là cầu nguyện và xin cầu nguyện cho người bạn đã chết. Nhiều lần người ta nghe em thốt lên:

-   Massaglia thân yêu, bạn chết đi rồi, và mình hy vọng bạn đang bầu bạn với Gavio trên thiên đàng; còn mình, bao giờ mình sẽ đi tới đó để gặp lại bạn trong niềm hạnh phúc vô biên trên trời?

Trong suốt thời gian Saviô còn sống sau cái chết của bạn, Saviô luôn nhớ tới Massaglia trong các việc đạo đức và thường nói rằng em không thể đi dự Thánh lễ hay dự các việc thực hành đạo đức mà không gởi gắm cho Thiên Chúa linh hồn của người bạn mà khi còn sống đã hết sức mình làm ích cho em. Nỗi mất mát này thật là đau đớn cho trái tim rất dịu dàng của Saviô và chính sức khỏe của em cũng vì thế mà suy sụp đáng kể.

 

Lời tâm niệm

Các mối tình bạn Saviô ấp ủ là có thực. Saviô đâu phải là gỗ đá, thật khác xa thế. Nhưng mục đích của các mối tình bạn này là siêu nhiên. Các bức thư trích lại trong chương này là một bằng chứng. Don Bosco cũng khích lệ các tình bạn này. Hội của các bạn Đức Mẹ vô nhiễm giúp cho Saviô thi hành việc tông đồ cách tuyệt hảo đúng là hội các bạn thánh trong những năm 1855-1860. Thư của Massaglia đọc như thấm nước mắt, có cái buồn thấm nhiễm mọi sự, có cái tình dịu dàng, sâu xa và nhạy cảm, rất gần với những tiếng đập cuối cùng của trái tim. Còn thơ trả lời của Saviô thì rất vui vẻ, tốt lành, thanh thản giống lối văn của Don Bosco. Không cần nói xa vời gì nữa, đời sống chúng ta là phải nhằm bảo đảm cuộc sống thân thương, nhưng là để giúp nhau nên thánh, để giúp nhau làm việc tông đồ, để đảm bảo cộng đoàn thánh thiện và tràn đầy hy sinh mà Chúa đã tạo nên cho chúng ta bằng tiếng gọi của Ngài.

Massaglia chết ngày 20-5-1856. Hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm tuy chỉ được long trọng tuyên hứa vào 8-6-1856, nhưng đã hoạt động ngay cả vào thời kỳ trước đó.

 

Các câu 'Hỏi-Thưa'

  • Tình bạn giữa Saviô và Massaglia triển nở thế nào?

- Cả hai ở gần thôn xóm với nhau, cả hai đều ước muốn làm linh mục và phát huy các nhân đức, cả hai sau một cuộc linh thao sốt sắng hứa sẽ là người nhắc nhở cho nhau trong những gì có ích lợi cho linh hồn của nhau.

  • Tại sao tình bạn của họ vững bền?

- Họ là những bạn hữu đích thực, và tình bạn của họ vững bền vì nó được xây dựng trên nhân đức, và họ đã vào cuộc đua về gương sáng và các lời khuyên nhau tránh điều xấu và thi hành điều thiện.

  • Saviô khóc bạn thế nào?

-  Lần đầu tiên dường như thấy gương mặt thiên thần của Saviô buồn bã khóc vì đau đớn. Suốt quãng đời còn lại, Saviô nhớ cầu nguyện và xin các bạn cầu nguyện cho Massaglia.

 

Chương 20: NHỮNG ƠN ĐẶC BIỆT VÀ NHỮNG SỰ
VIỆC NGOẠI THƯỜNG CỦA SAVIÔ

Cho tới bây giờ cha đã kể lại những chuyện không có vẻ gì phi thường, nếu chúng ta không muốn gọi là phi thường một hạnh kiểm luôn tốt lành, vẫn cứ tiếp tục ngày một nên hoàn thiện hơn bằng cuộc sống vô tội, bằng những việc đền tội và việc thực hành đạo đức. Ta cũng có thể gọi là phi thường đức tin sinh động của em, đức cậy vững vàng và đức ái nồng cháy của em và sự bền lòng trong việc thiện cho tới hơi thở cuối cùng. Nhưng ở đây, cha muốn nêu ra những ơn huệ đặc biệt và một số sự kiện ngoại thường, mà có lẽ sẽ là đề tài cho sự phê phán. Do đó, cha nghĩ là nên báo cho các độc giả và những gì cha kể lại ở đây hoàn toàn giống với các sự kiện được ghi lại trong Kinh Thánh và trong đời sống các thánh. Cha kể lại những chuyện cha đã thấy với chính mắt mình và đảm bảo rằng cha viết sự thật và chỉ viết sự thật; cha hoàn toàn phó mặc mình cho những suy nghĩ của các độc giả thận trọng của cha. Vậy cha xin kể:

 

Saviô xuất thần trước Thánh Thể

Nhiều lần vào nhà thờ, đặc biệt trong ngày em chịu lễ hay ngày đặt Mình Thánh Chúa, Saviô ở như xuất thần, thoát ra khỏi thế giới của giác quan; đến độ em để thời gian trôi qua có khi quá lâu, nếu em không được gọi trở về với các bổn phận của mình.

Xảy ra một hôm em vắng không ăn sáng, không đi học, vắng khỏi cả bữa trưa, và không ai biết em ở đâu; ở phòng học cũng không có mặt, ở giường cũng không, cha giám đốc được báo cho biết, ngài nghi ngờ ngay về chuyện đã thực sự xảy ra. Saviô phải ở trong nhà thờ thôi, vì nhiều lần đã xảy chuyện đó. Ngài vào nhà thờ. Đến chỗ ca đoàn và thấy em ở đó, cứng đơ như đá.

Em dùng chân này đặt trên chân chia, một tay tựa vào giá đặt sách hát, tay kia đặt trên ngực, mắt nhìn vào nhà tạm. Môi không mấp máy, cha Giám đốc gọi em, không thấy em trả lời gì cả. Ngài lay em và khi ấy em quay lại nhìn ngài và nói:

- Ồ, thánh lễ đã xong rồi ư?

- Con xem này, cha Giám đốc tiếp lời, chỉ cho em chiếc đồng hồ, đã hai giờ rồi.

Em khiêm cung xin lỗi vì đã vi phạm các luật của nhà, và cha Giám đốc bảo em đi ăn cơm trưa, và dặn:

- Nếu có ai hỏi con: “Nãy cậu ở đâu?”, con sẽ trả lời là con vừa thi hành một lệnh của cha. Cha nói vậy là để tránh những câu hỏi không thích hợp, mà các bạn có thể nêu ra.

Một hôm khác, sau khi cha đã hoàn tất việc tạ ơn bình thường sau thánh lễ, cha sắp ra khỏi phòng áo, thì nghe thấy có tiếng như của ai đang thảo luận. Cha đi xem và thấy Saviô nói, rồi ngừng, như để chỗ cho người trả lời. Giữa nhiều điểm khác, cha nghe rõ ràng các lời này:

- Vâng, lạy Thiên Chúa của con, con đã nói với Chúa và con xin thưa lại cùng Chúa: con yêu Chúa và con muốn yêu Chúa đến chết. Nếu Chúa thấy con sắp xúc phạm đến Chúa, thì xin cho chết đi: vâng, thà chết trước, còn hơn phạm tội.

Có đôi khi cha hỏi em: - Con làm gì trong những lúc con nán trễ lại như vậy, em trả lời với tất cả sự đơn sơ:

- Khốn khổ con, con bỗng bị chia trí, và lúc đó con mất mối dây các kinh nguyện của con, và con hình như được thấy những sự thật đẹp, khiến thời gian trôi qua như trong chốc lát.

 

Saviô dẫn Don Bosco tới thăm một bệnh nhân sắp chết

Một hôm em vào phòng của cha và nói:

- Cha mau đi với con, có một chuyện tốt phải làm.

- Con muốn dẫn cha đi đâu? Cha hỏi.

- Mau lên cha, em nói thêm, mau lên cha.

Cha vẫn còn ngại, nhưng em cứ nhấn mạnh, và cha đã nhiều lần nghiệm thấy tầm quan trọng của những lời mời gọi này.[66] Cha liền theo em, em ra khỏi nhà, đi qua một đường phố, rồi đường phố thứ hai, rồi đường phố thứ ba, nhưng không ngừng lại, cũng chẳng nói chẳng rằng; rồi sau cùng đi sang một đường phố khác. Cha đi theo em từ cửa nhà này sang cửa nhà khác, cho tới khi em ngừng lại. Em bước lên cầu thang, lên tới lầu ba, và kéo chuông báo.

- Đây là nơi mình phải vào đấy - em nói, rồi đi khỏi đó ngay.

Người ta mở cửa cho cha.

- Ồ, xin cha đến ngay, họ nói với cha, cha đến ngay, nếu không, không thể kịp nữa. Chồng của con chẳng may trở thành người Tin Lành; bây giờ anh sắp chết và xin được giúp đỡ để chết như người Công giáo tốt.

Cha vội đến bên giường bệnh nhân đang tỏ ra rất lo lắng muốn sắp xếp các chuyện lương tâm – Các chuyện lương tâm của anh liền được ổn định một cách mau mắn nhất, thì vừa đúng lúc cha sở giáo xứ thánh Augustino, người đã được người nhà cho đi gọi trước đó tới. Ngài vừa có thể xức một lần dấu thánh trên người bệnh, thì anh ta đã hóa thành xác chết rồi.

Một hôm cha đã muốn hỏi Saviô làm sao em đã có thể biết được là ở đó đã có một người đau bệnh, em liền nhìn cha vẻ mặt đau đớn và bắt đầu khóc. Cha đã không bao giờ hỏi em thêm một câu hỏi như vậy nữa.

Cuộc sống vô tội, tình yêu Thiên Chúa, lòng khát khao những sự trên trời đã đưa tâm trí Saviô đến tình trạng như vậy, mà ta có thể nói là em thường hằng bị mất hút trong Thiên Chúa.

 

Những lần xuất thần hay ngất trí khác

Có đôi khi em ngưng cuộc chơi, hướng sang nơi khác và bắt đầu đi dạo một mình. Được hỏi tại sao em bỏ các bạn như vậy, em trả lời:

- Con lại bị các đợt chia trí thường xảy ra đó xâm lấn. Khiến con thấy như thiên đàng mở ra trên đầu con, và con buộc phải rời xa các bạn để khỏi nói cho họ nghe những chuyện mà họ có thể sẽ diễu cợt.

Một hôm trong khi chơi, em nói về phần thưởng lớn lao Thiên Chúa chuẩn bị trên trời cho những ai gìn giữ chiếc áo vô tội của ngày rửa tội. Đây là một số những lời em nói: “Các kẻ vô tội trên trời là những kẻ ở gần kề nhất với Chúa Cứu Thế, và sẽ hát cho Ngài nghe những bài thánh ca tôn vinh rất đặc biệt”.

Thế là đủ để nâng tinh thần em lên tới Chúa và em trở thành bất động, ngã xuống như chết vào tay một trong các bạn đứng đó.

Những lần ngất trí này xảy ra cho em trong phòng học, khi đi học, về học, và ngay cả tại lớp.

 

Báo cho ĐTC về tương lai Nước Anh

Em rất thích nói về Đức Giáo Hoàng, và diễn tả khát vọng rất thiết tha của em được thấy ngài trước khi chết, và nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng em có chuyện rất quan trọng để nói cho ngài.

Em thường nhắc lại cũng những chuyện đó, nên cha muốn hỏi em chuyện rất quan trọng mà em muốn nói với Đức Thánh Cha là chuyện nào?

- Nếu được nói với Đức Thánh Cha, con muốn nói với ngài là giữa những gian khổ đang chờ đợi ngài, xin ngài đừng ngừng quan tâm cách đặc biệt tới nước Anh; Thiên Chúa chuẩn bị một cuộc khải hoàn cho đạo Công giáo tại vương quốc này.[67]

- Vậy con dựa vào đâu mà nói các lời này?

- Con nói với cha, nhưng xin cha đừng nói với các bạn khác, để họ khỏi cười nhạo con nhé. Nếu cha đi Roma, cha sẽ nói chuyện này với Đức Thánh Cha Pio nhé. Chuyện như thế này, cha. Một buổi sáng nọ, trong khi con cám ơn Rước lễ, con bị bắt chợt bởi cơn chia trí mãnh liệt, và con thấy như mình đang nhìn một cánh đồng bằng mênh mông đầy những người chìm trong sương mù dày đặc. Họ bước đi, nhưng như những người lạc lối, không thấy chỗ nào để đặt bước nữa. Một người ở gần bên con nói với con: Xứ sở này là nước Anh. Trong khi con muốn hỏi thêm các chuyện khác, con thấy Đức Giáo Hoàng Pio IX giống hết như con thấy trong các hình vẽ. Ngài mặc phẩm phục uy nghi, hai tay mang một bó đuốc sáng ngời, ngài tiến tới đám đông dân chúng bất tận ấy. Dần dần bước chân ngài lại gần, trong ánh sáng của ngọn đuốc ấy, sương mù biến mất, và người ta như được ở trong ánh sáng của mặt trời giữa ban trưa. Người bạn liền nói với con: Ngọn đuốc ấy là đạo Công giáo phải chiếu sáng cho nước Anh.[68]

Năm 1858, cha đi Roma, cha đã muốn kể chuyện này cho Đức Giáo Hoàng. Ngài nghe với lòng từ ái và vui vẻ. Đức Thánh Cha mới nói:

- Điều này củng cố quyết tâm của ta là làm việc kiên trì cho nước Anh, mà ta đã hết lòng quan tâm lo lắng. Câu chuyện con kể đó, dẫu sao đi nữa, vẫn như một lời khuyên của một tâm hồn tốt.

Cha bỏ qua nhiều chuyện giống thế, và bằng lòng ghi riêng chúng lại, để những người khác xuất bản, khi họ xét là góp phần cho vinh quang cao cả hơn của Thiên Chúa.

Chiếc Áo Đức Bà kỳ lạ

Và đây là câu chuyện rất đặc biệt Don Bosco biết, nhưng người kể lại là cô em Têrêsa của Đaminh Saviô. Đó là chuyện Đaminh cứu chữa các bà mẹ sinh con. Thiệt là kỳ. Thánh trẻ Đaminh Saviô làm nhiều phép lạ để giúp các bà mẹ sinh con tốt: Vậy các bà mẹ hãy sớm dạy cho com mình học đòi bước theo anh thánh Đaminh Saviô nhé. Đây là nguyên văn lời em Têrêsa của Đaminh Saviô.

Ba mẹ tôi kể rằng một hôm anh Đaminhh Saviô của tôi, học trò của Don Bosco, tới với vị Giám đốc của mình và thưa:

- Cha vui lòng cho con một ngày phép.

- Con muốn đi đâu?

- Về nhà con, mẹ con đau nặng, và Đức Mẹ muốn chữa mẹ lành.

- Ai nói cho con tin này? Họ đã viết thư cho con hả?

- Không, không ai nói cho con cả, nhưng con biết.

Don Bosco đã biết nhân đức của anh Đaminh, coi nặng lời của anh và nói:

Con cứ đi ngay. Đây là tiền đi đường tới Castelnuovo; tới đó, không còn xe buýt nữa… con phải đi bộ, nhưng nếu có một xe nhỏ nào, thì đây con có đủ tiền đấy.

Và anh đi.

Mẹ tôi khi ấy bệnh nặng lắm, chịu những đau đớn khôn tả. Các phụ nữ không biết làm sao cho mẹ bớt đau. Ba thì quyết định đi Buttigliera d’Asti gọi bác sĩ Gorila. Gần tới đó, ba đụng ngay anh Đaminh của tôi, đang đi về Mondonio. Ba hỏi:

- Con đi đâu?

- Con đến gặp mẹ đang đau.

Ba lúc đó không muốn cho anh đến Mondonio, nên đáp:

- Vậy con hãy ghé Ranello trước.

Đó là thôn nhỏ nằm giữa Castelnuovo và Mondonio. Rồi ông vội đi. Nhưng anh tôi, do một sự thúc đẩy trong lòng, vẫn cứ về nhà cha mẹ. Mẹ vừa thấy anh, liền chào và nói ngay: - Bé ơi, bây giờ con sang nhà bên cạnh, tí nữa mẹ sẽ gọi con.

Nhưng Đaminh không đồng ý. Anh liền nhảy vội lên giường, ôm lấy mẹ, hôn mẹ và thốt lên: - Bây giờ con đi, nhưng trước hết con phải ôm hôn mẹ đã. Thế rồi anh đi, vì muốn sớm về lại trường.

Đó là giây phút và sinh cô bé Maria Catarina, em của Đaminh Saviô. Vừa khi anh Đaminh rời Mondonio, mẹ khỏi đau ngay. Bác sĩ cùng với ba vừa đến, thấy chẳng có gì phải làm nữa. Các người hàng xóm đến săn sóc quanh mẹ, thấy ở cổ mẹ có đeo sợi dây xanh, gắn liền với tấm vải lụa nhỏ khâu lại thành chiếc áo Đức Bà nho nhỏ. Mẹ tôi sau này vẫn đeo chiếc áo đã từng cứu mẹ ấy!

Anh Đaminh trở về trường, tới trình Don Bosco ngay để cám ơn:

- Mẹ con đã khỏi và khỏe mạnh. Đức Mẹ mà con đã đeo vào cổ mẹ, đã chữa mẹ lành. Ít tháng sau, trước khi chết, anh còn ôm mẹ và dặn.

- Chiếc áo Đức Bà bé nhỏ con đã đeo vào cổ mẹ khi mẹ đau, mẹ hãy giữ kỹ và cho các bà mẹ đau như mẹ mượn, mẹ hãy cho mượn không. Nó đã cứu mẹ, nó cũng sẽ cứu những người khác.

Tôi chắc mẹ đã làm như vậy, và biết bao bà mẹ sinh con đã được giúp đỡ cách hữu hiệu.

Cả tôi nữa cũng đau nặng. Chị Ramonda liền viết thơ cho anh Gioan đi tìm chiếc áo Đức Bà di sản quý báu đó. Khi tôi đeo vào cổ, tôi cũng được khỏi ngay.

Biết bao bà mẹ sắp sinh con đều xin được đeo chiếc áo Đức Bà ấy, và đã “mẹ tròn con vuông”. Nhưng sau chiếc áo ấy mất. Tôi thật lấy làm tiếc.

Câu chuyện kỳ lạ này khiến Đaminh Saviô không những trở thành bạn giúp đỡ các bạn trẻ, mà còn là người anh bảo vệ trẻ sắp sinh… Các bà mẹ trước khi sinh con, cầu khấn với Đaminh Saviô và chắc chắn sẽ được Saviô giúp đỡ. Hai phép lạ để phong hiển thánh cho Đaminh Saviô liên quan tới hai bà mẹ. Nhiều bà mẹ đặt tên cho con mình là Saviô. Nhưng điều quan trọng là các cha mẹ dấn thân giáo dục con mình theo đúng tinh thần Kitô giáo, để đào tạo các con nên những Đaminh Saviô mới…

Lời tâm niệm

Đối với Don Bosco, những chuyện kỳ diệu trong đời sống Saviô như xuất thần, tìm và cứu giúp những người đau ốm cần thầy thuốc và cần linh mục đến ban các bí tích… tuy đáng quan tâm, nhưng không phải là những chuyện quan trọng nhất. Don Bosco xác định cho ta các việc phi thường chủ chốt là con đường nên thánh và cách sống anh hùng ba nhân đức tin cậy mến. Các em hãy học thật kỹ các câu hỏi thưa sau đây:

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Điều thứ nhất đáng gọi là phi thường là gì?

- Đó là một hạnh kiểm luôn tốt lành, vẫn cứ tiếp tục ngày một nên hoàn thiện hơn bằng cuộc sống vô tội, bằng những việc đền tội và những việc thực hành đạo đức.

  • Điều thứ hai đáng gọi là phi thường là gì?

- Đó là một đức tin luôn sinh động, đức cậy vững vàng, đức ái nồng cháy và sự bền lòng trong việc thiện cho tới hơi thở cuối cùng.

  • Điều thứ ba được gọi là phi thường nơi Đaminh Saviô là gì?

- Đó là những ơn huệ và những sự kiện ngoại thường như sự xuất thần, ơn tiên tri phát giác ra những ai cần cứu giúp và sự giúp đỡ ngoại thường cho đồng loại.

CHƯƠNG 21: SAVIÔ NGHĨ VỀ SỰ CHẾT VÀ CHUẨN BỊ CHẾT CÁCH THÁNH THIỆN LÀM SAO

Ai đã đọc những gì cha đã viết cho tới bây giờ về cậu bé Đaminh Saviô, sẽ dễ dàng hiểu được rằng cuộc sống của em là một sự dọn mình chết lành liên tục. Cách riêng em coi hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm như là phương thế hữu hiệu để bảo đảm cho mình sự che chở của Đức Mẹ rất thánh vào giờ chết mà các bạn đều đoán là không còn xa cách Đaminh Saviô là bao. Cha không biết em có được Chúa mạc khải về ngày và về các hoàn cảnh chết của em chăng, hay em chỉ có một linh cảm đạo đức thôi. Nhưng có điều chắc là em đã rất sớm nói rằng em sẽ chết, và em nói về chuyện này như một người kể chuyện rành rẽ đến nỗi sau cái chết của em không ai có thể kể lại rõ ràng hơn.

Vì tình trạng sức khỏe của em, người ta đã dùng hết cách để em điều độ trong các chuyện học hành và đạo đức; tuy nhiên thân thể em vốn yếu đuối, những cơn bệnh khác nhau, và sự luôn căng thẳng của tinh thần, đều góp phần làm giảm sức lực của em mỗi ngày. Chính em cũng nhận ra điều đó, và đôi lần lên tiếng:

- Tôi phải chạy, nếu không đêm tối bắt chộp tôi ngay trên đường.

- Em muốn nói là mình chỉ còn lại có ít thời gian sống và em phải mau mắn làm các việc thiện trước khi sự chết tới.

Trong nhà nguyện xá này, các bạn trẻ chúng ta có thói quen làm việc dọn mình chết lành mỗi tháng một lần. Việc dọn mình này gồm việc chuẩn bị xưng tội và rước lễ như thể là lần cuối cùng trong đời. Đức đương kim Giáo hoàng Pio IX do lòng yêu thương lớn lao đã rộng ban cho việc thực hành này nhiều ân xá. Saviô dọn mình chết lành với sự cầm trí cầm lòng lớn lao nhất. Vào cuối nghi thức dọn mình chết lành, các học sinh thường đọc một kinh lạy cha và một kinh kính mừng cho người sẽ chết trước nhất. Một hôm em vui đùa nói:

- Thay vì đọc cho người sẽ chết trước nhất, hãy đọc: một kinh lạy cha và một kinh kính mừng cho Đaminh Saviô là người sẽ chết trước nhất trong chúng ta.

Em nói như thế nhiều lần.

Vào cuối tháng 4 năm 1856, em tới với cha Giám đốc và hỏi ngài xem em phải làm gì để cử hành tháng Đức Mẹ cách thánh thiện, cha Giám đốc trả lời:

- Con sẽ cử hành tháng Mẹ bằng việc chu toàn chính xác các bổn phận của con. Kể mỗi ngày một mẫu gương để tỏ lòng tôn kính Mẹ, và tìm cách sống sao để có thể mỗi ngày rước Chúa một lần

- Điều đó con sẽ hết sức lo làm ngay nhưng con sẽ phải kêu xin ơn gì?

- Con hãy xin Đức Thánh Trinh Nữ cầu Chúa cho con được sự thánh thiện và ơn sủng để con làm thánh.

- Vâng, xin Mẹ giúp con làm thánh. Xin Mẹ giúp con chết thánh thiện và trong những giờ cuối cùng của cuộc sống, xin Mẹ hộ vực con và dẫn con về trời.

Quả vậy, em biểu lộ lòng sốt sắng trong suốt tháng đó, giống như một thiên thần trong lốt người phàm. Nếu em viết, em đều diễn tả về Mẹ; nếu em học, hát, đi tới trường, tất cả em làm là để tôn vinh Mẹ. Trong giờ chơi, em lo sao để mỗi ngày em đều có sẵn một câu chuyện hay để kể khi thì cho nhóm bạn này, khi thì cho nhóm bạn khác.

Một hôm một người bạn nói với Saviô.

- Nếu bạn làm mọi sự trong năm nay, thì năm tới bạn còn có gì để làm?

- Cứ để mình làm, Saviô trả lời, trong năm nay mình muốn làm những gì mình có thể, năm tới, nếu mình còn, mình sẽ nói cho bạn điều mình sẽ làm.

Để sử dụng hết những phương thức khả dĩ đem lại sức khỏe cho em, cha đã cho thực hiện các cuộc khám nghiệm của các bác sĩ. Ai cũng cảm phục sự tươi tắn trẻ trung, sự linh lợi của tinh thần, sự nhạy bén, khôn ngoan của các câu trả lời của Saviô. Bác sĩ Phanxicô Vallauri, một trong các bác sĩ đáng kính nhớ của nguyện xá, đầy lòng cảm phục, đã nói:

- Em bé này quả là một viên ngọc quý.

- Nhưng đâu là nguồn gốc của sự dữ cứ làm giảm mỗi ngày một hơn sức khỏe của em? Cha hỏi ông.

- Thân thể em mảnh dẻ, trí thông minh phát triển quá sớm, sự căng thẳng liên tục của tinh thần giống như mối mọt gặm nhấm cách vô hình những sinh lực của em.

- Vậy có phương thuốc nào có ích lợi cho em nhất chăng?

- Phương thuốc ích lợi nhất là cứ để em lên thiên đàng, đó là điều tôi thấy em được chuẩn bị rất tốt rồi, một chuyện duy nhất có thể mang lại sự sống cho em là tuyệt đối không cho em học gì cả trong một thời gian, cho em làm những việc tay chân xứng hợp với sức lực của em.

(Câu chuyện này xảy ra vào khoảng tháng 5 đến tháng 7 năm 1856. Vậy ít nhất là 9 tháng trước, các bác sĩ đã chắc chắn là Saviô sẽ chết. Đó là điều giúp chúng ta tìm hiểu tâm lý của vị thánh trẻ của chúng ta.)

 

Lời tâm niệm

Ai cũng biết thân thể Saviô mảnh dẻ. Có lẽ Saviô không có bệnh đặc biệt gì, y như các nhận định của các bác sĩ. Chính nhiệt tình của em, sự căng thẳng tinh thần của em, trí thông minh sớm phát triển của em đưa em ngày một sớm tới ngưỡng cửa của cái chết.

Thế nhưng sống để mà chết, như nhiều người ngày nay đã nghĩ, đó mới là chân lý đích thực hơn cả. Dù cho có bi quan, yếm thế! Những kẻ đặt nhiều hy vọng vào sự sang trọng, giàu sang ở trần thế, có lẽ là những kẻ ảo tưởng hơn cả. Nhưng sống để mà chết lành: cảm thức Kitô hữu này thực ra không bi quan và tiêu cực chút nào. Chúa Giêsu và Đức Mẹ, các thánh chuẩn bị cho chúng ta nơi ở cực lạc trên thiên đàng, và càng nghĩ tới cái chết, ta lại càng phải nhiệt tâm hoạt động, làm các việc lành để đáng công Nước Trời. Với sự sống sau cái chết, với sự sống lại, chẳng có gì ta làm mà không có ý nghĩa tồn tại để bồi dưỡng cho ta thêm tươi tắn trong cuộc sống cực lạc đời đời.

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  1. Cuộc sống của Đaminh như thế nào trước viễn cảnh chết?

- Đó là cuộc dọn mình chết lành liên tục. Saviô hăng say hoạt động trong hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm để được chắc chắn Mẹ sẽ che chở cho trong giờ chết.

  1. Saviô sống tháng Đức Mẹ cuối cùng của đời em thế nào?

- Saviô chu toàn chính xác bổn phận, sống sốt sắng như một thiên thần trong lốt người phàm, em viết, học, hát, đi học, tất cả để tôn vinh Mẹ, và không quên mỗi ngày có sẵn câu truyện hay để kể cho các bạn.

  1. Theo nhận định của bác sĩ, thì vì sao Đaminh Saviô chết sớm?

- Em không có bệnh gì đặc biệt, chính thân thể mảnh mai, trí thông minh phát triển quá sớm, luôn căng thẳng của tinh thần gặm nhấm dần sinh lực của em.

 

Chương 22: SAVIÔ CHĂM LO CHO CÁC BỆNH NHÂN - EM RỜI NGUYỆN XÁ - NHỮNG LỜI TỪ BIỆT

Sức khỏe của em tuy cạn kiệt, nhưng không đến nỗi buộc em phải nằm giường liên tục; bởi thế có khi em tới trường, tới phòng học chung, hay làm các việc trong nhà. Một trong những việc mà em thích thi hành là phục vụ các bạn đau ốm khi nhà có những bạn đau. Em nói:

- Tôi không đáng công nghiệp gì trước mặt Chúa khi phục vụ hay thăm viếng các bạn đau yếu, bởi tôi rất thích chuyện này; hơn thế, đó còn là thú tiêu khiển thân ái của tôi. Trong khi em làm những việc phục vụ vật chất, em lại rất khéo léo gợi ra vào mọi lúc một chuyện thiêng liêng nào đó. – Cái bộ xương này, em nói với một bạn đang đau, không thể bền vững mãi đời đời, phải chứ bạn? Vậy phải để nó hư đi mỗi lần một chút; cho tới khi nó xuống mồ, những khi đó, bạn ạ, linh hồn chúng ta sẽ được giải thoát khỏi những bất lực của cơ thể, sẽ bay về trời trong vinh quang và sẽ hưởng một sức khỏe và một hạnh phúc vô tận.

Có bạn không chịu uống một loại thuốc vì nó đắng, Saviô nói: - Bạn ơi, chúng ta phải uống bất cứ toa thuốc gì, bởi làm thế, ta vâng lời Thiên Chúa, Đấng đã thiết lập bác sĩ và thuốc thang, vì cả hai đều cần để giúp ta tái chinh  phục lại sức khỏe đã mất; nếu chúng ta cảm thấy ghê sợ vì mùi vị, chúng ta lại càng được công phúc lớn lao cho tâm hồn. Hơn nữa, bạn có nghĩ thuốc này đắng lắm không khi nghĩ tới thứ mật trộn với giấm chua mà người ta đã cho Chúa Giêsu uống trên thánh giá còn đắng cay gấp bội? – Những lời này Saviô nói lên với sự trong sáng kỳ diệu đã đạt được hiệu quả là chẳng có ai đứng ra phản đối nữa.

Tuy sức khỏe của Saviô đã khá xấu, nhưng em không thích về nhà tí nào, vì em nuối tiếc phải cắt đứt việc học và các việc đạo đức thường lệ của em. Vài tháng trước, cha đã gửi em về nhà, em ở lại có ít ngày thôi, và cha đã sớm thấy em xuất hiện lại ở nguyện xá.[69] Nhưng cha phải thú nhận, nỗi buồn nhớ là của cả đôi bên: cha những muốn giữ em lại trong nhà này bằng mọi giá, tình thương cha cho em chính là tình yêu của một người cha cho đứa con nhỏ đáng được yêu thương nhất. Những lời khuyên của các bác sĩ thật khẩn thiết, và cha đã muốn thi hành; nhất là khi suốt vài ngày em ho liên tục.

Vậy cha báo tin đó cho ba của em, và định ngày 1-3-1857 là ngày em lên đường về nhà.

Saviô quy phục quyết định này, chỉ vì chấp nhận biến nó thành một hy lễ dâng lên Thiên Chúa.

- Tại sao con trở về nhà với vẻ buồn bã thế, cha hỏi em, trong khi đáng lý con phải đi với cả niềm vui tươi vì được hưởng những ngày sống bên cha mẹ yêu dấu của con.

Em trả lời:

- Vì con muốn kết thúc những ngày của con ở Nguyện xá.

- Con về nhà, và sau khi sức khỏe con bình phục, con sẽ trở lại.

- Ồ không, chuyện đó không có đâu; con đi mà không trở lại nữa.

Buổi chiều trước ngày ra đi, cha không còn biết xoay sở ra sao; em có biết bao chuyện để hỏi. Giữa biết bao lời khác, em đã thốt lên:

- Đâu là chuyện tốt nhất mà một người đau bệnh có thể làm được để đáng công trước mặt Thiên Chúa?

- Hãy năng dâng mình cho Thiên Chúa khi mình chịu đau đớn.

- Người ấy còn có thể làm được việc gì khác chăng?

- Hãy dâng đời sống mình cho Chúa.

- Con có được chắc là các tội của con đã được tha thứ chăng?

- Cha bảo đảm với con nhân danh Chúa là các tội của con đã được tha.

- Có, nhờ lòng nhân từ của Chúa, lòng nhân từ luôn có đối với con, con chắc sẽ được cứu rỗi.

- Nếu ma quỷ đến cảm dỗ con, con phải trả lời cho nó thế nào?

- Con sẽ trả lời là con đã bán linh hồn con cho Chúa Giêsu Kitô, và Ngài đã mua bằng giá máu của Ngài; nếu ma quỷ còn gây khó khăn cho con, con sẽ hỏi nó xem nó đã làm được gì cho linh hồn con. Ngược lại Chúa Giêsu Kitô đã đổ hết máu Ngài để giải thoát linh hồn con khỏi hỏa ngục và đưa nó về thiên đàng với Ngài.

- Từ thiên đàng, con sẽ có thể thấy các bạn con ở nguyện xá, và cha mẹ của con chăng?

- Có, từ thiên đàng, con sẽ thấy tất cả mọi chuyện xảy ra ở nguyện xá, con sẽ thấy cha mẹ con, thấy những chuyện liên quan đến họ, và thấy những chuyện khác còn đẹp ngàn lần hơn thế.

- Con có thể đến thăm họ vài lần nào đó chăng?

- Con có thể đến, miễn là chuyện đó làm cho Thiên Chúa được vinh quang lớn lao hơn.[70]

Những câu hỏi vô vàn này em luôn miệng hỏi, đúng như là một người đã đặt một chân vào cửa thiên đàng, và trước khi vào đó, muốn hỏi cho biết trước về những gì có ở trong đó khi người ấy vào.

 

Lời tâm niệm

Lạc quan: hai tiếng này rất thích hợp để nói về Saviô và dĩ nhiên là về cả Don Bosco nữa. Ốm đau, có dịp ở lại nhà, Saviô nhiệt tình chăm sóc cho các bạn đau yếu!

Cách thức Saviô chịu những cơn đau đớn dữ dằn cũng được sáng tỏ. Em chịu đựng đau đớn trong kiên nhẫn với Chúa Giêsu. Và em chỉ ước ao những điều gì? Những lời từ biệt với Don Bosco và nguyện xá cho thấy em ước ao sạch tội, được tha thứ, được lên thiên đàng, trong niềm thương mến vô cùng với các bạn ở nguyện xá, với cha mẹ, và có thể nói với tất cả các bạn trẻ chúng ta, những người nhìn lên Saviô như người anh của mình.

Anh Saviô…, hãy cầu cho chúng em biết chịu đau khổ vì Chúa, giữ mình sạch tội và sống cuộc đời tràn mến thương.

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Saviô chăm lo cho các bạn đau ốm thế nào?

- Khi sức khỏe cạn kiệt, không đi học được, em hết tình thân ái chăm lo cho các bạn đau ốm về mặt vật chất cũng như tinh thần.

  • Vì sao Saviô phải rời Nguyện xá?

- Vì lời khuyên của các bác sĩ, Don Bosco phải chấp nhận biện pháp đau đớn cuối cùng là cho Saviô về nhà điều trị bệnh.

  • Lời đối thoại cuối cùng giữa Saviô và Don Bosco như thế nào?

- Đó là những lời từ biệt, những lời hỏi han để dọn mình chết lành: là hiến dâng mọi đau đớn và cuộc đời mình cho Chúa, là yêu thương hết mọi người thân còn ở lại trần gian, là từ thiên đàng về thăm lại họ khi có thể.

 

Chương 23: SAVIÔ chào BIỆT CÁC BẠN

  

Buổi sáng lên đường, em làm việc dọn mình chết lành cùng các bạn hữu với một lòng sốt sắng say mến mà em tỏ ra khi xưng tội và khi chịu lễ, khiến cha là người chứng kiến, cũng không biết diễn tả ra làm sao được.

- Tôi phải làm việc dọn mình chết lành lần này cho tốt, em nói, bởi vì tôi hy vọng đó thực là lần dọn mình để chính tôi được chết lành. Nếu xảy ra chuyện tôi chết trên đường, tôi đã được rước Chúa rồi.

Buổi sáng còn lại, em dùng để sắp xếp thứ tự các đồ đạc của em. Em xếp đặt rương của em; mỗi vật em để sao để em khỏi phải chạm tới nó nữa. Sau khi đã chào thăm từng bạn một, người thì em khuyên bảo, người thì em nhắc nhở phải sửa chữa một lầm lỗi, người thì em khích lệ bền tâm làm việc thiện.

Em gọi một bạn em đã mắc nợ hai đồng bạc lại và nói:

- Này bạn đến đây, chúng ta dàn xếp món nợ. Nếu không, mình sẽ có những khó khăn phải tính lại món nợ với Chúa.

Em nói chuyện với các anh em hội các bạn Đức Mẹ vô nhiễm, với những lời nồng nhiệt nhất, em khích lệ họ bền tâm tuân giữ các lời hứa với Đức Mẹ rất thánh và đặt nơi Mẹ lòng tín nhiệm sinh động nhất.

Vào chính lúc ra đi, em gọi cha lại và nói với cha chính xác các lời sau đây:

- Vậy cha không còn muốn sử dụng đến bộ khung của con nữa (bộ xương của con) và con buộc phải trở về Mondonio. Sự rối rắm sẽ chỉ ít ngày thôi… rồi mọi sự sẽ xong; tuy vậy xin cho ý Chúa được thực hiện. Nếu cha đi Roma, cha hãy nhớ đến việc con nhờ cha chuyển lời với Đức Thánh Cha về chuyện nước Anh; xin cha cầu nguyện để con được chết lành và chúng ta hẹn gặp nhau trên thiên đàng.

Chúng tôi tới cổng Nguyện xá, khi Saviô sắp sửa rời nơi đây, em nắm chặt tay cha và quay lại các bạn đang đứng vây quanh em, và nói:

- Chào các bạn thân yêu, chào mọi người, các bạn cầu nguyện cho mình và hẹn gặp nhau tại đó nhé, nơi chúng ta sẽ ở luôn mãi cùng Chúa.

Em đã ở cổng nhìn vào sân Nguyện xá rồi, bỗng cha thấy em quay lại và nói với cha.

- Cha cho con một món quà để con giữ làm kỷ niệm mà nhớ tới cha.

- Con nói cho cha hay món quà con thích và cha tặng cho con ngay. Con muốn một cuốn sách không?

- Không, con muốn cái gì tốt hơn thế.

- Con muốn tiền để đi đường không?

- Vâng, đúng thế: tiền để đi hành trình về cõi đời đời. Cha đã nói là nhận được của Đức Thánh Cha một số ơn toàn xá vào giờ chót, vậy cha hãy ghi tên con trong số những người được tham dự ơn toàn xá này.

- Được, con của cha, con còn có thể được kể vào số những người lãnh ơn toàn xá này, và cha sẽ viết tên con lập tức vào tấm giấy đó.

Sau đó, em đã rời Nguyện xá nơi em đã ở khoảng 3 năm với bao niềm vui cho em, với bao gương sáng cho các bạn em cũng như cho chính các bề trên của em. Và em rời đây mà không bao giờ trở lại nữa.

Chúng tôi tất cả đều ngạc nhiên vì những lời chào biệt bất thường của em. Chúng tôi đều biết em gặp nhiều khó chịu về sức khỏe, nhưng vì em hầu như không bao giờ chịu đi nằm giường, chúng tôi không để ý mấy đến bệnh tình của em. Đàng khác, em có vẻ luôn tươi vui, chẳng ai nhận thấy được từ khuôn mặt của em rằng em chịu nhiều nỗi đau đớn về thể xác hay về tinh thần. Và cho dù những lời chào khác thường ấy có khiến chúng tôi đau lòng, nhưng chúng tôi vẫn hy vọng sẽ sớm thấy em trở về với chúng tôi. Nhưng chuyện lại không như vậy, em như trái đã chín cho cõi trời; trong cuộc sống ngắn ngủi ngày, em đã chiếm được phần thưởng của các người công chính, như thể em đã đạt tới tuổi rất cao, và Chúa đã muốn gọi em về cùng Ngài giữa thời hoa niên để giải thoát em khỏi những nguy hiểm vẫn có nguy cơ nhận chìm cả đến các linh hồn tốt nhất.

 

Lời tâm niệm

Giờ phút chia tay với Nguyện xá, đầy mủi lòng:

Cagliero khi đó còn nhớ:

- Tôi thấy em dậy khỏi giường xanh xao, nhưng tươi cười, hoàn toàn kết hiệp và nhẫn nại trong Thiên Chúa, khiến tôi tự nhủ: một tâm hồn đẹp quá! Đứa bé quý báu này! Nó giống như một thiên thần. Bé, nhưng là một “thánh lớn”.

Angelo Saviô kể lại:

- Em đến ôm chào tôi lần cuối. Em nói với tôi: “Đồ đạc của em để đó, em không cần, anh trao lại cho Don Bosco và cho ai đó đến nhận nhé.” Chúng được xếp rất ngăn nắp… Rồi em lấy tay siết mạnh tay tôi, nói rất sống động: “Cầu nguyện cho em. Có lẽ chúng mình không thấy nhau nữa ở đời này. Chào”.

Don Bosco đã viết:

- “Nỗi buồn nhớ là của cả đôi bên: Cha những muốn giữ nó trong cái nhà này bằng mọi giá, tình thương của Cha dành cho nó chính là tình yêu của một người cha cho đứa con nhỏ đáng được yêu thương nhất”.

Nếu giáo dục là chuyện của Chúa và Đức Mẹ, nếu giáo dục là chuyện của một gia đình tràn yêu thương: Saviô muốn gì Don Bosco cũng cho: một quyển sách? tiền đi đường? Ồ, không, ơn toàn xá của Đức Thánh Cha. vào giờ chết… Đối với Don Bosco, Ngài không tiếc Saviô cưng của Ngài một cái gì… và sự trao đổi giữa hai cha con thánh này là món quà ân sủng và sự sống đời đời với Chúa!

Đó là tất cả phương pháp giáo dục của Don Bosco được lộ hiện trong những trang này.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Saviô chuẩn bị chết lành lần chót như thế nào?

Em xưng tội chịu lễ sốt sắng, thanh toán mọi nợ lần để sẵn sàng trình diện với Chúa.

  • Em chào biệt Don Bosco và các bạn em ra sao?

Em khích lệ anh em hội bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm tuân giữ các lời đã hứa với Đức Mẹ, chào biệt Don Bosco, nhắc cha chuyển lời về tương lai Giáo hội ở Anh với Đức Thánh Cha và xin được lãnh ơn toàn xá trước khi chết như một món quà cuối cùng của Don Bosco.

Chương 24: DIỄN BIẾN BỆNH TÌNH CỦA SAVIÔ

XƯNG TỘI LẦN CUỐI CÙNG, NHẬN CỦA ĂN ĐÀNG
CÁC CHUYỆN ĐÁNG NÊU GƯƠNG

 

Bé Đa-minh Saviô của chúng ta rời Tôrino ngày 1-3-1857, vào lúc hai giờ trưa; em đi cùng với ba em và cuộc hành trình tốt đẹp. Hơn thế, có vẻ như xe cộ, khung cảnh thay đổi của các miền em đi qua, sự bầu bạn với các người thân đã có công hiệu tốt cho em. Tới nhà, bốn ngày đầu, em không phải nằm giường, nhưng em thấy bị mất sức và kém ăn, cơn ho lại càng mạnh, người ta thấy tốt hơn cho em đi khám bác sĩ. Ông này thấy bệnh em trầm trọng hơn là người ta tưởng theo vẻ bề ngoài. Ông ra lệnh cho em phải về nhà và lên giường ngay, tin rằng đó là bệnh phổi và phải dùng phương pháp chích bớt máu ra để chữa trị.[71]

Việc chích bớt máu theo y học thời ấy là nhằm giảm huyết áp và hạ nhiệt cho người bệnh: một phương pháp mà nay không còn dùng nữa.

Tự nhiên các em rất sợ việc chích máu. Bởi thế, nhà giải phẫu khi thực hiện biện pháp này khuyên Saviô quay mặt đi và hãy chịu đựng cách can đảm. Em cười rộ lên và nói:

- Có là gì một mũi chích nho nhỏ so với các cây đinh đâm vào tay vào chân Đấng Cứu Thế trong ngày Người chết?

Bởi đó, với tất cả sự bình thản của tâm hồn, trong khi pha trò và không hề tỏ ra chút dấu hoảng sợ nào, em nhìn máu chảy từ các mạch máu của em trong suốt cuộc chích máu. Sau một số lần chích máu, bệnh tình em xem ra tốt hơn; bác sĩ bảo đảm như vậy và cha mẹ em cũng tin như vậy nhưng Saviô lại nghĩ khác.

Dõi theo ý nghĩ là nên chịu các Bí tích trước còn hơn là không được chịu gì cả, em gọi ba em lại:

- Ba ơi, em nói, ta nên nhờ bác sĩ trên trời thăm bệnh. Con muốn xưng tội và rước lễ.

Cha mẹ em cũng tin là cơn bệnh đang trong tình trạng khá hơn nên nghe ý em như vậy, họ thấy buồn và chỉ vì để làm vui lòng em, họ đã cho người đi mời cha xứ đến cho em xưng tội. Ngài đã đến ngay để giải tội và rồi để em được vui lòng, ngài mang tới cho em của ăn đàng. Ai cũng có thể tưởng tượng ra được khi rước lấy Chúa, em sốt sáng cầm lòng cầm trí đến mức nào. Mỗi lần em được chịu các Bí tích, trông em giống hệt thánh Lu-y.

Giờ em nghĩ, đây là lần chịu lễ cuối cùng của cuộc đời em, ai tả nỗi lòng sốt sắng, những tình cảm tha thiết yêu thương vọt trào lên từ con tim vô tội để dâng lên Chúa Giêsu yêu mến của em.

Khi ấy, em nhớ lại các lời hứa của em vào ngày rước lễ lần đầu. Em nói nhiều lần:

- Vâng, vâng, ôi Chúa Giêsu, ôi Mẹ Maria, bây giờ và mãi mãi Chúa và Mẹ sẽ vẫn luôn là bạn của linh hồn con. Con nhắc lại và con nói lên cả ngàn lần rằng: chết, chứ không phạm tội. Cám ơn rước lễ xong, em nói thật thanh thản:

- Bây giờ con bằng lòng, đúng ra con phải làm một cuộc hành trình dài vào cõi đời đời, nhưng với Chúa Giêsu làm bạn đường của con, con không sợ hãi gì. Ôi! các bạn hãy nói luôn mãi, các bạn hãy nói cho mọi người: ai có Chúa Giêsu làm bạn và đồng hành của mình, sẽ không sợ bất cứ sự tệ hại nào, kể cả sự chết.

Sự nhẫn nại của em đáng nêu gương trong suốt mọi gian khổ em chịu trong dòng cuộc sống, nhưng trong cơn bệnh cuối cùng này, em hiện lên như một mẫu gương đích thực của sự thánh thiện.[72]

Em không muốn để ai giúp em trong những công việc vệ sinh thông thường. – Khi em còn có thể, em nói, em muốn ba mẹ thân yêu của em bớt bị quấy rầy; các ngài đã chịu biết bao khó nhọc và bất tiện vì em; ước sao ít nhất em có thể bù đáp lại cho các ngài một chút nào đó.

Em uống thuốc men cách bình tĩnh như không, dù là các thuốc men đắng nhất; em chịu cả thảy mười lần chích máu mà không tỏ một chút hờn dỗi nào.

Sau bốn ngày bệnh, bác sĩ tỏ dấu vui mừng với bệnh nhân và nói với cha mẹ em:

- Cám ơn Chúa quan phòng, chúng ta đang ở điểm tốt, cơn bệnh đã bị đánh bại, chúng ta chỉ cần cho em hưởng một giai đoạn dưỡng bệnh và hồi sức nữa thôi.

Cha mẹ em sung sướng vì những lời như thế. Nhưng Saviô cười và nói: - Thế gian đã bị đánh bại, con chỉ cần thực hiện một cuộc xuất hiện khôn ngoan trước Nhan Thánh Chúa thôi. – Bác sĩ đi rồi, không còn lưu ý đến các lời người ta vừa nói với em, em xin được chịu Bí tích xức dầu bệnh nhân. Cha mẹ chấp thuận chỉ vì để cho em bằng lòng, bởi vì cả cha mẹ lẫn cha xứ thấy em chẳng có nguy cơ sắp chết gì cả,  trái lại vẻ mặt thanh thản và những lời nói hồn nhiên khiến họ đều nghĩ rằng em đang trong tình trạng hồi sức. Nhưng em hoặc được thúc đẩy bởi các tình cảm đạo đức hoặc được linh ứng bởi tiếng Chúa nói cùng em trong lòng, chúng ta không biết. Có điều sự việc xảy ra là em đến các ngày và các giờ của cuộc sống mình như là người ta tính các giờ chính xác của số học, và mỗi giờ phút được em dùng để dọn mình ra trước mặt Thiên Chúa. Trước khi chịu phép Xức dầu thánh trên người bệnh nhân, em đọc kinh này: - Ôi lạy Chúa, xin tha các tội con. Con yêu Chúa, con muốn yêu Chúa mãi đời đời! Chớ gì Bí tích này mà lòng nhân từ vô hạn của Chúa cho con được chịu xóa sạch hồn con khỏi mọi tội con đã phạm bằng tai, bằng mắt, bằng miệng, bằng tay chân; chớ gì xác con và hồn con được thánh hóa bởi các công nghiệp của cuộc khổ nạn của Chúa, Amen.

Em thưa đáp đúng lúc, với giọng rõ ràng, với ý tưởng minh bạch, khiến chúng ta dám nói rằng em rất khỏe khoắn.

Chúng ta đang ở vào ngày 9-3-1857, ngày thứ tư em liệt giường, là ngày cuối cùng của đời em. Em đã chịu mười lần chích máu cùng với các phương pháp chữa trị khác, và sức lực em hoàn toàn kiệt quệ, bởi đó em được ban phép lành tòa thánh. Chính em đọc kinh cáo mình, thưa lại các lời linh mục nói. Khi em được nói cho hay là với cử chỉ thánh này, Đức Thánh Cha ban phép lành tòa thánh với ơn toàn xá, em cảm thấy vô cùng được an ủi. Tạ ơn Chúa, em nói, và tạ ơn Chúa đến muôn đời. Thế rồi em ngước nhìn lên tượng Chúa chịu đóng đinh và đọc các lời rất quen thuộc với em trong suốt cuộc đời như sau:

Chúa ơi, trọn cả tự do, con xin dâng Chúa,

Này đây sức lực con, xác thân con,

Mọi sự là của Chúa, con muốn dâng trọn cả, ôi lạy Chúa,

Con xin phó thác mình con cho thánh ý Chúa.

 

Lời suy niệm

Sự chính xác của những lời miêu tả những ngày cuối cùng của Saviô căn cứ theo các thông tin của cha xứ Mondonio, cha Grassi, và ba của em. Đó là lời làm chứng của cha Rua. Nay ta chỉ còn có giữ lại được lá thư của cha Cagliero, thầy cũ của em. Saviô ở nhà 8 ngày, trong đó 4 ngày không nằm giường, và 4 ngày phải nằm gường. Saviô nêu gương sáng về lòng sốt sắng xưng tội, rước lễ, tái xác định quyết tâm chọn Chúa Giêsu và Đức Mẹ làm bạn mãi mãi, về sự nhẫn nại chịu mọi đau đớn: mười lần chịu chích máu, vui lòng uống thuốc men, lo tự làm các việc riêng để khỏi làm phiền người khác, và sẵn sàng kết hợp vĩnh viễn cùng Chúa qua sự chết. Việc giáo dục cần phải nhắm tới một mục đích tối hậu: đó là sống tốt, để chết tốt lành. Bởi vì cả cuộc sống chỉ là để chuẩn bị về trời.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa'

  • Saviô nói các lời gì trước những lần chích máu đau đớn?

- Có là gì một mũi chích nho nhỏ so với các cây đinh đâm thâu vào tay chân Đấng Cứu Thế trong ngần nhất?

  • Những lần xưng tội rước lễ sau hết của Saviô gởi tới chúng ta sứ điệp gì?

- Mãi mãi là bạn của Chúa Giêsu và Đức Mẹ, chết chứ không phạm tội. Có Chúa Giêsu là bạn đồng hành của mình, ta không sợ bất cứ sự tệ hại nào kể cả sự chết.

  • Em nêu gương nhẫn nại làm sao?

- Em kiên nhẫn chịu mọi sự mong bớt đi mọi nỗi rầy rà cho cha mẹ, ước mong cuộc khổ nạn của Chúa thanh luyện mình qua Bí Tích xức dầu bệnh nhân.

 

 

Chương 25: NHỮNG GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG

VÀ CÁI CHẾT QUÍ BÁU CỦA EM

TIN VỀ CÁI CHẾT CỦA EM TỚI NGUYỆN XÁ

Chân lý đức tin tuyên bố rằng con người thu lượm hoa quả các công việc của mình vào giờ chết. Người ta gặt cái mình gieo vãi (Gl 6, 8). Nếu trong đời mình, con người gieo các việc lành, thì vào giờ chết họ sẽ gặt các hoa quả của yên ủi. Nếu họ gieo các sự xấu, họ sẽ gặt sầu muộn chồng chất trên sầu muộn. Nhưng đôi khi xảy ra là những tâm hồn tốt lành, sau một đời sống thánh thiện, lại cảm thấy khiếp sợ và hoảng hốt khi tới gần giờ chết. Điều này xảy ra theo các sắc lệnh đáng kính thờ của Thiên Chúa, đấng muốn thanh tẩy các tâm hồn khỏi các vết nhơ bé nhỏ mà họ có thể đã mắc phải trong cuộc sống, và nhờ thế bảo đảm cho họ và làm cho thêm đẹp chiếc triều thiên vinh quang trên trời. Còn về cậu bé Saviô của chúng ta, thì sự thể không như vậy. Cha tin rằng thiên Chúa đã muốn ban cho em cái gấp trăm mà Ngài ban cho các linh hồn của những người công chính liền trước khi họ được hưởng vinh quang thiên đàng (Mt 19,29). Quả vậy, sự vô tội được gìn giữ cho tới giây phút cuối đời, đức tin sinh động của em, những kinh nguyện liên tục, các việc đền tội lâu dài của em và đời sống lúc nào cũng có những đau khổ chắc chắn đã đáng cho em được hưởng niềm an ủi vào giờ chết.

Do vậy, em thấy cái chết đang vội tiến lại với tất cả sự yên tịnh của tâm hồn vô tội; hơn thế, cả cơ thể em xem ra cũng không cảm thấy những đau đớn và những đè nén là cái tất nhiên phải có khi linh hồn phải thực hiện những cố gắng thoát ly khỏi cơ thể. Tóm lại, phải nói Saviô thiếp ngủ đi hơn là chết.

Đó là buổi chiều 9-3-1857, em đã nhận được mọi sự nâng đỡ là các Bí Tích của đạo công giáo chúng ta. Chỉ nghe em nói, hay nhìn vẻ mặt thanh thản của em, ai cũng đều tin rằng mình đang nhìn thấy một em bé nằm trên giường để nghỉ. Vẻ tươi vui, đôi mắt linh động, hoàn toàn biết rõ về mình, là những điều làm mọi người ngạc nhiên và không ai ngoài em có thể xác tín rằng em đang ở điểm thập tử nhất sinh.

Một giờ rưỡi trước khi em trút hơi thở cuối cùng, cha xứ tới thăm em, thấy em yên tĩnh, ngài đứng lặng sững sờ, nghe em phó linh hồn cho Chúa. Em năng đọc những lời nguyện tắt với vang âm kéo dài như cố biểu lộ khát vọng sinh động của em được sớm về trời.

- Còn có thể gợi ra điều gì nữa để giúp phó linh hồn cho những người hấp hối tốt lành như vậy? Cha sở sẽ thốt lên.

Sau khi đọc cùng em vài kinh nguyện, cha định đi, thì Saviô gọi lại:

- Cha kính yêu, trước khi đi, cha cho con một kỷ niệm.

- Cha cũng không biết có thể để lại cho con kỷ niệm nào nữa, cha sở trả lời.

- Một kỷ niệm an ủi con ấy mà.

- Cha không thể nói với con chuyện gì khác ngoài việc nhắc con nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa.

- Tạ ơn Chúa, Saviô trả lời, chớ gì cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô luôn ở trong tâm trí con, nơi miệng con, nơi trái tim con. Giêsu, Giuse, và Maria xin hộ vực con trong giờ hấp hối; Giêsu, Giuse, và Maria, con xin trút linh hồn con trong an bình với các Ngài.

Sau những lời lẽ này, em thiếp ngủ độ nửa giờ. Sau đó, em tỉnh dậy, đưa mắt nhìn cha mẹ em:

- Ba ơi, em nói, đến lúc rồi.

- Ba đây, con yêu, con cần gì?

- Ba yêu của con, đã đến lúc, ba hãy cầm lấy sách kinh “Người trẻ được giáo huấn” để đọc cho con kinh chết lành. Nghe thấy lời này, mẹ em ào khóc[73] và ra khỏi phòng người bệnh. Tim người cha nhẩy thốt lên vì đau đớn, nước mắt làm nghẹn giọng; nhưng ông lấy can đảm để đọc kinh nguyện này. Saviô nhắc lại cách chăm chú và rõ ràng từng lời; vào cuối mỗi câu kêu xin, em muốn đọc một mình:

- Lạy Chúa Giêsu nhân từ, xin thương xót con.

Cho tới lời: “Sau cùng, khi linh hồn con ra trước mặt Chúa, và lần đầu tiên sẽ được thấy vẻ chói ngời bất tử của uy nhan Chúa, xin Chúa đừng xua đuổi con khỏi mặt Ngài, nhưng xin thương đón nhận con vào cõi lòng yêu thương của tình thương xót Chúa, để con đời đời hát lên những lời ca ngợi Chúa”:

- Ôi, đấy đúng là điều con ước ao, em thêm vào. Ôi, ba ơi, hát lên đời đời những lời ca ngợi Chúa!

Sau đó em có vẻ như lấy lại một giấc ngủ ngắn để suy nghĩ cách nghiêm chỉnh một chuyện rất quan trọng. Từ giấc ngủ đó, em lại bừng tỉnh và nói với giọng rõ ràng và tươi cười.

- Chào, ba yêu, chào: Cha sở đã muốn nói với con một chuyện khác, và con không thể nhớ ra nữa… Ôi! Con thấy một điều đẹp quá, chưa bao giờ xem… Miệng nói thế và mỉm cười với vẻ thiên đường, em tắt thở tay đặt trước ngực theo hình thánh giá, mà không làm một chút cử động nào cả.

Hãy đi, hỡi linh hồn công chính, về cùng Đấng tạo dựng nên ngươi, trời đã mở ra cho ngươi, các thiên thần và các thánh đã chuẩn bị cho ngươi một lễ lớn; Chúa Giêsu mà ngươi đã yêu mến biết bao mời gọi ngươi và nói với ngươi: Hãy đến, hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, con đã chiến đấu, và đã chiến thắng, giờ đây hãy đến lãnh lấy một niềm vui mà người sẽ không còn sợ thiếu bao giờ nữa: Hãy vào trong niềm vui của Chúa ngươi (Mt 25, 21-23).

Khi cha của Saviô thấy con nói những lời như chúng ta vừa kể ở trên, rồi nghiêng đầu để nghỉ, ông nghĩ là em lại thiếp ngủ đi một lần nữa. Ông cứ để em như vậy một lát, nhưng rồi ông muốn gọi em, và nhận ra em đã là một xác chết. Cha để cho mỗi người tưởng tượng ra nỗi đau đớn của cha mẹ em vì mất đứa con mà cùng với sự vô tội và đạo đức, lại kết hợp được cả với những lời lẽ, cử chỉ đậm đà dễ thương nhất! Chúng tôi ở nhà Nguyện xá rất lo lắng chờ đợi các tin tức về người bạn đồng hành đáng yêu kính này; thế rồi cha nhận từ cha của em lá thơ với lời lẽ bất đầu như sau:

“Với nước mắt đầm đề, con báo cho cha tin buồn nhất: cậu bé, con yêu thương của con, là học trò của cha, bông huệ trắng ngần, một Lu-y Gonzaga khác, đã phó thác linh hồn cho Chúa vào chiều hôm qua, 9-3-1857 này, sau khi đã được lãnh nhận một cách đầy ủi an nhất các Bí Tích và phép lành tòa thánh.”

Tin này khiến cho tất cả các bạn của Saviô lòng ngổn ngang đau đớn. Người thì khóc Saviô đã mất đi, là mất đi một người bạn, người thì mất một cố vấn trung thành; người thì thở than vì đã mất một gương mẫu về lòng đạo chân thành. Một vài bạn họp mặt lại cầu nguyện cho linh hồn em được an nghỉ. Nhưng đại đa số lên tiếng:

- Em ấy là một vị thánh, bây giờ em đã ở trên thiên đàng.

Những bạn khác bắt đầu cầu nguyện với Saviô như với một vị thánh bảo trợ ở nơi Thiên Chúa. Thế rồi mọi người đều thi nhau để có được một vài đồ vật gì của em để lại.

(Tiếp theo là bài diễn văn dài của cha Picco cho các bạn cùng lớp của Saviô vừa khi được tin em chết.)

 

 Lời tâm niệm

Don Bosco miêu tả chậm rãi, rõ ràng những giờ phút cuối cùng của Saviô, phải đọc thật sâu lắng để thưởng thức vẻ đẹp khôn tả của đoạn văn và những hiệu quả thần bí của nó.

Sống sao, chết vậy, cái chết của Saviô thật dịu ngọt, Saviô ngủ thiếp đi hơn là chết!

Một giờ rưỡi trước khi em chết, Don Bosco nói với vẻ tươi vui, đôi mắt vẫn linh động, và em hoàn toàn biết rõ về mình. Em thầm đọc kinh sốt sắng, ước ao được sớm về trời… Em đọc rõ: “chớ gì cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu luôn ở trong tâm trí con, nơi miệng con, nơi trái tim con. Giêsu, Giuse, Maria xin hộ vực con trong giờ hấp hối!

Em an ủi mẹ: mẹ ơi, đừng khóc, con về thiên đàng… Lời cuối cùng của em: chào, ba yêu, chào… Cha sở muốn nói với con một chuyện khác, và con không thể nhớ ra nữa… Ôi! Con thấy một điều đẹp quá, chưa bao giờ xem… Miệng nói thế và mỉm cười với vẻ thiên đường, em tắt thở tay đặt trước ngực theo hình thánh giá, mà không làm một chút cử động nào cả…

Mến Chúa, yêu người, lòng thanh thản, đời vô tội luôn sẵn lòng chịu mọi hy sinh: đó là sứ điệp Saviô nhắn nhủ mỗi người chúng ta.

 

Các câu ‘Hỏi – Thưa’

  1. Cái chết của Saviô như thế nào?

- Sống sao, chết vậy, cái chết của Saviô thật dịu ngọt. Saviô thiếp ngủ đi hơn là chết.

  1. Một vài chi tiết cuối cùng của cái chết của Saviô?

- Em vẫn vẻ tươi vui, đôi mắt linh động và hoàn toàn biết rõ về mình. Em xin cuộc khổ nạn của Chúa thanh luyện em, và kêu thánh danh Giêsu, Giuse, Maria. Em chào mẹ, chào ba và trước khi thiếp đi em nói: Ôi, con thấy một điều gì đẹp quá, chưa bao giờ xem…

 

Chương 26: NHÂN ĐỨC CỦA SAVIÔ, Các ơn em
CHUYỂN CẦU VÀ CUỘC ĐỜI EM CHÍNH LÀ MỘT LỜI NHẮN NHỦ

Nhân đức của Saviô lôi kéo nhiều bạn trẻ noi gương

Những ai đã đọc những điều chúng tôi đã viết về cậu bé Đaminh Saviô sẽ không ngạc nhiên sao khi Thiên Chúa đã thương ban cho em nhiều ơn huệ đặc biệt, cho em được rực sáng các nhân đức của mình dưới nhiều cách thức. Khi em còn sống, nhiều người hết sức lo làm theo các lời khuyên, các gương sáng của em và bắt chước các nhân đức của em; nhiều người cũng được thúc đẩy bởi hạnh kiểm ngời sáng, bởi đời sống thánh thiện, bởi các thuần phong mỹ tục trong khiết của em, nên đã nhờ em chuyển cầu cho mình. Và người ta kể lại rất nhiều ơn huệ đạt được qua các lời cầu xin cùng Thiên Chúa của cậu bé Saviô ngay khi em còn sống ở đời này. Nhưng sau khi em chết, sự tin tưởng và tôn kính em càng gia tăng.

Nhiều người nhờ em để cầu xin các ơn từ Trời và đã được nhận lời

Vừa khi được tin về cái chết của em tới với chúng tôi, nhiều bạn trẻ đã tuyên bố em là thánh. Họ họp lại để đọc kinh cầu cho người đã qua đời; nhưng thay vì thưa: cầu cho em Saviô, ví như: Thánh Maria, cầu cho linh hồn em Saviô được yên nghỉ, thì không ít người thưa: cầu cho chúng con: Thánh Maria, cầu cho chúng con. Bởi vì họ nói vào giờ này Saviô đã được hưởng vinh quang thiên đàng và không còn cần đến những lời cầu nguyện của chúng ta nữa. Những người khác thì thêm: - Nếu Đaminh Saviô sống đời trinh trong và thánh thiện như thế mà không vào thẳng thiên đàng, thì ai có thể nói rằng mình có thể vào được đó? – Bởi đó, ngay từ khi ấy, các bạn bè thân hữu, đã ngưỡng mộ các nhân đức của em khi còn sống, thì khi ấy cố gắng nhận em làm mẫu gương để mình sống tốt, làm tốt, và bắt đầu cầu xin với em như là đấng bảo trợ trên trời.

Hầu như mỗi ngày, người ta kể lại các ơn huệ nhận được qua Saviô, khi thì cho thân xác, khi thì cho linh hồn. Cha đã thấy có bạn trẻ bị đau răng đến điên lên được đã kêu xin bạn Saviô của mình với một lời nguyện vắn, và cơn đau của em ngưng ngay lập tức, và cho tới nay không còn bị chứng đau khốn khổ này nữa. Nhiều bạn kêu xin em để được giải thoát khỏi các cơn sốt, và đã được nhận lời. Cha đã chứng kiến một bạn đã lập tức được ơn thoát khỏi cơn sốt ghê gớm.

Cha có trước mắt các bản tường thuật của những người kể ra các ơn từ trời Thiên Chúa ban cho họ qua lời chuyển cầu của Savio. Cho dù tính chất và uy tín của các người kể ra các sự kiện này dưới mọi khía cạnh đều đáng tin, nhưng vì họ còn sống, nên cha nghĩ tốt hơn hãy tạm gác lại vào thời điểm này, và cha tạm mãn nguyện khi kể lại đây chỉ một ơn huệ đặc biệt mà một sinh viên triết học, bạn cùng lớp với Saviô đã nhận được.

Năm 1858, người bạn trẻ này đã gặp rắc rối nghiêm trọng về sức khỏe. Anh đã bị suy giảm đến độ phải ngưng việc học triết lý, chữa chạy nhiều kiểu và vào cuối năm không thể thi cử.

Anh hết lòng lo lắng sao có thể chuẩn bị kỳ thi vào dịp lễ các thánh (thi giữa niên), bởi vì có thế anh mới tránh được khỏi phí một năm học. Nhưng bệnh càng thêm nặng, những hy vọng của anh ngày càng tiêu tán. Anh trở về để qua mùa thu, khi thì tại quê hương, khi thì với bạn hữu tại miền quê, và anh thấy có vẻ sức khỏe của anh có khá lên.

Nhưng khi tới Tôrinô và bắt đầu học được một ít thời gian, anh lại bị bệnh nặng hơn trước. “Tôi đã gần thi rồi”, anh làm chứng, “mà sức khỏe của tôi lại cực kỳ xấu.” Những cơn đau dạ dày và đau đầu làm tôi không còn chút hy vọng tham gia kỳ thi tôi đang mong đợi, một kỳ thi đối với tôi rất quan trọng.

Phấn khích bởi những gì tôi nghe kể về người bạn Saviô dấu yêu của tôi, tôn cũng muốn xin bạn cứu giúp bằng cách thực hiện tuần chín ngày dâng lên Thiên Chúa như dấu chỉ niềm kính yêu của tôi đối với người bạn đồng môn quí báu đó. Trong các kinh nguyện tôi đã định sẵn, có kinh sau đây: Ôi bạn yêu dấu, bạn là người tôi vô cùng sung sướng và may mắn được làm bạn đồng môn trong hơn một năm, bạn đã cùng tôi ganh đua cách thánh thiện để đứng đầu trong lớp chúng ta, bạn biết tôi rất cần qua kỳ thi này. Vậy xin bạn chuyển cầu cho tôi nơi Chúa cho có được chút sức khỏe để có thể chuẩn bị cho kỳ thi.

“Tôi chưa qua hết ngày thứ năm của tuần chín ngày, thì sức khỏe tôi đã khá hơn cách rất đáng kể và mau lẹ, đến độ tôi sớm có thể bắt tay vào việc học, và học một cách dễ dàng ngoài tưởng tượng các môn qui định và thi cách hết sức thành công. Ơn sức khỏe này đâu phải chỉ có trong một thời gian, bởi vì nay tôi đã ở trong một tình trạng sức khỏe bình thường, một chuyện đã không bao giờ đến với tôi trong suốt hơn một năm qua. Tôi nhìn nhận đã được ơn này từ nơi Thiên Chúa qua sự chuyển cầu của bạn tôi, người bạn thân thiết khi tại thế, người trợ giúp và nâng đỡ tôi giờ đây khi anh hưởng vinh quang trên trời. Đã hai tháng nay tôi được ơn này, và sức khỏe tôi tiếp tục giữ vững, thật là một an ủi và một lợi ích lớn lao cho tôi.”[74]

Với sự kiện này cha kết thúc chuyện cuộc đời cậu bé Đaminh Saviô… Đaminh Saviô còn làm nhiều sự lạ khác vì vinh danh cao cả của Thiên Chúa và vì lợi ích các linh hồn.

(Tới đây, cho đầy đủ hơn, chúng ta có thể kể thêm một vài chuyện…)

Luy Castellano, một thầy đang theo học ở nơi Don Bosco bị bệnh nặng, các bác sĩ đều cho là tuyệt vọng. Don Bosco cũng phải thốt lên lời tiên tri: “Có hai chuyện chắc chắn sẽ sớm xảy ra: Đảo Sicilia sẽ rơi vào tay tướng Garibaldi, và Castellano sẽ lên thiên đàng.”

Khi Sicilia sắp bị mất, Castellano xin Don Bosco giải tội lần chót cho mình. Giải tội xong, Don Bosco thình lình quyết định là Castellano rất cần cho ngài. Vậy ngài nại tới Saviô: “Nếu Saviô chữa cho Castellano, đó sẽ là dấu chứng minh cho sự thánh thiện của cậu bé”. Don Bosco như muốn thách đố người con thánh của ngài và ngay chiều hôm đó, Castellano dậy được và khỏi bệnh.

Vài tháng sau, khi đi ăn xin trở về, Don Bosco gặp cha Alasonatti.

- Don Bosco ơi, cha hãy mau đi gặp cậu ấy đi trước khi cậu ta chết.

- Ai mới được chết?

- Bé Đavico ấy, nó bị quặn đau ở dạ dày. Họ đã chê rồi!

- Nếu Đavico nghĩ rằng nó có thể ra đi mà không có phép, thì nó lầm to. Con chưa ký giấy thông hành cho nó.

Don Bosco vào phòng người ốm. Các bạn trẻ đứng vây quanh, bác sĩ thì trầm ngâm trước vẻ mặt quặn đau của cậu bé.

Don Bosco thì thầm vào tai cậu bé và mời gọi các bạn trẻ cầu xin với Saviô. Khi kinh nguyện chấm dứt, Don Bosco đưa tay chúc lành cho cậu bé.

Thình lình Đavico rùng mình, đứng dậy ở giường:

- Con đã khỏi. Con phải làm gì bây giờ?

- Con hãy ra khỏi giường và chiều nay ăn tối với cha. Con hãy đứng dậy. Saviô không bao giờ làm việc nửa vời. Nào đứng dậy, con sắp ăn tối với cha. Đavico đã hoàn toàn khỏi bệnh và tối đó em ngồi bàn ăn với Don Bosco.

Albano Sabato bị chứng viêm lồng ngực, và bị ngất xỉu kề từ ngày 27-3-1872. Hai tuần sau đó cậu rơi vào cơn hôn mê và hấp hối. Bác sĩ tuyên bố chỉ nội trong đêm là cậu sẽ chết. Vì thế ông đã chuẩn bị giấy chứng tử để trao cho gia đình vào ban sáng khi tin chết được xác nhận. Một bác sĩ thứ hai được mời tới trong tuyệt vọng, và quan điểm của ông cũng y như bác sĩ trước.

Mẹ Albano Sabato nghe con mình sắp chết, đã đặt ảnh Saviô ở trên bàn kế bên giường bệnh nhân, và đặt một tấm giấy đựng mảnh áo của Saviô ở dưới gối cậu bé. Thế là bất ngờ cậu khỏi. Các năm sau, 1931 và 1933, các bác sĩ khám nghiệm lại cậu, để chứng thực phép lạ trên, đều thấy Albano tuyệt đối không còn dấu vết bệnh tật nữa.

Tại một nguyện xá của các sơ Salêdiêng tại Barcelona, nước Tây Ban Nha, cô bé Consuela Adelantado bị té dập khuỷu tay trái. Bà cô em đã băng cho em. Nhưng vết thương càng xưng húp rất đau đớn. Em được đưa đi bác sĩ. Bác sĩ Pumarola dọi quang tuyến X và thấy hai chỗ nứt xương tay, và bánh chè bị nối trật.

Ngày 22-3-1936 em mơ thấy có một linh mục bảo em làm tuần 9 ngày kính Saviô, và nói thứ sáu sau đó em sẽ được khỏi và có thể chơi piano trở lại. Qua các hình chụp các sơ cho em xem, em nhận ra ngay vị linh mục em thấy trong giấc mơ là Đức Hồng Y Cagliero, bạn xưa của Saviô.

Thế là ngày 23-3-1936, vào thứ sáu, Consuela làm tuần chín ngày. Tối thứ sáu kế đến, em và cô y tá làm hết mức để cho phép lạ xảy tới. Họ cố gắng ngay từ một, hai, ba giờ sáng. Nhưng cánh tay càng đỏ, càng sưng, và đau đớn lắm. Bốn giờ sáng, Consuela khóc và xin Saviô hãy làm như Đức Hồng Y Cagliero đã hứa. Đúng lúc ấy cánh tay em hết nặng, em hoàn toàn khỏi, không còn vết thương, vết sưng, và đau đớn gì hết.

Soi trong quang tuyến X, các bác sĩ đều nhận rằng đây là việc khỏi lập tức, hoàn hảo, khác với hiện tượng bình thường của luật tự nhiên.

Đó là một số trong muôn vàn chuyện kể các phép lạ Saviô đã làm, nhằm giúp cho các bạn trẻ thêm tín nhiệm vào anh thánh Đaminh Saviô của mình.

Một kỷ niệm nhắn gửi mọi  người

Giờ đây, hỡi bạn đọc thân mến, bởi bạn đã có lòng thiện cảm đọc biết bao điều đã được viết về cậu bé nhân đức này, cha muốn bạn cùng với cha đi đến một kết luận thật sự mang lại ích lợi cho cha và bạn, và cho tất cả những ai sẽ có dịp đọc cuốn sách nhỏ này; cha muốn chúng ta quyết tâm bắt chước bạn trẻ Saviô trong những nhân đức hợp với cảnh huống của chúng ta.

Trong một hoàn cảnh nghèo nàn, Saviô đã sống một đời sống vui tươi, nhân đức và thanh khiết vô tội nhất mà triều thiên của nó là một cái chết thánh thiện.

Chúng ta hãy bắt chước Saviô trong việc năng lui tới với bí tích cáo giải, là cột trụ nâng đỡ việc bền bỉ thực hành các nhân đức và là người hướng đạo chắc chắn đưa Saviô tới một kết điểm rất vinh quang của cuộc sống.

Chúng ta hãy năng lui tới cuộc tắm rửa mang ơn cứu độ này với tất cả những sự chuẩn bị thích đáng trong dòng cuộc sống chúng ta: nhưng trong tất cả các lần đi xưng tội, ta đừng quên nghĩ tới các lần xưng tội đã qua để đảm bảo là chúng đã được làm tốt, và nếu thấy cần, ta hãy  biết tái sửa chữa khuyết điểm chẳng may có thể có của các lần xưng tội trên. Cha thấy đây là phương thức chắc chắn nhất để sống những ngày hạnh phúc giữa các đau khổ của cuộc sống mà chúng ta bình tĩnh nhận thấy mình đang tiến đến các kết cuộc của nó, vào giờ chết và khi ấy với niềm vui rạng rỡ trên nét mặt, với niềm bình an trong cõi lòng, chúng ta đi gặp Chúa Kitô, Đấng nhân từ tiếp nhận chúng ta để phán xét chúng ta theo lòng nhân hậu của ngài và dẫn chúng ta từ những gian khổ của cuộc sống tới cõi đời đời hạnh phúc, để ca ngợi và chúc tụng Ngài mãi muôn đời. Đó là điều hy vọng cho cha và cho các bạn, hỡi các độc giả thân yêu. Amen.

 

Lời tâm niệm

Chuyện Đa-minh Saviô Don Bosco viết kết thúc ở đây. Dĩ nhiên chúng ta còn muốn nó kéo dài thêm một chút nữa, cho những gì chúng ta khắc khoải về tương lai vĩnh cửu của anh Saviô của chúng ta, và cho thẩm quyền cao nhất của Giáo hội xác định chỗ đứng và sứ điệp cao cả của anh Saviô trong Giáo hội và cho các bạn trẻ muôn thế hệ.

Don Bosco tha thiết khuyên ta cầu nguyện với Saviô, xin anh phù giúp ta, bắt chước các nhân đức của anh và lo lắng tắm mình trong Bí tích cáo giải là nơi máu Chúa Giêsu rửa ta sạch tội lỗi và dẫn dắt ta sống trong tình yêu cách trung thành cho tới giờ ta được chết lành.

Ở đây, Don Bosco ký thác một chút về bản thân ngài nhưng không muốn nói ra. Nhưng chúng ta không được phép yên lặng.

Sự thánh thiện của Đa-minh Saviô là nhờ ơn Chúa, nỗ lực của cậu bé, nhưng một điểm quan trọng nữa là sự linh hứng của Don Bosco. Saviô tín nhiệm Don Bosco, tỏ bày nỗi lòng của mình cho ngài, cách riêng trong những lần gặp Don Bosco thường xuyên tại tòa cáo giải. Sự nên thánh cần một yếu tố của tình bạn, lòng tín nhiệm, sự trao đổi thân tình giữa cha và con, tình yêu thương sâu đậm trong Chúa, cách riêng vào những giờ phút gặp gỡ Chúa cách thân mật nhất trong các Bí tích.

Đó là bí quyết giáo dục nên thánh của Don Bosco gửi gắm cho bạn trong lời nhắn nhủ cuối cuốn sách này.

Các câu 'Hỏi-Thưa'

  • Sau khi Đa-minh Saviô chết, người ta đã làm gì?

- Người ta không quên lãng em. Các bạn em bắt chước gương đời sống của em và xin em cầu nguyện cho họ, nhiều người nhận được các ơn lạ, các phép lạ qua lời cầu bầu của em.

  • Don Bosco khuyên ta bắt chước Saviô thế nào?

-  Ta hãy bắt chước Saviô trong những nhân đức hợp với cảnh huống của mình. Sống vui tươi nhân đức, vô tội, mà triều thiên là cái chết thánh thiện.

  • Lời nhắn nhủ cuối cùng của Don Bosco cho ta khi kết chuyện Đaminh Savio là gì?

-  Năng xưng tội với việc dọn mình tử tế và sửa chữa các khiếm khuyết của các lần xưng tội trước: đó là tắm mình trong máu cứu chuộc của Chúa và tiếp nhận sự linh hướng của cha giải tội.

 

Chương 27: đAMINH SAVIÔ TỪ THIÊN ĐÀNG TRỞ VỀ GẶP bỐ VÀ dON bOSCO

Nếu có chuyện người đã chết tái xuất hiện giữa người trần khiến các người kitô hữu buộc phải tin như là một điều tuyệt đối chắc chắn, thì chỉ có một chuyện duy nhất sau đây: Việc Chúa Giêsu đã sống lại và tỏ mình cho các Tông đồ.

Nhưng không thiếu những người đứng đắn, kể lại rằng mình đã thấy Đức Mẹ hiện ra hoặc mình đã gặp linh hồn vinh hiển của người chết hiện về. Tuy những chuyện đó không buộc phải tin nhưng chúng là những chuyện đáp ứng lại lòng khát mong của con người. Chúng hữu ích cho hành trình cuộc sống chúng ta và có nhiều lý do để coi đó là những chuyện xác thật, như việc Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Lộ Đức… Chính người bố của Đaminh Saviô và Don Bosco có kể lại chuyện Đaminh Saviô hiện về… Vì lý do lời kể của Don Bosco rất dài, chúng ta bằng lòng ở đây với những điểm chính yếu.

 

Đây là lời kể của Bố Saviô:

“Một tháng sau khi Saviô chết, một đêm sau khi thức mãi không sao ngủ được, tôi hình như thấy trần phòng của nơi tôi ngủ mở toang, và Đaminh Saviô hiện ra với tôi trong một ánh sáng chứa chan, mặt em tươi cười, sung sướng, nhưng dáng vẻ uy nghi đáng kính. Trước cảnh tượng đáng kinh ngạc ấy, tôi hốt hoảng thốt lên: Ô, Đaminh! Con làm sao? Con ở đâu? Con đã ở trên thiên đàng rồi sao? – Vâng, ba ạ, Con thực sự đang ở trên thiên đàng. – Này! tôi đáp lại, nếu Thiên Chúa ban cho con ân huệ to lớn như vậy là được đến hưởng hạnh phúc trên trời, con hãy cầu nguyện cho các em trai em gái con để chúng một ngày kia cũng được đến với con hầu hưởng hạnh phúc chứa chan trên trời. Con cũng cầu nguyện cho cả ba và mẹ để chúng ta tất cả được cứu rỗi và gặp gỡ nhau trên thiên đàng. – Vâng, vâng, con sẽ cầu nguyện. – em nói như vậy, rồi biến mất. Căn phòng lại chìm vào bóng tối như trước”.

Bố của Saviô quả quyết rằng ông nói thuần túy sự thật và cho hay cả trước đó, sau đó, khi thức, khi ngủ, không bao giờ ông đã được thấy và được an ủi bằng một lần hiện ra khác giống như thế nữa.

 

Don Bosco kể lại việc Saviô hiện ra cùng cha trong giấc mộng

Đêm 6-12-1876, mười chín năm sau khi Saviô chết, Don Bosco khi ấy đang ở Lanzo, đã thấy trong giấc mơ của ngài, người học trò yêu quí Saviô và nói với em rất dài về nhiều chuyện quan trọng. Chiều 22-12-1876 và liên tiếp các chiều kế tiếp, Don Bosco kể lại giấc mộng đó cho cả gia đình Nguyện xá Valdocco:

“Các con biết người ta mơ khi ngủ. Vậy đêm 6-12-1876, khi cha ở trong phòng, không biết vào lúc cha đọc sách hay đi đi lại lại hay đã lên giường rồi, cha đã đi vào một giấc mơ…

Cha thấy mình trên một quả đồi nhìn sang một đồng bằng mênh mông… xanh thẳm như biển thủy tinh sáng ngời.

Đồng bằng này có nhiều đường rộng ngang dọc, với những cánh vườn bát ngát, đẹp như thơ, với rừng cây, đồng cỏ, những bông hoa muôn màu. Cỏ, hoa, cây, quả khác thường và nhiều lắm! Lá cây bằng vàng, thân bằng kim cương… Có biết bao lâu đài tuyệt diệu mà cả kho tàng của trần gian này sao xây nổi. Chỉ nhìn từ phía ngoài thôi, cha đã ao ước: - Giá các con cha được ở dù chỉ là một trong những tòa lâu đài này thôi!…

Đột nhiên tiếng nhạc du dương trổi lên… Cả trăm ngàn nhạc khí âm điệu khác nhau trổi lên giọng nhạc du dương và hòa với tiếng hát của các ca đoàn.

Thế là cha mới thấy được đám đông những người vui chơi hoan hỉ trong các cánh vườn đó. Người thổi nhạc, kẻ ca hát, giọng trầm bổng …

Họ không những sung sướng ca hát, mà còn sung sướng nghe kẻ khác hát. Càng hát, càng muốn hát; càng nghe, càng muốn nghe những lời ca: Ơn cứu độ, danh dự và vinh quang dâng lên Thiên Chúa Cha toàn năng. Tác giả muôn đời, đã có, hiện có, và sẽ đến phán xét kẻ sống và kẻ chết đến đời đời, kiếp kiếp.

Thình lình một con số đông đảo vô kể các bạn trẻ xuất hiện, số những người đã ở Nguyện xá và các trường của chúng ta thì Cha biết được, nhưng phần đa, Cha không biết. Đi đầu có Đaminh Saviô, Cha Alasonatti, cha Chiala, cha Giulitto và nhiều thầy, nhiều  linh mục, mỗi người dẫn đầu một đội binh các bạn trẻ.

   Cha tự hỏi. – mình ngủ hay mơ? – và vỗ tay, đưa tay lên ngực để chắc những điều Cha thấy là thực. Họ đến đứng cách Cha khoảng mười bước. Bỗng một ngọn đền cháy lên sáng ngời, và tiếng âm nhạc ngừng. Các bạn trẻ ai cũng hoan hỷ và sung sướng. Họ nhìn cha, mỉm cười dịu dàng, muốn nói nhưng không lên tiếng.

   Chỉ có Đaminh Saviô tiến lên tới gần cha đến nỗi cha có thể đưa tay chạm tới. Em yên lặng, mỉm cười đẹp lắm. Áo em trắng ngời, dát vàng điểm kim cương, tuôn đến chân. Một giải băng hồng quấn ngang lưng điểm các viên ngọc quí giá san sát nhau. Cha như ngây ngất vì kinh ngạc. Em đeo vòng hoa kết bằng kim cương và dải vàng… thả lỏng xuống. Từ đấy tỏa ra một ánh sáng siêu phàm, sáng ngời hơn mặt trời, rực rỡ như ban sáng mùa xuân, tỏa chiếu trên gương  mặt sáng và hồng đẹp khôn tả; đầu em đội triều thiên bằng bông hồng, tóc em bồng bền tỏa xuống vai. Em thật đẹp, thật đáng yêu, thật quyến rũ giống như… giống như một thiên thần!.

Hơn thế mọi người cũng sáng ngời, mặc áo muôn vẻ, muôn màu với những ngụ ý khác nhau… nhưng ai cũng đeo dải băng hồng…

   Cha tự hỏi:- chuyện này có nghĩa là gì? Mình đang ở đâu? Sao lại đến nay?

   Bỗng Saviô cắt đứt sự  im lặng:

- Sao cha im thế, và như không có mặt? Xưa cha đâu có sợ hãi gì? Dám đối đầu với mọi vu khống, bách hại, cừu địch, hiểm nghèo đủ thứ? Vậy sự can đảm của cha ở đâu? Sao cha không nói?

Cha mấp máy: - Cha chẳng biết nói gì. Vậy con là Đaminh Saviô sao?

Con đây, cha không nhận ra con sao?

Sao cha lại gặp con ở đây?

Con đến để nói chuyện với cha, biết bao lần con đến nói chuyện với cha khi còn ở trần gian! Cha nhớ không, xưa cha yêu con lắm? Cha đã tỏ cho con vô vàn dấu của tình bằng hữu, và biết bao nét thân thương! Vậy con không đáp ứng lại tình yêu của cha sao? Con tín nhiệm vào cha rất nhiều. Vậy sao cha lại sợ? Cha hỏi con vài điều đi?

Cha lấy lại bình tĩnh và nói:

  • Cha run sợ, bởi cha không biết mình ở đâu.

Cha đang ở nơi cực lạc, nơi có mọi niềm vui, mọi nỗi sung sướng.

Đây phải chăng là phần thưởng cho những người công chính?

- Không, không, đây không phải là nơi cho con người được hưởng những của đời đời, ngược lại, nơi đây, cho dầu thật lớn lao, cũng chỉ là những của trần gian mà người ta có?

Phải, và được tăng thêm muôn lần vẻ đẹp bởi quyền năng Thiên Chúa.

Cha cứ tưởng thế đã là thiên đàng rồi!

- Không, không, không. Saviô trả lời. Chẳng có mắt phàm nhân dưới trần nào được thấy các vẻ đẹp đời đời.

Nhưng âm nhạc thì sao?

Cũng không phải!

Chúng chỉ là những âm thanh tự nhiên ư?

- Vâng, chúng chỉ là những âm thanh tự nhiên được nên hoàn hảo bởi quyền năng Thiên Chúa.

Không được… Dù chỉ một tia nhỏ cũng đủ làm chết người trong giây lát.

-  Vậy cha có thể thấy được ánh sáng tự nhiên còn đẹp hơn ánh sáng này chăng?

Cha hãy nhìn ở cuối biển lưu li kia…

- Cha nhìn, bỗng thấy tận đàng xa tắp, một tia nhỏ ánh sáng rực rỡ quá, vụt sáng và thâm nhập khiến mắt cha chịu không nổi. Cha nhắm mắt và hét to lên khiến cha Lemoyne ở cạnh phòng cha thức giấc. Ánh sáng gấp bội ánh sáng mặt trời hằng trăm triệu lần, đủ để soi sáng cả vũ trụ được tạo dựng.

Ánh sáng gì vậy, cha hỏi Saviô, phải chăng là ánh sáng thần linh?

- Không phải là ánh sáng siêu nhiên đâu… Dù nó có đủ sức chiếu sáng cả vũ trụ, nó cũng không thể nào cho cha dù là một ý tưởng về những vẻ rực rỡ của thiên đàng?

- Không thể nói ra cho cha được. Người còn sống trên trần không thể nào biết được. Trên đó, ta hưởng Thiên Chúa! Tất cả tóm gọn vậy thôi. Cha ngất ngây chiêm ngắm Saviô và thẳng thắn hỏi em:

Tại sao con mặc áo trắng ngời như vậy?

- Saviô im lặng… ca đoàn lại cất lên bản hợp xướng, với tiếng nhạc đệm: Họ thắt đai lưng và giặt áo mình trong Máu Con Chiên.

Vậy tại sao con thắt lưng bằng dải hồng?

Saviô im lặng… cha Alasonatti cất tiếng hát:

Họ là những kẻ đồng trinh và đi theo Chiên Con khắp mọi nơi.

Lúc đó cha mới hiểu dải hồng đỏ màu máu biểu trưng cho các hy sinh lớn lao em đã làm, các nỗ lực ghê gớm gần như tử đạo em chịu để giữ nhân đức trong sạch. Để giữ mình khiết tịnh trước Nhan Chúa, em sẵn sàng hiến mạng sống… Những hy sinh hãm mình đền tội của em đã rửa sạch  hồn em khỏi mọi tội lỗi. Màu áo trắng ngời là sự vô tội của ngày chịu phép rửa em đã giữ được.

-Vậy sao những người này lại đứng sau con? Và tại sao các bạn đều rực rỡ thế.

Saviô vẫn im lặng, và tất cả các bạn trẻ đều hát: Những người này giống như các thiên thần của Chúa trên trời.

- Saviô nói cho cha hay đi: con trẻ nhất giữa các bạn đông đảo đi theo con, và giữa những người đã chết trong nhà chúng ta. Vậy tại sao con đi trước họ? Tại sao con nói trong khi họ im lặng?

- Con cao niên nhất giữa họ tất cả.

- Không! Rất nhiều người khác cao tuổi hơn con chứ?

- Con là người xưa nhất ở Nguyện xá, bởi vì con là người thứ nhất bỏ trần gian mà về đời sau. Hơn nữa con nắm vai trò sứ giả của Thiên Chúa!

- Cha nghĩ rằng con có gì vô cùng quan trọng để thông báo cho cha?

- Con là thọ tạo khốn nạn có gì để nói cho cha đâu. Saviô lên tiếng trong thái độ khiêm nhường sâu thẳm. Con nhận từ trên sứ mệnh nói chuyện với cha.

- Vậy con nói cho cha về quá khứ, hiện tại và tương lai của Nguyện xá và Tu hội. Bắt đầu với quá khứ nhé.

- Trong quá khứ, Dòng đã làm nhiều chuyện thiện ích. Cha hãy nhìn kia kìa con số vô tận các bạn trẻ… ở cổng vào cái vườn này, có viết gì?

- Cha thấy rồi: cảnh vườn Salêdiêng.

- Vâng, tất cả họ là các Salêdiêng, hay được giáo dục dưới sự hướng dẫn của cha, có liên hệ với cha và được cứu rỗi bởi cha hay bởi các linh mục, giáo sĩ của cha và những người khác đã được cha đưa vào con đường ơn gọi. Con số họ sẽ là hàng triệu người đông hơn thế nếu cha đã tin tưởng và trông cậy nơi Chúa nhiều hơn.

Cha rên thầm, không biết trả lời ra sao trước lời trách móc đó, và cha quyết trong lòng sẽ cố gắng có được niềm tin và niềm cậy đó. Cha nói thêm.

- Thế còn hiện tại?

- Saviô cho cha xem bó hoa đẹp đẽ em đang cầm ở tay. Nào hồng, nào hoa viôlet (tím), hoa hướng dương, hoa nhài, các bông cúc, hoa huệ, hoa cây thường xanh, và giữa các bông hoa trội lên các hạt. Saviô đưa bó hoa cho cha và nói:

- Cha xem  này!

- Cha thấy…. nhưng chẳng hiểu gì cả?.

- Bó hoa này cha hãy đem cho các con cái của cha để họ dâng lên cho Chúa vào đúng thời đúng lúc; cha hãy làm sao để mọi người ai cũng có, và đừng để ai thiếu bông  nào, hay có ai lấy đi của họ. Với bó hoa này, các bạn ấy đã có khá đủ rồi để được hạnh phúc.

- Nhưng bó đủ loại hoa này muốn nói lên điều gì?

- Chúng diễn tả các nhân đức đẹp lòng Chúa:

Hoa hồng đức ái, hoa tím [violet] chỉ đức khiêm nhường, hoa hướng dương chỉ đức vâng lời, hoa nhài chỉ đức hãm mình đền tội và khổ chế, các bông lúa chỉ việc rước lễ thường xuyên, hoa huệ chỉ đức khiết tịnh, khiến họ giống như các thiên thần trên trời, hoa cây thường xanh muốn nói rằng các nhân đức ấy phải tồn tại mãi mãi, tức là đức bền đỗ.

- Vậy Saviô thân yêu của cha, con nói cho cha hay: con đã thực hành các nhân đức ấy khi còn sống, vậy giờ chết, điều gì yên ủi con nhất?

- Vậy cha nghĩ sao?

- Có lẽ là việc con đã gìn giữ nhân đức cao quý là lòng trong trắng?

- Không, không phải chỉ có thế!

- Hay con vui sướng vì có lương tâm yên ổn?

- Cái đó là một chuyện tốt, nhưng có cái gì tốt hơn.

- Vậy niềm cậy trông vào thiên đàng chính là niềm an ủi của con?

- Cũng không phải!

- Vậy là tại con đã tích lũy được cả kho tàng các việc lành?

- Không, không.

- Vậy cái gì đã là niềm an ủi của con vào giờ phút cuối cùng đó? Cha nói với vẻ khẩn khoản, bối rối vì mình chẳng đoán nổi tư tưởng của em.

- Này nhé, điều làm con an ủi vào giờ chết là sự hộ trực của Mẹ Chúa Cứu Thế quyền thế và đáng yêu: Đó là điều cha phải nói cùng các con cái cha; Đừng có ai quên cầu khẩn cùng Mẹ bao lâu họ còn sống. Nhưng cha hãy hỏi nhanh đi, nếu cha muốn con trả lời cho cha.

- Vậy còn tương lai? Năm 1877 tới, cha sẽ chịu một nỗi đau đớn lớn lao. 6 người rồi 2 người trong số những kẻ thân yêu nhất của cha sẽ được Thiên Chúa gọi về cõi đời đời. Nhưng cha hãy tự an ủi mình đi: họ sẽ được bứng từ cánh đồng thế gian mà đem trồng vào các cánh vườn thiên đàng. Họ sẽ được đội triều thiên. Vậy cha đừng sợ; Chúa sẽ giúp cha và ban cho cha các con cái khác cũng tốt như vậy

   (Như lời Saviô báo trước, sáu học sinh và hai thầy giáo sĩ chết vào năm đó, một thầy chết đúng ngày 31-12-1877, là thời điểm cuối cùng để ứng nghiệm lời tiên tri.

   Có một người khác nữa ngoài Don Bosco để ý tới các chi tiết này. Đó là đại úy Angelo Piccono chỉ huy cảnh sát ở tại địa bàn có nguyện xá của Don Bosco, khi ông ta nghe có lời tiên báo đó, ông quyết định tự ý đứng ra điều tra. Ông kỹ lưỡng theo dõi từng trường hợp và kiểm tra từng cái chết để đối chiếu với lời tiên tri. Khi cái chết thứ tám xảy ra đúng ngày hẹn của lời tiên báo. Đại úy Piccono bỏ nghiệp vụ cảnh sát và gia nhập Tu hội Salêdiêng đi truyền giáo tại Nam Mỹ).

- Còn về Tu Hội?

- Thiên Chúa chuẩn bị những chuyện lớn lao cho Tu hội. Năm tới sẽ trổi lên cho Tu hội một bình minh vinh quang rạng rỡ rực sáng như ngọn đèn nơi bốn phương trời, từ đông sang tây, từ nam tới bắc.[75]

   Một vinh quang lớn được chuẩn bị cho Tu hội. Tu hội là chiếc xe Chúa ngồi, không nên bị kéo ra khỏi đường đã được chỉ dẫn do các con cái cha. Nếu các linh mục biết dẫn dắt Tu hội xứng với sứ mạng của nó, thì tương lai sẽ vô cùng rạng rỡ và nó sẽ mang ơn cứu độ cho vô vàn vô số người. Nhưng với điều kiện là các con cái cha phải sùng kính Đức Mẹ, giữ đức khiết tịnh vừa đẹp lòng Chúa, vừa giúp cho nhà Nguyện xá được mở ra cho cả hoàn cầu.

 

Tương lai Giáo Hội và Đức Pio IX thế nào?

- Tương lai Giáo Hội nằm trong tay Chúa, không thể nói ra được. Còn các vị mục tử toàn Giáo Hội, Đức Pio IX không còn phải chiến đấu lâu dài tại thế nữa. Chỉ còn ít trận chiến mà Ngài phải chiến thắng. Ít mà thôi, Ngài sẽ phải rời ngai tòa, và Chúa sẽ ban cho Ngài phần thưởng xứng đáng, còn Giáo Hội thì không suy sụp.

(Đức Thánh Cha Pio IX đã chịu khổ nhiều cho Hội Thánh. Cuối triều đại Ngài, các sự việc lên tới mức cao độ đến nỗi ngày 20-9-1870, tướng Nio Bixio, một trong các viên tướng của Garibaldi, đã ngưng không cho nã đại bác vào vòm đền thờ thánh Phêrô, chỉ vì một lời đe dọa của một viên sĩ quan khác cho hay ông ta sẽ đâm ngập lưỡi gươm của ông ta vào tim Bixio, nếu tướng Bixio dám cho nã quả đạn đại bác đó. Thế rồi các học trò của trường cao đẳng Mỹ tại Roma mới lấy khí giới đứng ra bảo vệ bản thân Đức Thánh Cha bằng chính mạng sống của họ. Sẽ sớm kết thúc triều đại Giáo hoàng của Ngài: Đức Thánh Cha Pio IX sau một triều đại dài và đau lòng suốt 32 năm trời – triều đại lâu nhất trong lịch sử các Đức Thánh Cha, đã qua đời tại Roma ngày 7-2-1878 một năm và hai tháng sau lời tiên tri của Saviô)

Còn cha thì sao?

   - Ồ nếu cha biết cha còn phải chịu đựng biết bao chuyện nữa! Nhưng cha hãy mau lên, con còn ít thời giờ Chúa ban để nói chuyện cùng cha; cha vội vã đưa tay nắm lấy đứa con thánh của cha nhưng tay cha xem ra cầm không khí và không thể ôm siết được gì cả.

- Thật điên, điều cha vừa làm. Saviô vừa nói vừa cười.

-  Cha sợ con biến mất. Nhưng con không có thân thể sao?

- Không thân thể con không có. Con sẽ lấy lại nó một ngày kia.

- Vậy cái cha thấy là cái gì đây? Cha thật thấy nơi con dung mạo của Đaminh Saviô đó mà.

- Cha ơi, linh hồn tách khỏi xác với phép của Chúa, hiện ra một ai đó, thì còn giữ lại các nét xưa kia, nhưng được làm cho đẹp hơn gấp bội… cho tới ngày kết hợp lại với thân xác trong ngày phán xét chung. Khi ấy linh hồn sẽ giữ lại thân xác với mình mãi mãi. Còn bây giờ con chỉ thuần túy là tinh thần. Chính nhờ dáng bề ngoài này làm cho cha có thể nhận ra con.

- Cha hiểu. Này con. Cho cha thêm một câu trả lời nữa. Tất cả các con của cha có trên con đường tốt dẫn tới ơn cứu độ không, con hãy nói cho cha một vài điều gì để cha có thể nói với chúng.

- Về các con cái Chúa quan phòng trao phó cho cha, có thể chia họ làm ba loại. Cha có muốn xem ba danh sách này không? (và Saviô đưa cho cha danh sách thứ nhất). Cha nhìn đầu danh sách có chữ: những người không bị thương: tức những người giữ nguyên vẹn đời vô tội. Có nhiều người cha biết, nhiều người cha mới thấy lần đầu, có lẽ họ là những người tương lai sẽ vào Nguyện xá. Họ đi thẳng trên con đường hẹp, bất chấp những đợt tấn công bằng tên, bằng gươm, bằng giáo…

- Thế rồi Saviô cho cha bản danh sách thứ hai: những người bị thương: Họ tuy đã có lần mất ơn nghĩa với Chúa, nhưng đã đứng dậy chăm sóc vết thương mình, xưng tội. Số này đông hơn số trước. Cha đọc tên của họ và thấy họ biết: có người đi khòm lưng, vẻ thất vọng.

Saviô còn có bảng danh sách thứ ba: những kẻ rơi vào trong con đường quái ác: những kẻ đang mất ơn nghĩa cùng Chúa. Cha nóng lòng muốn biết, nên đưa tay ra. Nhưng Saviô lanh lẹ lên tiếng: - Đừng, cha đợi một chút. Nếu con mở tờ giấy này sẽ có mùi hôi thối cả con với cha đều không chịu nổi. Các thiên thần cũng phải nôn ruột khiếp hãi. Chúa Thánh Thần cũng cảm thấy rùng mình vì mùi ghê tởm này.

Sao có thể như thế được? Thiên Chúa và các thiên thần không hề bị tác động cơ mà? Sao các Ngài có thể cảm thấy mùi hôi thối của vật chất?

Có chứ. Những tạo vật tốt lành thì càng gần các thiên thần và Thiên Chúa. Ngược lại kẻ xấu, bất lương, dơ bẩn, lại càng xa Thiên Chúa và các thiên thần, nên đối tượng của sự ghê tởm.

   Thế rồi Saviô đưa bảng danh sách cho cha.

Cha cầm lấy đi, mong mưu ích cho các con cái của cha. Cha hãy nhớ bó hoa con đã cho cha: cha hãy cố gắng để họ có được và giữ trọn vẹn bó hoa đó.

   Nói xong, Saviô đưa bảng danh sách rồi lui vào trong đám bạn hữu như muốn trốn khỏi.

   Cha mở bảng danh sách ra. Cha không thấy tên nào, nhưng trong bỗng một thoáng nhìn, cha thấy được hết tất cả các tên của họ. Cha thấy và lòng cha chua chát. Đa số trong họ, cha biết, họ ở trong Nguyện xá và ở các trường khác. Có người xem ra tốt, còn có vẻ rất tốt là đàng khác, nhưng thật ra có thế đâu. Khi mở tấm danh sách ra, một mùi hôi thối nặng nề không thể chịu nổi xông lên. Cha lập tức chịu những cơn đau đầu khủng khiếp và muốn ói mửa đến nỗi tưởng như cha phải chết mất. Bầu khí trở nên đen kịt, thế là thị kiến biến mất, và cảnh trí huy hoàng không còn trông thấy nữa.

   Một lằn sét lòe sáng nối theo bởi tiếng sấm ghê gớm khiến cha thức giấc với tất cả niềm sợ hãi.

   Mùi hôi thối đó ảm đạm vào tường, vào áo, khiến nhiều ngày sau cha vẫn thấy thứ mùi khó chịu đó. Thật ghê tởm trước con mắt của Thiên Chúa dù chỉ mới nhắc đến tên kẻ trắc nết! Ngay cả bây giờ, vừa nghĩ tới mùi hôi thối đó, cha đã rùng mình, nghẹt thở và muốn nôn mửa. Ngay tại Lanzo, cha đã bắt đầu hỏi đến em này, hay em khác và nhận ra được một số em. Cha thấy rằng giấc mộng đó đã không đánh lừa cha. Thật là một ơn của Chúa cho cha biết được trạng thái tâm hồn của mỗi người, nhưng cha quyết định sẽ không  công khai hóa các chuyện này.

 

Lời tâm niệm

Don Bosco giáo dục các con cái của mình để dẫn họ về thiên đàng.

   Lần hiện ra của Saviô với Don Bosco sau 19 năm xa cách củng cố niềm tin của Don Bosco vào mục tiêu giáo dục của Ngài. Chúng ta hãy tiếp thu những lời quý giá của Đaminh Saviô trong lần em đến với Don Bosco trong giấc mơ này.

 

Các Câu 'Hỏi-Thưa' 

  • Saviô hiện ra cho Don Bosco, mặc áo trắng và lưng thắt giải băng hồng, có ý nói gì?

-  Áo trắng là sự vô tội của ngày rửa tội em đã giữ trọn vẹn, giải băng hồng tượng trưng cho các hy sinh lớn lao, những cố gắng mãnh liệt gần giống như tử đạo để gìn giữ đức trong sạch.

  • Bó hoa Saviô gởi cho các bạn trẻ nói lên các nhân đức nào mà họ cần phải có?

-  Hoa hồng là biểu tượng đức ái; hoa tím đức khiêm nhường; hoa hướng dương đức vâng lời; hoa nhài đức khiết tịnh; hoa thường xanh đức bền đỗ.Ba loại bạn trẻ nằm trong ba danh sách Đaminh Saviô cho Don Bosco xem là những người thế nào?

-  Danh sách thứ nhất ghi tên những người không bị thương tích. Danh sách thứ hai  ghi tên những người đã bị thương tích, nhưng nay được phục hồi trong ơn nghĩa với Chúa. Danh sách thứ ba xông mùi hôi thối không thể chịu nổi gồm tên những kẻ sống trong tội trọng, rơi vào trong con đường của sự quái ác.

 

Chương 28: SÁCH CHUYỆN ĐAMINH SAVIÔ NÀY
ĐÃ ĐƯỢC QUÝ CHUỘNG BIẾT MẤY!

 

Các bạn trẻ đọc tới đây về người anh Đaminh Saviô  của mình chắc khao khát những ý kiến  và những lời tuyên bố của những vị có thẩm quyền trong Giáo Hội.

       Đức Hồng Y Atonio Agliardi viết:

   “Saviô thật hạnh phúc có Don Bosco làm người viết chuyện cuộc đời của mình. Một chuyện thánh viết bởi một vị Thánh đã từng là thầy của mình trên con đường hoàn thiện. Tôi thật thỏa lòng biết mấy khi đọc sách chuyện này!”

   “Chúng tôi những người già (tuổi 80), chúng tôi cảm thấy mình thật khiêm cung trước nhân đức vĩ đại của một cậu bé 15 tuổi”.

       Đức Hồng Y Sebastiano Martinelli viết:

“Tôi đã đọc cuộc đời cậu bé Đaminh Saviô. Thật hài lòng, thật thỏa mãn”.

       Đức Hồng Y Ollavia Cagiano viết:

“Tôi đã đọc với niềm an ủi và thỏa mãn lớn lao chuyện cậu bé Saviô thân yêu và rất đạo đức!”.

       Đức Hồng Y Maffi viết:

“Tôi biết rằng Đaminh Saviô này trong rất nhiều năm và cho rất nhiều tâm hồn sẽ rất bổ ích. Tôi không thể nào quên được cái ý tưởng là trong những trang sách đó cả hai vị thánh nói với chúng ta”.

   Đức Hồng Y Benedetto Lorenzelli thì cảm thấy từ cuộc đời của Saviô ấy tỏa ra “hương thơm đạo đức nết na và các nhân đức khác”.

Và đây là tiếng nói của các Đức Thánh Cha:

       Đức Pio X nói:

   “Saviô còn quá trẻ ư? Đó càng là lý do để phong thánh cho cậu bé. Thật khó mà một cậu bé có thể tuân giữ các nhân đức cách hoàn hảo! Thế mà Saviô đã thành công. Cha đã đọc sách chuyện đời của Saviô do Don Bosco viết, và nhờ đó cha có được cái ý tưởng về một cậu thiếu niên gương mẫu, mẫu gương đích thực của sự hoàn thiện”.

       Đức Thánh Cha Biển Đức XV nói:

   “Chuyện cuộc đời Saviô sẽ được tiếp nhận còn hơn cả chuyện thánh Lu-y: cậu bé Saviô thật dịu ngọt với mọi người, là bạn nhỏ của các bạn giữa các trò chơi chuyên nói. Các bạn trẻ thấy nơi Saviô một người bạn trẻ y như họ.”

   Nguyện xá vẫn còn thật sự hít thở không khí của Saviô. Ảnh hưởng của em còn tiếp tục tác động giữa các bạn trẻ, nhất là sau khi hài cốt của em được đưa về đền thờ Đức Mẹ Phù Hộ.

Đức Thánh Cha Pio XI

Khi tuyên bố nhân đức anh hùng của Saviô đã nói:

“Dung mạo Don Bosco đã thực sự trở về với chúng ta tại nơi sinh này… và Ngài giới thiệu cho chúng ta cậu bé Saviô!”

Cha đã được hạnh phúc thấy Don Bosco giữa các học sinh và các cộng tác viên của Ngài… Don Bosco, với kết quả của khoa giáo dục của Ngài là Saviô, với hiệu lệnh “Da mihi animas”(xin Chúa chỉ ban cho con các linh hồn mà thôi!) mà các con cái Ngài được thừa hưởng!...

Thật Chúa quan phòng đã ban cho chúng ta cuộc trở về của Don Bosco này, với tấm gương sáng là Đaminh Saviô, khi ta nghĩ tới các hoàn cảnh giới trẻ gặp phải ngày hôm nay, với biết bao nguy hiểm, biết bao cái dữ đe dọa sự trong sạch của họ, khi ta nghĩ tới cái thế giới tôn thờ thể xác và vật chất, bao lực… và sự tác động của thế lực sự dữ…

Cuộc đời của Saviô, một cậu bé, nhưng là người khổng lồ vĩ đại về tinh thần, mới 15 tuổi thôi, một mẫu gương đích thực về sự hoàn thiện của đời sống Kitô hữu, để giới thiệu cho giới trẻ ngày hôm nay!

Một đức trong sạch của hoa huệ, của thiên thần, mà nguồn cảm hứng là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của mọi sự trong sạch… một sự trong sạch là kết quả của sự săn sóc của biết bao người, nhưng luôn được gìn giữ bởi chính cậu bé Saviô, với một bản năng đích thực, với khát khao ngày thêm trong sạch hơn. Sự trong sạch là trạng thái cần có để đón nhận ân huệ lớn lao là ơn gọi, sự  trong sạch còn là tình yêu với Đức Mẹ, tình yêu với Con của Mẹ là Chúa Cứu Thế. Nhưng sự trong sạch đó luôn được trợ giúp bởi tinh thần đạo đức lớn lao làm bằng kinh nguyện, lòng sùng kính Đức Mẹ, lòng sùng kính phép Thánh Thể, và một thứ kinh nguyện liên tục khác nơi thân thể, tức là việc thực hành đền tội Kitô hữu…

Đây là một việc thực hành hãm mình đền tội mà ai cũng có thể làm được, bao gồm sự liên tục thức tỉnh, tự chủ và lấy tinh thần thống trị thể chất, linh hồn buộc thân xác phải tuân phục; một tinh thần hãm mình rất quý báu, tự mình nó đủ dời xa các nguy hiểm, tự mình nó đủ thao luyện biết bao nghị lực tốt của tâm hồn, dạy cho thân thể và phần kém thanh cao hơn cái phải làm… để làm cho việc thực thi nhân đức nên dễ dàng và đáng công hơn.

Nơi Saviô còn có một tinh thần tông đồ sinh động toàn thể cuộc sống của một Kitô hữu bé bỏng nhưng vĩ đại này: một tinh thần siêu nhiên, nhưng rất tự nhiên, bởi nơi đâu cần, nơi đâu  thiếu thốn, thì em tự nhiên có khuynh hướng sẵn sàng dấn thân.

Tông đồ nhỏ bé, nhưng tông đồ vĩ đại em rất chú tâm nắm bắt mọi dịp, tạo ra mọi dịp, tông đồ trong mọi cảnh huống: dạy giáo lý, vui chơi với các bạn trẻ để làm và nhắc bảo làm việc thiện.

Giới trẻ nay trên khắp thế giới hãy đáp lại tiếng gọi của Đức Thánh Cha, để tham gia công giáo tiến hành, và họ phải được chuẩn bị, được đào luyện sâu xa về đời sống Kitô hữu, về lương tâm Kitô hữu, về cuộc sống trong sạch, về lòng đạo đức, về sự kết hiệp cùng Thiên Chúa!

Ta kêu gọi các bạn trẻ thân mến dưới lá cờ của cầu nguyện, hoạt động và hy sinh.

Với lời cầu nguyện và hy sinh, họ chuẩn bị để hoạt động.

Một hoạt động không dựa vào sức con người mà thôi, mà cần sự trợ lực của Thiên Chúa!

Đó là điểm rực sáng nơi Đaminh Saviô, học trò của Don  Bosco:

Một nhiệt tình hoạt động tông đồ và truyền giáo không bao giờ ngừng giữa các bạn trẻ.

 Một tinh thần thanh thản, cầm lòng, cầm trí, luôn kết hợp cùng Thiên Chúa.

Một tinh thần hãm mình anh hùng, hãm mình đền tội đích thực, luôn sống cho tha nhân, luôn quên mọi tư lợi, mọi nghỉ ngơi ít ỏi của mình…

Và đời Kitô hữu là gì? Nó không thể được sống với một sự đáp ứng từng mảng, không liên tục mà là toàn diện và liên tục, với những lời dạy và gương sáng của Thầy chí thánh và các môn đệ tuyệt hảo của Ngài, như nay đã được thấy nơi Saviô:

- Một đời sống chính xác, chăm chỉ, quảng đại đối lại với cuộc sống buông thả.

   - Một đời sống hoàn hảo đến với chúng ta từ ơn cứu chuộc, như một ân huệ ban cho chúng ta từ cánh tay rộng mở của Con Thiên Chúa trên thánh giá.

   - Một đời sống lập tức triển nở thành muôn hoa trái kỳ diệu mang những vẻ đẹp thiên thai, những sự quý giá thiên thai, và được triển khai rất sớm, bởi các trẻ em như Tarcisi, như Đaminh Saviô…

   - Đó là giá của máu Chúa Kitô, của sự sống Ngài, của Thánh Giá Ngài…

   - Cha muốn chia vui với các con, đại gia đình của Thánh Gioan Bosco, về tất cả điều đó.

Đức Pio XII

   Sau cùng với Đức Thánh Cha Pio XII, Giáo hội đã nói tiếng nói cuối cùng công bố vinh quang tột đỉnh của Đaminh Saviô:

   Ngày 5.3.1950, Đức Thánh Cha Pio XII tuyên phong Á thánh cho Đaminh Saviô. Ngày 12.6.1954 cũng Đức Thánh Cha Pio XII tuyên phong hiển thánh cho Đaminh Saviô.

   Đây là quang cảnh buổi lễ phong thánh:

   Chiều ngày 12.6.1954 hàng ngàn các bạn trẻ của Đaminh Saviô có mặt tại công trường Thánh Phêrô. Đức Thánh Cha Pio XII sắp phong thánh cho một vị truyền giáo tử đạo, hai nam tu sĩ thông thái và một cậu bé. Chính vì cậu bé này, mà đa số người có mặt tại công trường chật ních hôm ấy thuộc giới thanh thiếu niên, họ ca hát, reo hò cuồng nhiệt vì lần đầu tiên có một vị thánh giống như họ”.

   Chiếc phương du hành cho Đức Thánh Cha được dựng lên một cảnh hết sức long trọng trên cung thánh đền thờ. Các nhà ngoại giao, các nhân vật vị vọng đi đi lại lại. Đây đó xuất hiện những bộ đồng phục sặc sỡ của đoàn vệ binh Giáo Hoàng và các lính canh người Thụy Sĩ. Từ đồi Gamicolo, bên kia cánh đồng cỏ xanh, những người hiếu kỳ dõi ống nhòm quan sát. Trong khi chờ đợi, một bản hát được cất lên và nhiều nơi ở công trường hát theo. Đó là bản ca tụng Đaminh Saviô:

               Thiên thần Saviô yêu dấu

               Vinh quang của tuổi trẻ chúng tôi

               Từ trời cao xin người theo dõi

               Dắt dìu lớp trẻ bước theo sau.

   Và đây, 180 vị giám mục và tổng giám mục, với số 16 vị Hồng y tiến tới chỗ ngồi. Sau cùng, Đức Thánh Cha xuất hiện trong khi ca đoàn của nguyện đường Sixtina dưới quyền điều khiển của ca trưởng Perosi, hợp xướng bài Tu es Petrus (Phêrô con là Tảng đá). Lúc 16 giờ 40, một bầu khí trang trọng bao trùm toàn thể công trường. Đức Thánh Cha Pio từ ngai tòa của Ngài long trọng tuyên bố:

   “Nhân danh Chúa Ba Ngôi rất thánh…, cùng với quyền của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và quyền của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Ta tuyên bố phong thánh Phêrô Lui Chanel tử đạo, Gaspar Bufalo, Giuse Piguatelli, Đaminh Saviô hiển tu và Maria Crocifissa da Rosa. Amen”.

   Thế là tiếng hoan hô vang dậy, chân dung cậu bé Đaminh Saviô hiên ngang sánh vai với các vị thánh giáo sĩ trầm tư nghiêm nghị, với vị thánh nữ tu sốt sắng…

   Đức Thánh Cha giới thiệu Saviô: “và đây xuất hiện trước mắt chúng ta hình ảnh Đaminh Saviô, một thiếu niên mảnh khảnh, với một thân xác yếu đuối nhưng một tâm hồn cương nghị trong khát vọng tận hiến bản thân mình cho tình yêu siêu việt của Chúa Kitô. Theo học nơi vị thầy của mình là Don Bosco, cậu đã hiểu được làm sao niềm vui trong phụng sự Thiên Chúa và việc làm cho Người được đồng loại yêu mến có thể là phương pháp tông đồ hữu hiệu… cậu khích lệ bạn bè sống tử tế, năng chịu các bí tích, tránh xa điều xấu. Một cách cương quyết nhưng đầy tình bác ái, cậu kêu gọi những người hư hỏng trở về với bổn phận”.

   Ôi Don Bosco cha không thể ước ao gì hơn lời “phong thánh cho Đaminh Saviô” mà Giáo hội đã công bố. Nguyện ước của cha đã được biểu lộ khi cha dự định lập một nấm mộ tốt hơn cho Đaminh Saviô, với lời bia như sau:

 

Nơi Đây

An Nghỉ, Bình An

ĐAMINH SAVIÔ

Sinh Tại Riva Di  Chieri Ngày 2-4-1842

Đã Qua Thời Thiếu Niên Trong Nhân Đức

Tại Castelnuovo D’asti

Đã Phục Vụ Thiên Chúa Nhiều Năm Cách Trung Thành Và Trong Trắng

Tại Nguyện Xá Thánh Phanxico Salê

ở Torino

Đã Chết Thánh Thiện Tại Mondonio

Ngày 9-3-1857

Với Những Dấu Hiệu Không Thể Hoài Nghi

Là Em Được Chúa Đặc Ái.

Hài Cốt Em Từ Nghĩa Trang Công Cộng

Được Chuyển Về Đây ngày...tháng...năm 1864

Do Sự Chăm Lo Của Các Bạn Em

Và Của Những Ai Đã Được Hưởng Các Hiệu Quả Của Sự Che Chở Từ Trời Của Em

Họ Biết Ơn Em Và Bồn Chồn Mong Mỏi

LỜI SẤM KHÔNG SAI LẦM

CỦA MẸ HỘI THÁNH.

Nay lời sấm ấy đã được công bố!

  

Đaminh Saviô là thánh trên trời! Chúng ta hãy nguyện bước theo anh thánh Đaminh Saviô!

   Trong lịch sử dài của Hội Thánh, Saviô là vị thánh trẻ đầu tiên được phong thánh mà không phải là tử đạo. Anh là vị thánh thứ nhất mặc áo học sinh! Các vị thánh trước anh mặc các loại áo khác. Saviô là vị thánh thứ nhất mặc áo đời!

   Anh cũng là vị thánh đầu tiên có tượng trong nhà thờ Thánh Phêrô trước khi được phong thánh: đó là bức tượng Don Bosco với hai em bé hai bà, một là Zepherin Namumcura, một hoàng tử người Andes Mỹ Châu và một là Đaminh Saviô.

   Thế là kết thúc câu chuyện về một cậu bé Saviô “một mẫu gương đích thực cho tuổi trẻ thời đại chúng ta”, theo lời Đức Pio X.

   Saviô làm rất nhiều phép lạ… các bạn trẻ, các bà mẹ và mọi lớp người có thể cầu xin ơn lành hồn xác qua lời chuyển cầu của Thánh Đaminh Saviô.

 

Lời tâm niệm

   Bạn hãy tâm niệm trong lòng các lời nhận định quý báu của các Đức Thánh Cha về Đaminh Saviô.

  1. Đức Thánh Cha Pio X gọi Saviô là gì?

-  Saviô là một mẫu gương đích thực cho tuổi trẻ thời đại chúng ta

  1. Đức Pio XI nêu cao nơi Saviô những nhân đức gì?

-  Đó là, đức trong sạch, tinh thần cầu nguyện, lòng sùng kính Đức Mẹ, lòng sùng kính Phép Thánh Thể, việc thực hành đền tội Kitô hữu và tinh thần tông đồ rất nhiệt thành. Đó là một đời sống chính xác, chăm chỉ, quảng đại đối lại với cuộc sống buông thả, là kết quả của ơn cứu chuộc của Chúa, với muôn hoa trái kỳ diệu được triển nở từ rất sớm của cuộc đời.

 

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU

LỜI NÓI ĐẦU

Lời tâm niệm

Chương 1:  THỜI THƠ ẤU CỦA ĐAMINH SAVIÔ........................... 12

  • Quê hương – tính tình Đaminh Saviô
  • Các hành vi nhân đức đầu tiên của em
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

CHƯƠNG 2: HẠNH KIỂM VÀ NHÂN ĐỨC CỦA  SAVIÔ

  • Hạnh kiểm của Đaminh Saviô tại Murialdo
  • Các nét son nhân đức và sự chuyên cần tới trường
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 3: RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU VÀ CÁC QUYẾT ĐỊNH

  • Sự thuận lợi, sự cầm lòng cầm trí và những quyết định
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 4: ĐAMINH SAVIÔ HỌC TẠI TRƯỜNG LÀNG

  • Trường làng Castelnuovo d’Asti - một mẫu đối thoại gương mẫu.
  • Câu trả lời khôn ngoan trước một lời khuyên xấu 35
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 5: HẠNH KIỂM CỦA ĐAMINH SAVIÔ TẠI  TRƯỜNG CASTELNUOVO D' ASTI

  • Hạnh kiểm của Saviô tại trường Castelnuovo d’Asti
  • Những lời nhận xét của thầy dạy Saviô
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 6: Saviô theo HỌC TẠI TRƯỜNG MONDONIO

  • Trường học Mondonio
  • Một vụ vu khống nghiêm trọng.
  • Lời tâm niệm
  • Các câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 7: SAVIÔ GẶP DON BOSCO LẦN ĐẦU TIÊN           

  • Lần gặp gỡ đầu tiên của Cha với Đaminh Saviô.
  • Các câu chuyện rất lạ trong bối cảnh này
  • Lời tâm niệm
  • Các câu 'Hỏi-Thưa'

CHƯƠNG 8: SAVIÔ ĐẾN NGUYỆN XÁ THÁNH PHAN-XI-CÔ SA-LÊ      

  • Cuộc sống ban đầu tại đó
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 9: CUỘC SỐNG SÔI NỔI CỦA ĐAMINH SAVIO   BÊN DON BOSCO      

  • Lớp học La-tinh- Hạnh kiểm tại trường- Những chuyện lạ
  • Ngăn cản một cuộc đánh nhau
  • Tránh được một dịp nguy hiểm.
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

CHƯƠNG 10: QUYẾT ĐỊNH LÀM THÁNH       79

  • Quyết định nên thánh
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 11: LÒNG NHIỆT THÀNH CỨU CÁC LINH HỒN    

  • Lời tâm niệm
  • Các câu 'Hỏi-Thưa'

CHƯƠNG 12:  SAVIÔ DỄ MẾN VÀ CAO ĐẸP 

  • Tính Dễ Mến
  • Và Tư Cách Cao Đẹp Giữa Các Bạn Trẻ.

Chương 13: TINH THẦN CẦU NGUYỆN CỦA   ĐAMINH SAVIÔ   

  • Tinh thần cầu nguyện của Saviô
  • Lòng sùng kính đối với Mẹ Thiên Chúa
  • Tháng Đức Mẹ
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 14: SAVIÔ NĂNG XƯNG TỘI VÀ RƯỚC LỄ.................. 113

  • Xưng tội
  • Rước Lễ
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 15: SAVIÔ HÃM MÌNH ĐỀN TỘI

  • Các cách hãm mình khác nhau của Saviô
  • Don Bosco can thiệp
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 16: HÃM DẸP CÁC GIÁC QUAN

  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

CHƯƠNG 17: HỘI BẠN ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM    

  • Việc thành lập Hội Bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm
  • Điều lệ Hội Bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 18: NHỮNG TÌNH BẠN THÂN THIẾT CỦA SAVIÔ

  • Saviô Bạn của mọi người
  • Mối liên hệ thân thiết với Camillo Gavio
  • Lời tâm niệm
  • Các câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 19: CÁC MỐI GIAO HẢO CỦA SAVIÔ VỚI   BẠN Gioan Massaglia

  • Lời tâm niệm
  • Các câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 20: NHỮNG ƠN ĐẶC BIỆT VÀ NHỮNG SỰ   VIỆC NGOẠI THƯỜNG CỦA SAVIÔ

  • Saviô xuất thần trước Thánh Thể
  • Saviô dẫn Don Bosco tới thăm một bệnh nhân sắp chết
  • Những lần xuất thần hay ngất trí khác
  • Báo cho ĐTC về tương lai Nước Anh
  • Chiếc Áo Đức Bà kỳ lạ
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

CHƯƠNG 21: SAVIÔ NGHĨ VỀ SỰ CHẾT  VÀ CHUẨN BỊ CHẾT CÁCH THÁNH THIỆN   LÀM SAO

  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 22: SAVIÔ CHĂM LO CHO CÁC BỆNH   NHÂN - EM RỜI NGUYỆN XÁ - NHỮNG LỜI TỪ BIỆT                            181

  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 23: SAVIÔ chào BIỆT CÁC BẠN....................................... 187

  • Lời tâm niệm

Cagliero khi đó còn nhớ

Angelo Saviô kể lại

Don Bosco đã viết

  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 24: DIỄN BIẾN BỆNH TÌNH CỦA SAVIÔ -  XƯNG TỘI LẦN CUỐI CÙNG, NHẬN CỦA ĂN ĐÀNG-   CÁC CHUYỆN ĐÁNG NÊU GƯƠNG.......................................................... 193

  • Lời suy niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 25: NHỮNG GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG   VÀ CÁI CHẾT QUÍ BÁU CỦA EM -  TIN VỀ CÁI CHẾT CỦA EM TỚI NGUYỆN XÁ

  • Lời tâm niệm

Chương 26: NHÂN ĐỨC CỦA SAVIÔ, Các ơn em   CHUYỂN CẦU VÀ CUỘC ĐỜI EM CHÍNH LÀ MỘT   LỜI NHẮN NHỦ

  • Nhân đức của Saviô lôi kéo nhiều bạn trẻ noi gương
  • Nhiều người nhờ em để cầu xin các ơn từ Trời và đã được nhận lời
  • Một kỷ niệm nhắn gửi mọi người
  • Các câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 27: đAMINH SAVIÔ TỪ THIÊN   ĐÀNG TRỞ VỀ GẶP bỐ VÀ dON bOSCO       217

  • Đây là lời kể của Bố Saviô: 217
  • Don Bosco kể lại việc Saviô hiện ra cùng cha trong giấc mộng
  • Tương lai Giáo Hội và Đức Pio IX thế nào?
  • Lời tâm niệm
  • Các Câu 'Hỏi-Thưa'

Chương 28: SÁCH CHUYỆN ĐAMINH SAVIÔ NÀY   ĐÃ ĐƯỢC QUÝ CHUỘNG BIẾT MẤY!

  • Đức Hồng Y Atonio Agliardi
  • Đức Hồng Y Sebastiano Martinelli
  • Đức Hồng Y Ollavia Cagiano
  • Đức Hồng Y Maffi

Và đây là tiếng nói của các Đức Thánh Cha:

  • Đức Pio X
  • Đức Thánh Cha Benêđitô XV
  • Đức Thánh Cha Pio XI
  • Đức Pio XII

Lời tâm niệm

 

 

[1] Don Bosco rất mực yêu mến trẻ em. Ngài thấy nơi chúng ta những tâm hồn cao thượng nhất là tâm hồn của trẻ em Ngài đã gặp. Ngài đã nát lòng khi nghe tin Đaminh Saviô qua đời ngày 1-3-1857. “cha đã muốn giữ nó lại tại nhà này bằng bất cứ giá nào; cha yêu nó như yêu đứa con cưng nhất”. Khi sửa bản thứ năm sách chuyện này, Don Bosco nói với cha Trione: “Con xem, mỗi lần cha làm chuyện này, cha lại bắt đầu ứ nước mắt” (Ceria, Hồi ký, XI, 460)

[2] Gabriel Fascio, học sinh cơ khí qua đời năm 1851 ở tuổi 13. Don Bosco đã tiên báo cái chết của em và em trước khi chết, đã loan báo vụ nổ lò thuốc nổ ở Torino ngày 26-4-1852 gần ngay nguyện xá bằng những lời “khấn cho Torino, khốn cho Torino ngày 26 tháng 4 năm tới. Chúng ta hãy xin thánh Luy bảo vệ nguyện xá và những ai ở trong nguyện xá”. Lu-y Rua, anh của Micae Rua (Đấng kế vị Don Bosco), qua đời ngày 29-3-1851, ở tuổi 15, với đời sống rất gương mẫu ở nguyện xá. Còn Gavio và Massaglia: xem các chương XVIII và XIX.

 

[3] Don Bosco còn viết tiếp các chuyện Micae Magone, Phanxicô Besucco.

 

[4] Còn vợ ông thì làm nghề may.

[5] Murialdo cách Bechi nơi sinh trưởng của Don Bosco một cây số. Có một nhà nguyện nhỏ có linh mục quản xứ. Năm 1829, Cha Calasso vị linh mục quản sở nhà nguyện đó, đã gặp bé Gioan Bosco và trở thành thầy dạy Latinh đầu tiên của Don Bosco.

[6] Trong khi đề tựa sách Magone, Don Bosco viết: “nhân đức cũng sinh ra với Saviô và được vun trồng tới mức anh hùng trong đời sống cậu”.

[7] Don Bosco tóm tắt ở đây các ấn tượng ngài nhận được từ cha mẹ Đaminh Saviô. Cha cậu chết tại nguyện xá ngày 16-12-1891. Cha Cagliero thầy dạy Đaminh Saviô ở Mondonio (19-4-1857) nói: Ngay từ thơ ấu, bé đáp lại sự chăm sóc của cha mẹ ân cần đến nổi cha mẹ em bảo đảm là không bao giờ buồn phiền về em: Bố em cũng quả quyết với cha Cagliero và cha Rua là em rất ân cần đi bước trước. Câu trả lời của Đaminh Saviô về chuyện em từ chối ngồi bàn ăn với người lạ được em gái bé sinh năm 1859, quả quyết tại tòa án phong thánh cho Đaminh Saviô như sau: “nhưng người đó không có đạo. Ông ta không làm dấu thánh giá trước khi ăn, vậy chúng ta không nên ngồi chung với ông ta”.

[8] Don Bosco nói rằng điều vị linh mục coi sóc Murialdo kể lại thật có lắm điều khó có thể tin, nếu không có chứng từ chắc chắn của người đã quả quyết điều đó. Một trong những chuyện khó tin là việc em quỳ cầu nguyện ở ngưỡng cửa nhà thờ vào sáng sớm vào lúc em còn bé bỏng như vậy. Năm đầu đời đã là khởi điểm của một sự chín chắn trước thời gian.

[9] Cha Zucca nói năm sau em bắt đầu đi học nghĩa là lúc em 6 tuổi.

[10] Thầy Rua nghi nhận: “mới 5 tuổi em đã giúp lễ, nhưng vì thân mình em quá nhỏ không thể mang sách lễ qua bên, chủ tế phải làm việc đó thay em; nhưng các nhiệm vụ khác của người giúp lễ thì em đảm nhận hết”.

[11] Cha Zucca nói em xưng tội vài lần trong năm. Với thời đó vài lần đã là nhiều rồi, nên Don Bosco có thể viết: em xưng tội thường xuyên.

[12] Cha Zucca chưa dám diễn tả các tình cảm siêu nhiên tới chỗ đó, ngài viết: “Thấy em, tôi nhiều lần tự  nhủ: đây thật là một em bé hứa hẹn, miễn là em không ở mãi nhà của mình”.

 

[13] Thánh Giuse Cafasso rước lễ lần đầu ở tuổi 13; Don Bosco ở tuổi 10; Gioan Cagliero ở tuổi 9. Phanxicô Besucco ở tuổi 8.

 

[14] Saviô, như Don Bosco, rước lễ lần đầu tại Castelnuovo. Murialdo chỉ là nhà nguyện của xứ Castelnuovo. Gia đình Saviô đến ở Murialdo từ năm 1844 đến 1852

[15] Ngày 8-12-1854  em lấy lại hai quyết định cuối cùng trong hành vi tận hiến mình cho Đức Mẹ. Trên giường chết, em sẽ nhắc lại: “các bạn của tôi là Chúa Giêsu và Mẹ Maria”.

[16] Thời gian đi học xa này bắt đầu từ 2-6-1852 và kéo dài 5 tháng.

[17] Lòng sùng kính thiên thần bản mệnh là đặc điểm của khoa giáo dục của Don Bosco. Cha Cagliero và cha Rua nói Đaminh vẫn thường nhắc nhở: “chúng ta hãy yêu mến Thiên thần bản mệnh tốt lành hằng ở bên ta, đừng xua đuổi ngài bằng các tội lỗi của ta, và hãy cầu xin ngài hộ vực chúng ta trong cơn cám dỗ để khỏi sa ngã” (Sumn Ord. p 40).

 

[18] Don Bosco kể lại ở đây chuyện Đaminh Saviô đi tắm với các bạn mà không có phép của cha mẹ. Đi tắm sông, suối, đầm, ao có cái nguy hiểm của tai nạn chết đuối và cũng có cái nguy hiểm là bạn bè xấu có thể tạo nên những cám dỗ về điều không trong sạch.

[19] Tưởng cân nhắc lại ở đây lời quả quyết của Don Rua, người bạn thân nhất của Saviô: “Tôi nhất mực tin rằng do một ân huệ rất đặc biệt, Saviô không bị các cám dỗ chống lại đức khiết tịnh” (Sunm. Ord. p.116). đừng nghĩ cách nông cạn rằng có những xúc động trầm trọng nơi cậu bé. Cậu học biết được rằng có một nguy cơ cho đức trong sạch ở chuyện tắm đó, chứ cậu không hề lỗi đức trong sạch, (Caviglia, Studio,p.38).

 

[20] Cha Cagliero nói Saviô học chừng hai năm ở Castelnuovo d’asti. Em dễ thương, được mọi bạn mến chuộng, có mặt em, các bạn lắng dịu hơn trong lớp. Tuy em yêu mến tất cả, nhưng biết xa lánh các bạn phóng đãng. Đó cũng là qui luật của Don Bosco khi còn trẻ: khi ấy, Cha chia các bạn Cha thành ba loại: tốt, không tốt không xấu và xấu. Cha tuyệt đối tránh các bạn xấu, các bạn ở giữa chừng thì Cha quan hệ khi cần, do phép lịch sự, và kết thân với các bạn tốt (Hồi ký nguyện xá, ấn bản Ceria, p.50-51). Saviô cũng vậy: cậu không vì nhiệt tình tông đồ, mà để mình chịu một ảnh hưởng xấu.

[21] Nhận xét này viết cho Don Bosco ngày 25-08-1857, tháng thứ năm sau khi Saviô qua đời.

 

[22] Gia đình Saviô rời về Mondonio vào các tháng đầu năm 1853.

 

[23] Đây là nơi lập cư cuối cùng. Các nhà biên chuyện ngày nay ước đoán là bố mẹ Đaminh Saviô dời về đây vào những tháng đầu của năm 1853. Với 7 đứa con, ba mẹ Saviô còn sinh thêm ở đây 3 người con nữa.

[24] Một tháng sau khi Saviô qua đời, ngày 19-04-1857 Cha Cugliero viết về Saviô cho Don Bosco.

[25] Carlo Saviô sau này là nhân viên hội đồng của thị trấn, đồng bạn Đaminh Saviô kể lại rằng: “tôi có mặt ở đó, và thầy đã phạt Đaminh Saviô quỳ ở lớp”. Saviô chấp nhận chịu tội oan, và phải thi hành 3 nhân đức anh hùng: tự ý chấp nhận sự sỉ nhục trước mặt các bạn và thầy dạy; thi hành đức ái với các bạn khi nhận lấy lỗi của họ làm của mình; thực hành tình mến lớn lao cho Thiên Chúa, vì danh Ngài mà kiên tâm chịu vu khống, và nhớ tới Đấng Cứu Thế bị loài người tố cáo cách bất công.

 

[26] Cuối tháng 9 hay đầu tháng 10, Don Bosco dẫn các trẻ của ngài đi bộ về Becchi nơi anh Giuse của ngài ở, và ở tại vựa lúa của anh.

 

[27] Câu chuyện xảy ra ngày 03-10-1854 tại nhà nơi Don Bosco đã sinh ra. Điểm khởi đầu thật sáng ngời soi sáng toàn bộ quá khứ và tương lai của Saviô chính là điều Don Bosco đã nhận định về tác động của ơn thánh Chúa nơi cậu bé.

 

[28] Nhà truyền giáo salêdiêng Angelo Saviô làm chứng Saviô đã có ý muốn làm linh mục để cứu linh hồn mình và làm ích cho người khác.

[29] Gồm 28 hàng bài báo in vào tháng 3, 1853.

[30] Nguyện xá nơi đầy sức sống gia đình, với niên khóa năm ấy: 1854-1855, có 65 em sinh sống, gồm 35 em học sinh và 30 em tập nghề, và các năm kế tiếp: 1855-1856: 135 em. 1856-1857: 199 em. Linh mục duy nhất là Cha Victor Alasonatti giúp đỡ Don Bosco cùng với các thầy Rua:17 tuổi, Francesia: 16 tuổi, Angelô Saviô 19 tuổi, Cagliero 16 tuổi.

[31] Luật của nhà do Don Bosco viết khi ấy có câu: “Con đừng bao giờ ra khỏi bài giảng mà không rút ra một bài học để thực hành trong các công việc của mình”.

[32] Cha Cagliero sau này kể lại rằng: “Tôi nhớ đại lễ được mừng trong ngày công bố tín điều Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội năm 1854 ấy, năm Đaminh Saviô nhập Nguyện xá, và lòng Saviô xôn xao niềm cảm mến vì đại lễ vô cùng long trọng đó, khi mà Nguyện xá và cả Tôrinô ngời sáng. Don Bosco cho chúng tôi ra khỏi nhà và em bé Saviô ngây ngất trước quang cảnh tưng bừng của dân chúng mừng lễ Mẹ như vậy”.

 

[33] Cha Rua xác minh như sau: “Tôi đã nghe Don Bosco nói là ngài đang viết về đời sống của một em ở Nguyện xá ngay khi em còn sống, và sau này tôi biết được đó là Đaminh Saviô”.

 

[34] Trung học khi ấy gồm năm lớp: Chương trình Latinh năm 1, năm 2, năm 3, một năm học cổ điển và một năm tu từ học.

[35] Tên hai người bạn quyết tử cùng nhau đó đã được biết tới. Một trong hai bạn này đã kể lại chuyện cho Don Bosco. Cả trường đều nghe nói về chuyện này. Đây là một chuyện có lẽ độc nhất xảy ra trong lịch sử của sự thánh thiện của các bạn trẻ.

 

[36] Nơi đó nay không còn là cách đồng nữa. Các tòa nhà đã mọc lên. Chỗ hai bạn đứng định ném đá nhau nay là nhà thờ thánh nữ Barba.

 

[37] Để đi học từ nguyện xá Valdocco tới trường của thầy Bonzanino, ở số 19 đường Barbaroux, Don Bosco đã xác định là các con cái ngài phải đi một con đường nhất định.

[38] Năm học đó (1858 - 1856), Saviô học với thầy Francesia (mới 17 tuổi), dạy em học lớp ngang với lớp 10 phổ thông bây giờ.

[39] Don Piocco trong diễn văn sau khi Saviô chết, nhìn nhận đã nghe được những ca ngợi Saviô trước khi nhận em vào trường. Do đó ngài ước ao tiếp nhận cậu học sinh ngoại thường này.

[40] Bài giảng này vào Chúa nhật II mùa chay 04 – 03 – 1855.

[41] Làm việc, sống đạo đức, lồng trong một niềm vui tươi bền bỉ: đó là toàn thể các dữ kiện chủ chốt của linh đạo Salêdiêng đưa Đaminh đến chỗ thật sự là thánh, thật sự thuộc về Chúa và được phong thánh 12 - 6 - 1954.

[42] Lễ thánh Gioan Tẩy Giả, Lễ bổn mạng mừng khi đó của Don Bosco. Các học sinh có thể xin sách vở, quần áo, giảm học phí. . .

 

[43] Để là thánh, Đaminh nghĩ mình phải tái thực hiện các việc hãm mình lớn lao. Don Bosco sẽ nói đến nỗi khát khao chịu đau đớn của Saviô ở chương XV. Nhưng việc đền tội có hại đến thể xác. Không phải ngài khinh chê những loại hãm mình này, nhưng vì ngài coi đó “không hợp với tuổi, sức khỏe và công việc của em”.

 

[44] Don Bosco cho rằng đời sống tông đồ thánh hóa chúng ta, bởi đó là việc cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô.

 

[45] Người kể chuyện này là Vaschetti và Marcellino

 

[46] Cha Giuse Melica, bạn Đaminh khi đó, quả quyết: vì luôn thiếu thầy dạy giáo lý, nên Saviô vui vẻ dạy thế. Em dạy các bạn trẻ ở bên ngoài, và ai cũng muốn chính em là giáo lý viên của  họ.

[47] Ơn cứu chuộc của Chúa là cho hết mọi người, mọi người là anh em của nhau, đức ái siêu nhiên, công nghiệp đáng được nhờ tham dự vào công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, đó là tất cả những lý do tông đồ Don Bosco đặt nơi miệng của Saviô. Thật phong phú biết bao.

 

[48] Đa minh Saviô qua kỳ hè ở gia đình từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10 năm 1855; hè năm 1856 em ở lại nhà lâu hơn.

 

[49] J. B Anfossi, Don Cagliero, Don Rua đều quả quyết những điều trên là đúng (Summatium Ord. . . p 10, 68, 96).

[50] Những người thuộc phái Tin Lành đến sân Nguyện Xá để tuyên truyền về đạo đức của họ.

 

[51] Đó là Hội các bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm, mục đích tìm đến các bạn đang cần được trợ giúp về phương tiện luân lý nhất.

[52] Celestino Durando kể Saviô đã hết sức làm nhiệm vụ Hội các bạn Đức Mẹ Vô Nhiễm trao là chăm lo cho các đối tượng Hội phục vụ trong giờ chơi.

[53] Cha Rua kể là Saviô có vô vàn cách phục vụ các bạn. Trong các giờ giải trí, em đã dạy học và viết cho  bạn Carlô Garzena của em.

 

[54] Bá tước Cays (1813- 1882) bạn lâu đời của Don Bosco trước khi trở thành tu sĩ Salêdiêng.

[55] Câu chuyện trên được các bạn của Savio: Luy Marcellinô, J.B. Anfonsi, Gioan Bonetti làm chứng.

[56] Tại sao Saviô mê mệt tìm kiếm các việc đền tội: Cha Rua, bạn thân của Saviô, thổ lộ rằng Saviô muốn đền bù những chuyện mà em nghĩ rằng có phần nghiêm trọng, và nhất là để kiện cường bản thân chống lại cám dỗ như Don Bosco dạy: “người trẻ khó có thể giữ được sự vô tội của mình mà không cần đền tội”, và như lời tuyên ngôn của Tin mừng: “Nếu các ngươi không làm việc đền tội, các ngươi hết thảy sẽ hư mất”. (Lc 13,5). Hơn thế, em muốn bắt chước Chúa Giêsu tại Belem và Can-vê, và lo lắng nên thánh như Don Bosco nhận định: “nhân đức của em thật khôn lanh trong nghệ thuật biết lợi dụng các dịp lớn, nhỏ, các chuyện không đáng kể, để lớn lên trong sự thánh thiện…”

[57] Don Bosco không coi thường các hãm mình phạt xác đâu. Ngài chỉ muốn tránh cho Saviô vì sức khỏe em yếu đuối. Chính Don Bosco cũng dùng áo nhặm và kỷ luật.

[58]  Đừng quên cả các hình phạt Saviô phải chịu nữa. Cha Rua nhớ lại có lần đã phạt Saviô phải quì vì giữa lúc lớp đang yên lặng, em phụt cười khi nhớ tới trò cười mà một bạn khác đã tung ra trước đó (Smmarium Ord., p.122).

[59] Don Bosco viết dựa theo lời chứng của Reano và Roetto.

[60] Trong đó có Rua, Bongiovanni, Saviô và vài bạn khác.

[61] Luy Comollo, sinh 1818, chết 1839, với hương thơm nhân đức đặc biệt tại chủng viện Chieri, với tuổi 22. Anh là bạn thân của Don Bosco, người đã viết chuyện của anh và đăng trong ấn bản năm I của Báo đọc Công giáo.

[62] Vào thời đó chưa có lệ cho rước lễ hằng ngày. Và vào một buổi sáng tháng 5-1856 trước đó, Don Bosco làm lễ mà chẳng có một ai lên rước lễ.

[63] Vào thời đó chưa có lệ cho rước lễ hằng ngày. Và vào một buổi sáng tháng 5-1856 trước đo, Don Bosco làm lễ mà chẳng có một ai lên rước lễ.

[64] Massaglia chết ngày 20-5-1856; linh cảm của Saviô rất chính xác, vì Saviô chết vào ngày 9-3-1857.

[65] Tiếng thơm của cuộc sống và cái chết đạo đức của Massaglia tồn tại mãi. Cha Ferdinando Bonetti ở Marmorito quả quyết là căn phòng nơi cậu bé thánh này chết sau 80 năm vẫn còn nguyên.

[66] Cha Cagliero nói chính Don Bosco đã kể lại một chuyện xảy ra ngày 8-9-1855, cho cha Alasonatti, Rua và nhiều người khác: hôm đó, cùng đi với một nhóm bạn đi cứu các bệnh nhân, Saviô ngừng lại trước một căn nhà và hỏi chủ nhà: “Có ai bị bệnh dịch hạch ở đây chăng?” “Không, nhờ ơn Chúa, không có ai cả”. “Nhưng cháu chắc có một bệnh nhân đang đau nặng.” “Thế nhưng ở đây chẳng có ai như vậy đâu cháu ạ.” Thế là cuộc nói qua nói lại. Rốt cuộc một người đàn bà khốn khổ không ai biết đến và bị bỏ rơi được phát giác ở phòng nhỏ phía đầu hồi nhà. Nhờ Saviô, bà được chịu bí tích sau hết trước khi chết.

[67] Những người Anh giáo như Newman, Manning trở lại Công Giáo và thành Hồng y. Ngày 29-9-1850, Đức Thánh Cha Pio IX tái lập hàng giáo phẩm Công giáo tại Anh quốc. Cuộc khải hoàn lớn Saviô nói tới là các cuộc trở lại Công giáo ngày càng tăng tại Anh quốc: từ 160000 người Công giáo vào thế kỷ XIX, nay đã lên tới 3 triệu người Công giáo. Mây mù tan biến, lương tâm của họ được làm cho trong sáng và tự do khỏi các lộn xộn của nền Anh Giáo.

[68] Hồng y Salotti nói những hình ảnh Saviô kể ra ở đây thiệt thích hợp với Đại hội Thánh Thể cử hành tại Luân Đôn năm 1908. 20 trẻ em đi dọc theo bờ sông Tamigi, sát vai nhau tiến về nhà thờ chính tòa, và vị hồng y sứ thần của Đức Thánh Cha tiến bước trong một con đường của thành phố, với muôn hoa, muôn bài ca của một dân tộc tôn dương cuộc khải hoàn của Đức Giêsu Thánh Thể.

[69] Saviô có đau đớn lắm không? Hay chỉ là yếu dần yếu mòn đi nơi em? Giuse Reano, bạn của em quả quyết rằng Saviô đau lắm, chứ không phải chỉ là chịu một sự giảm nhẹ từ từ sức khỏe của mình: “Trong cơn bệnh, những đau đớn bạn chịu rất mãnh liệt, Reano viết cho Don Bosco, suốt thời gian bạn ở Nguyện xá, chúng con không bao giờ thấy bạn than phiền về cơn đau bạn phải chịu. Một hôm con thấy bạn buồn, con mới hỏi tại sao bạn không nói chuyện thoải mái, bạn trả lời là bạn bị chứng đau đầu khủng khiếp như có hai con dao đâm sâu vào nơi thái dương; nhưng bạn chịu đựng tất cả. Sự kiên nhẫn của bạn kết hiệp với những công nghiệp của Chúa Giêsu, đáng cho bạn hưởng thiên đàng. Chúa Giêsu đã chịu đau khổ nhiều hơn bạn, mà Ngài không phàn nàn. (Giuse Reano, Summarium Ord., p. 220).

[70] Ngày 6-12-1876, Saviô đã trở lại thăm Don Bosco trong một giấc mơ.

[71] Theo y học thời ấy, chích máu là nhằm làm giảm áp huyết máu chạy ở nơi người bệnh, cho hạ nhiệt; phương pháp xưa nay không còn tính chất khoa học.

[72] Bệnh phổi em kéo dài sáu ngày mà không một lời than phiền. Em chịu mọi sự đau đớn mà không ai làm hơn được trong khi năng nhắc tới tên Mẹ. Trích thư cha Cagliero Summarium ord. p. 214.

[73] Ba Môlinô kể ra những lời bé Saviô an ủi mẹ: “mẹ ơi, đừng khóc. Con về thiên đàng. Con thấy Đức Mẹ và các thánh …”

[74] Người bạn được ơn lạ này là Vaschetti, mặc áo giáo sĩ năm 1857, sau làm linh mục kinh sĩ và cha quản hạt tại Vol piano.

[75] Báo Saledieng xuất bản năm 1877 bằng nhiều ngôn ngữ.

LỜI NÓI ĐẦU                                                                    

 

Các Giám đốc thân mến,

Cha sung sướng trình bày cho anh em tập sách mới này: GIÁM ĐỐC SALÊDIÊNG, MỘT TÁC VỤ ĐỂ SINH ĐỘNG VÀ CAI QUẢN CỘNG THỂ ĐỊA PHƯƠNG. Đây là sự hỗ trợ mà Tổng Tu Nghị 21 yêu cầu (TTN21, 61d). Nó là một cuốn sách gồm những suy tư Salêdiêng được trình bày, một cách có thẩm quyền và huynh đệ, để giúp đỡ các giám đốc, vốn là những người được gọi để sinh động và hướng dẫn cộng thể Salêdiêng trong sứ mệnh đặc biệt của mình.

Cha muốn chia sẻ với anh em đôi suy tư.

  • Trước tiên, cuốn sách nhỏ này là một sự hỗ trợ cho cá nhân dựa trên những giá trị tin mừng.

Nó xin anh em xem xét những hành động, tư tưởng và tương giao của anh em với dân chúng, trong một thái độ hoán cải liên tục, sao cho phù hợp với những đòi hỏi của Đức Kitô Phục sinh và đối với hiện trạng thật sự mà Ngài sai anh em tới: dân chúng, cách riêng giới trẻ, những hoàn cảnh và những biến cố anh em gặp. ‘Cái sao cho’ này không qui chiếu tới cách thức được Chúa kêu gọi và sai đến một cách chung, nhưng là một cách độc đáo.

  • Nó là một bản văn thấm đượm tinh thần Salêdiêng. Trong tác vụ được trao phó cho anh em, cũng như trong tư tưởng, hành động và mối tương giao của anh em với những người khác như giám đốc, anh em phải tái tạo những tài năng, cảm nhận, việc làm và loại tương giao với người khác mà chính Don Bosco đã có. Điều này sẽ giúp anh em đo lường bí quyết của “tình cha” nơi ngài và làm cho nó sống động ngày nay. Nó sẽ giúp anh em hiểu được truyền thống phong phú mà ngài chuyển giao cho chúng ta, chấp nhận những mục tiêu và cách thức đạt tới chúng, cùng với những bổn phận vốn xuất phát từ đó.
  • Nó đã được chuẩn bị nhằm sứ mệnh chúng ta. Chắc chắn nó đòi hỏi anh em phải là những người của Thần khí.[1] Nhưng xin hãy nhớ điều cha đã viết trong lá thư về Gia đình Salêdiêng: “Hoạt động của đức ái mục tử không thấp hơn hữu thể của nó; đúng hơn nó đi theo hữu thể ấy, bộc lộ nó, tỏa sáng trên nó, hoàn thành nó và diễn đạt sự thật chân chính của nó. Nó không đến sau nhưng sống trong hữu thể như một yếu tố thuộc căn tính năng động của nó. Nó có tính nội tâm cách triệt để theo mức độ nó thông phần vào tình yêu Thiên Chúa. Do vậy chính ở trong những chiều sâu của kinh nghiệm có tính chất tông đồ về Thánh Thần (sự xuất thần trong hoạt động của thánh Phanxicô Salê) xét cho cùng chúng ta tìm được một hình thức của đời sống nội tâm.” (ASC 304, p. 28)

Vì vậy tiên vàn và trên hết đây là một bản văn thực tiễn theo nghĩa nó xin anh em hãy trung thành với Don Bosco theo một cách thức đặc thù mà các giám đốc phải trung thành, bởi vì chính qua tác vụ của anh em mà các hội viên tăng trưởng trong ơn gọi Salêdiêng, và như vậy đến lượt chính các thanh thiếu niên được rao giảng tin mừng.

Dưới diện của những bổn phận này anh em được cống hiến những phương thế mà ngày nay xem ra thích hợp nhất, hoặc bởi vì Đấng Sáng Lập thánh thiện đã sử dụng và truyền thống Salêdiêng đã làm nên nó, hoặc bởi vì những giá trị tân thời của chúng được các khoa học nhân văn nhìn nhận.

  • Cuốn sách nhỏ này không muốn là một khảo luận, mặc dù nhiều chỗ nó chứa đựng những ý tưởng vốn giúp chúng ta hiểu tinh thần chúng ta và không coi chúng như đã rồi. Nhưng điều nó cống hiến là một cơ hội Chúa ban để thảo luận nhằm soi sáng và hướng dẫn những trách vụ của riêng anh em là những giám đốc, và chỉ ra sự ưu tiên giữa những bổn phận đó. Nó giúp làm quang đi những gì không chắc chắn, cổ xúy những sáng kiến và óc sáng tạo trên bình diện cá nhân và cộng thể và mang lại cho giám đốc Salêdiêng phẩm giá đặc sủng mà Don Bosco muốn ngài phải có được một cách rất nổi bật. Nó cũng giúp cổ xúy sự tin tưởng nơi những hội viên xuất phát từ mối tương giao tốt đẹp với giám đốc và từ sự vâng phục đồng trách nhiệm.
  • Cuốn Cẩm nang này muốn được đầy đủ bao có thể. Nó được viết với ý tưởng làm cho nó đầy đủ bao có thể, và vì vậy anh em hiểu tại sao nếu xem ra nó có vẻ dài.

Mọi thái độ hay tư tưởng tự nhiên gợi nhắc những người khác quan tâm, và nếu ta bỏ sót một số trong chúng thì sẽ có nguy cơ là công việc xét như toàn thể sẽ thiếu mất tính duy nhất và sự đầy đủ.

  • Hãy minh chứng giá trị của nó cho chính anh em. Anh em có nhiệm vụ xác minh giá trị của sự hỗ trợ này. Nếu bản văn thật sự dựa trên kinh nghiệm thiêng liêng của Tu hội, anh em phải có thể lãnh hội tặng phẩm được Chúa ban cho Don Bosco khi anh em sống lại và tái khám phá kinh nghiệm này. Đoạn anh em sẽ ý thức tác vụ của anh em là một nguồn mạch cho sự hiệp nhất và ơn cứu độ lớn lao biết bao.

Cha Giám đốc thân mến, xin cha hãy suy gẫm những trang này và trao đổi với những người khác. Chúng sẽ trở thành một khung qui chiếu để lượng giá cộng thể của cha đang tiến bước thế nào. Cha hãy gợi nhớ điều cha Albera viết trong lời dẫn nhập cho cuốn Cẩm nang dành cho các Giám đốc: các giám đốc không thể chu toàn tác vụ của mình “nếu tất cả các phần tử của Tu hội không cộng tác. Nếu sự hòa hợp  này luôn thiếu giữa chúng ta, chúng ta không còn là con cái xứng đáng của một người Cha tốt lành như thế, hoặc nhiều cơ sở của của chúng ta không còn mang lại những kết quả mà Thiên Chúa, Giáo Hội, và ngay cả xã hội dân sự có quyền kỳ vọng từ chúng.” (Cẩm nang, pp. 5-6)

Ước gì Mẹ Phù Hộ mà vào ngày đại lễ kính Mẹ cha công bố cuốn cẩm nang này, ban cho chúng ta tin tưởng vào tất cả những công cuộc của chúng ta nhờ sự hiện diện của Mẹ, và ước chi Mẹ ban cho chúng ta niềm can đảm, hy vọng và an ủi trong những thời khắc khó khăn trong công việc hằng ngày của chúng ta.

Roma, 24 tháng Năm, 1982

Cha Egidio Viganò

Bề Trên Cả

NHỮNG LỜI THÂN TÍN CỦA DON BOSCO

CHO CÁC GIÁM ĐỐC

 

Cha Giám đốc thân mến, cuốn Hỗ Trợ này được dành cho cha nhằm giúp cha trong trách vụ tế nhị là người sinh động và là bề trên của cộng thể địa phương. Cuốn sách bắt đầu với "những lời thân tín" (memoranda); trước kia nó được gọi là “lá thư thân tín” mà Don Bosco gởi cho Micae Rua, người con yếu dấu, vị giám đốc đầu tiên của Tu hội tại nhà Mirabello.

Lá thư viết ngày 28 tháng Mười, 1863. (Ep. 1, Lett. 331). Chúng ta vẫn còn giữ được nguyên bản do chính tay Don Bosco viết. Don Rua treo nó trên tường của phòng ngài sau khi Don Bosco chết.

Nó được hiệu đính lại vài lần. Ấn bản cuối cùng được chính Don Bosco để lại như là chúc thư của ngài cho tất cả các giám đốc trong mọi thời.

Xin cha hãy lắng nghe những lời của Đấng Sáng Lập thánh thiện: “Đây là một thứ di sản cha để lại cho giám đốc của mỗi nhà. Nếu những lời khuyên này được đem ra thực hành, cha sẽ nhắm mắt an bình vì biết rằng chắc chắn Thiên Chúa sẽ chúc lành cho Tu hội chúng ta. Và Tu hội sẽ ngày càng phồn vinh cũng như chu toàn được sứ mệnh của mình là làm vinh danh Chúa ngày một hơn và cứu rỗi các linh hồn” (BM 10,452).

Tài liệu căn bản này chứa đựng những giá trị vĩnh tồn vốn vượt ra xa một số điểm khác mà không còn giá trị nữa bởi lẽ thời đại và văn hóa đã đổi thay. Nếu cha, giống như Don Rua, có thể giải thích những dòng chữ này vốn vẫn đầy khởi hứng và ý nghĩa luôn mới mẻ, thì cha cũng có thể hưởng được kinh nghiệm mà cha Rua đã có được, là nghe lại được giọng nói gây cảm hứng của Don Bosco và cảm thấy ngài gần bên cha như một người bạn, người anh và người cha.

Cho Chính Con

  1. Đừng để điều gì làm con xao xuyến.
  2. Con hãy tránh nhiệm nhặt trong ăn uống. Phải hơn, con hãy hãm mình bằng cách chăm chỉ chu toàn các bổn phận của con và kiên nhẫn chịu đựng những phiền toái. Vì sức khỏe của con lẫn của những kẻ thuộc quyền con hãy ngủ 7 tiếng ban đêm. Vì những lý do thích hợp, con có thể du di thêm bớt một tiếng trước hay sau.
  3. Con hãy cử hành thánh lễ và thần vụ cách sốt sắng, đạo đức và chăm chú. Điều này dành cho cả con lẫn những người thuộc quyền.
  4. Con đừng bao giờ bỏ nguyện ngắm ban sáng và viếng Thánh Thể hằng ngày. Những gì còn lại, con hãy thực hành theo qui luật của chúng ta.
  5. Con hãy cố gắng làm cho ai nấy yêu mến hơn là nể sợ con. Con hãy để cho đức ái và kiên nhẫn không lay chuyển hướng dẫn con trong khi ra lệnh và khuyên răn. Trong mọi điều con làm và nói năng hãy tỏ cho thấy rằng con đang tìm kiếm lợi ích của các linh hồn. Con hãy chịu đựng mọi sự và bất kỳ điều gì nếu liên quan đến việc ngăn ngừa tội lỗi. Con hãy tập trung nỗ lực tìm hạnh phúc thiêng liêng vật chất và tinh thần của các thanh thiếu niên được Chúa quan phòng ký thác cho con.
  6. Con hãy luôn nâng lòng trí lên cùng Chúa trước bất kỳ quyết định quan trọng nào. Khi người ta báo cho con điều gì, con hãy lắng nghe đầy đủ và cố gắng minh xác mọi sự trước khi phán quyết. Thường nhiều khi việc bé lại xé ra to.

Với Các Thầy Giáo:

  1. Con hãy lo sao để các thầy giáo có đủ cơm ăn áo mặc cần thiết. Con hãy quan tâm đến gánh nặng công việc của họ. Khi họ ốm đau hay không sẵn sàng, con hãy cho người thế.
  2. Con hãy thường xuyên trao đổi với họ riêng tư hoặc theo nhóm. Con hãy xem họ có lao lực không, có cần sách vở hay áo quần gì không, có bị mệt nhọc thể lý hay luân lý không, hoặc có gặp những vấn đề về kỷ luật học đường đối với một vài học sinh không. Con hãy gắng hết sức cung cấp bất kỳ nhu cầu nào con nhận ra được.
  3. Đặc biệt trong huấn đức, con hãy xin họ hỏi bài tất cả các học sinh một cách ngẫu nhiên và bảo chúng đọc bài trả lại. Con hãy xin họ đừng yêu riêng và thiên tư. Con đừng để họ cho bất kỳ ai vào phòng của mình.
  4. Nếu họ phải giao một việc đặc biệt nào cho học sinh, hay phải khuyên bảo chúng, thì con hãy cho họ dùng một phòng dành riêng cho mục đích này.
  5. Vào dịp lễ hội của thành phố hay trường học, tuần 9 ngày kính Đức Trinh Nữ hay một vị thánh nào, hay khi tưởng niệm một mầu nhiệm nào trong Đạo chúng ta, con hãy xin các thầy giáo nói đôi lời về điều ấy. Không bao giờ được bỏ điều này.
  6. Hãy lo sao để các thầy giáo đừng đuổi học sinh ra khỏi lớp hoặc đánh đập những học sinh chểnh mảng và ngỗ nghịch. Trong những trường hợp nghiêm trọng, con hãy xin họ mau mắn báo cáo vụ việc cho giám học hay cho giám đốc.
  7. Ngoài lớp học thầy giáo không nên dùng quyền bính. Họ nên giới hạn mình vào những lời khuyên, cảnh cáo hay sửa lỗi, theo như đức ái chân chính cho phép và gợi hứng.

Với Các Hộ Trực Và Trưởng Nhà Ngủ

  1. Phần lớn những gì nói cho các thầy giáo đều có thể được áp dụng cho các hộ trực và các người trông coi nhà ngủ.
  2. Con hãy lo sao họ có thời giờ và dễ dàng học hành mà không xao nhãng bổn phận của mình.
  3. Con hãy vui vẻ trao đổi với họ về hạnh kiểm của các học sinh. Họ có bổn phận quan trọng nhất là phải có mặt đúng lúc tại các nơi chốn của họ: nhà ngủ, lớp học hay xưởng thợ, sân chơi, …
  4. Nếu thấy bất kỳ ai trong họ yêu riêng bất kỳ học sinh nào, hoặc chức vụ và chỗ đứng luân lý của họ gặp hiểm nguy, con hãy cẩn trọng giao cho họ những bổn phận khác. Nếu vẫn còn nguy hiểm, con hãy báo ngay cho bề trên.
  5. Thỉnh thoảng, con hãy họp các thầy giáo, hộ trực và những người trông coi nhà ngủ hầu xin họ hết sức ngăn ngừa những câu chuyện xấu và loại trừ sách báo, tranh ảnh hoặc bất kỳ cái gì có thể gây nguy hại cho nhân đức trong sạch. Con hãy xin họ khuyên bảo và nhân hậu với mọi người.
  6. Con hãy xin mọi người ra sức khám phá ra những học sinh nguy hiểm về luân lý và nhấn mạnh rằng họ phải báo cho con biết những học sinh ấy.

Với Các Sư Huynh

  1. Con hãy coi sóc để họ có thể tham dự thánh lễ mỗi sáng và lãnh nhận các bí tích như luật Tu hội qui định.
  2. Con hãy rất dịu dàng khi ra lệnh. Bằng lời nói và việc làm con hãy cho thấy rõ rằng con đang tìm lợi ích thiêng liêng cho họ.
  3. Một sư huynh có đức ngay thẳng đã được tôi luyện nên trông coi những người gia công trong công việc và hạnh kiểm luân lý của họ, và ngăn cản thói chôm chỉa và chuyện trò bù khú.

Với Học Sinh

  1. Con đừng nhận các học sinh mà các trường khác sa thải hoặc con được biết là vô luân. Nếu cho dù đã phòng ngừa thích đáng mà vẫn có một học sinh như thế được nhận vào, thì con hãy lập tức giao em đó cho một người bạn đáng tin cậy. Người bạn đó sẽ không bao giờ rời mắt khỏi em đó. Nếu thiếu niên đó vi phạm luân lý, con phải cảnh cáo em một lần thôi. Lần thứ hai còn sai phạm, con hãy cho em về nhà ngay.
  2. Con hãy dành nhiều giờ bao có thể để ở với học sinh. Bất cứ khi nào cần, con hãy cố gắng thì thầm với từng em đôi lời tử tế, như con sẽ biết làm cách nào, bất cứ ở đâu con thấy cần thiết. Đây là bí quyết tuyệt diệu để trở nên ông chủ của cõi lòng chúng.
  3. Con có thể sẽ hỏi: “con sẽ nói gì đây?” Hãy nói điều mà trước kia đã được nói cho con. Chẳng hạn:
  • “Con khỏe không?
  • Dạ, con khỏe.
  • Linh hồn con ra sao?
  • Chắc không tệ lắm.
  • Con muốn giúp cha một việc quan trọng không?
  • Vâng, nhưng điều gì đây?
  • “Để biến con nên một thiếu niên tốt” hay “Để cứu linh hồn con” hay “Để làm con nên người rất tốt”.

Với một em ngỗ nghịch, con có thể khơi chuyện

  • Khi nào con muốn bắt đầu đây?
  • Bắt đầu cái gì?
  • Bắt đầu thành niềm vinh dự và niềm vui của cha hay bắt đầu trở thành một thánh Lu-y khác.

Đối với những thanh thiếu niên khá miễn cưỡng lãnh nhận các bí tích, con hãy nói:

  • Khi nào chúng ta sẽ nắm sừng thằng quỉ?
  • Nhưng làm thế nào?
  • Bằng cách xưng tội tử tế.
  • Bất cứ khi nào cha muốn,
  • Càng sớm càng tốt.

Con cũng có thể hỏi: “khi nào chúng ta sẽ thanh tẩy?” hay “con có sẵn sàng giúp cha nắm sừng thằng quỉ không?” hay “hai chúng ta sẽ thành bạn hữu trong những việc thiêng liêng nhé?” Con hãy thực hành những lối nói chuyện này và tương tự như thế.

  1. Trong các nhà chúng ta thường giám đốc cũng là cha giải tội. Vậy con hãy cho thấy rõ là con thật sung sướng thi hành tác vụ này. Nhưng con hãy để chúng tự do đến với cha giải tội khác nếu chúng muốn. Con hãy nói cho chúng rằng con không dự các phiên họp của các bề trên bàn về hạnh kiểm của chúng. Con hãy nhất quyết xua đi thậm chí cả một bóng nghi ngờ nhỏ bé nhất rằng con có thể lợi dụng bất kỳ điều gì con nghe được trong tòa giải tội hoặc ngay cả con nhớ đến nó nữa. Con đừng bao giờ tỏ ra thiên tư một chút nào đối với bất cứ ai thích cha giải tội này hơn cha giải tội khác.
  2. Hãy cổ võ và phát triển hội giúp lễ, hội thánh Lu-y, hội Thánh Thể và hội Vô Nhiễm. Con hãy cổ võ mà không điều hành những hội ấy. Con hãy coi những hội này là những việc các thanh thiếu niên phải đảm trách và có thể trao cho cha giám linh hay cha linh hướng coi sóc chúng.

Với Người Ngoài

  1. Chúng ta hãy vui vẻ sẵn sàng đối với các nghi thức tôn giáo, giảng thuyết, dâng lễ và giải tội khi đức ái và bổn phận cho phép, đặc biệt đối với giáo xứ chúng ta thuộc về. Con đừng bao giờ nhận những bổn phận làm con vắng nhà hay cản trở con chu toàn các bổn phận.
  2. Vì lịch sự, con nên mời các linh mục không thuộc về nhà của con giảng vào những dịp lễ trọng hay tham dự những buổi văn nghệ. Con cũng phải lịch sự như thế đối với các vị quyền chức dân sự hay những người làm ơn cho chúng ta hoặc những người có khả năng làm thế.
  3. Một trong những nét nổi bật của giám đốc là bác ái và lịch thiệp đối với tất cả mọi người, dù là những người cư trú hoặc những người ngoài.
  4. Nếu những lợi lộc vật chất bị đe dọa, con hãy nhún nhường bao có thể, ngay cả khi bị mất mát, nếu điều này ngăn chặn được những cãi vã hay tranh chấp có thể phạm đến đức ái.
  5. Trong những vấn đề thiêng liêng, con hãy cố giải quyết các vấn đề theo phương thức nào có thể làm cho Thiên Chúa được vinh quang hơn cả. Con phải hy sinh những cam kết, những nhỏ nhen, những ước muốn báo thù, lòng kiêu hãnh, những yêu sách và cả đến uy tín để ngăn cản tội lỗi.
  6. Trong những vấn đề thật hệ trọng, con hãy chờ đợi để cầu nguyện và để có thể tham khảo những người đạo đức và khôn ngoan.

Với Những Hội Viên Trong Tu Hội

  1. Tuân giữ xác đáng Tu luật, đặc biệt đức vâng phục, là nền tảng cho mọi sự. Nếu con muốn người khác vâng phục con, con hãy nêu gương vâng phục các bề trên của con. Không ai thích hợp để ra lệnh trừ phi họ có thể vâng phục.
  2. Con hãy cố gắng phân công tốt đẹp và không để cho bất kỳ ai phải làm việc quá sức. Con hãy liệu cho ai nấy luôn trung thành thực thi bổn phận của mình.
  3. Không phần tử nào của Tu hội có thể ký những khế ước, nhận tiền hay vay mượn thân nhân, bạn hữu hay bất kỳ ai khác. Không ai được giữ tiền hay quản trị tài sản trừ phi rõ ràng được bề trên ủy quyền. Tuân giữ khoản luật này sẽ ngăn ngừa cái tại họa chí tử nhất đã vốn làm cho nhiều dòng tu đau đớn.
  4. Con hãy ghê tởm như độc dược bất kỳ sự sửa chữa nào đối với Tu luật. Tuân giữ xác đáng thì tốt hơn bất kỳ sự duyệt xét nào. Cái tốt nhất là kẻ thù của cái tốt.
  5. Học hành, thời gian và kinh nghiệm làm cha thâm tín rằng tham lam, háu ăn và hư vinh phá hoại những Tu Hội đang triển nở và nhiều hội dòng đáng kính. Thời gian cũng sẽ dạy cho con một số điều chân thật biết bao, dù bây giờ con thấy chúng hình như không thể tin được.

Khi Ra Lệnh

  1. Con hãy cố đừng bao giờ ra lệnh cho những người thuộc quyền phải làm những điều vượt quá sức họ hay nghịch với xu hướng của họ. Tốt hơn con hãy cố hết sức để giúp những xu hướng của mỗi người phát triển bằng cách giao phó cho họ những trách vụ mà con biết là hợp hơn với sở thích của họ.
  2. Con đừng bao giờ ra lệnh nào mà gây phương hại đến sức khỏe của một người, tước mất sự nghỉ ngơi cần thiết của họ hoặc nghịch với những bổn phận hay các mệnh lệnh khác đã được một bề trên khác ban hành.
  3. Khi ra lệnh, con hãy luôn lịch thiệp và tế nhị. Con đừng dọa nạt hay giận dữ; những thứ đó chẳng hề có chút áp lực nào cho điều con nói và làm.
  4. Khi phải ra lệnh điều gì cứng cỏi và gay gắt, con hãy dùng đến lối tiếp cận này: “Cha [Thầy] có thể làm được điều này điều nọ không? Tôi có một công việc quan trọng, và thực ra tôi không muốn đè nặng trên cha [thầy] việc ấy, bởi nó khó khăn lắm. Tuy nhiên không ai khác lại có thể làm công việc ấy. Cha [thầy] có giờ không? Cha [Thầy] thấy có thể làm được không? Nó có cản trở các bổn phận khác của cha [thầy] không? Kinh nghiệm minh chứng rằng những lời đề nghị như thế vào đúng lúc rất hiệu nghiệm.
  5. Con hãy tiết kiệm trong mọi sự, nhưng con hãy đảm bảo rằng bệnh nhân không thiếu thốn chi. Dù vậy, con hãy nhắc nhớ mọi người rằng chúng ta đã khấn khó nghèo và vì thế chúng ta không nên tìm hoặc thậm chí ước muốn bất cứ tiện nghi nào. Chúng ta phải yêu mến đức khó nghèo và những gì đi kèm với nó. Vì thế chúng ta hãy tránh những tiêu pha không tuyệt đối cần thiết trong may mặc, sách vở, đồ đạc, di chuyển …

Đây là thứ gia sản cha để lại cho giám đốc của mỗi nhà. Nếu các con thực thi những khuyến dụ này, cha sẽ an bình nhắm mắt, vì biết rằng Thiên Chúa chắc chắn sẽ chúc lành cho Tu hội chúng ta, và Tu hội sẽ mãi mãi phong phú và chu toàn được sứ mệnh của mình là làm vinh danh Chúa ngày một hơn và cứu rỗi các linh hồn.

 

LỜI TỰA

 

  1. NHỮNG MỤC TIÊU

Cuốn cẩm nang GIÁM ĐỐC SALÊDIÊNG, TÁC VỤ SINH ĐỘNG VÀ CAI QUẢN CỘNG THỂ ĐỊA PHƯƠNG (RM), được cống hiến cho Tu Hội rõ ràng nhằm chu toàn đường hướng của Tổng Tu Nghị 21 (61d). Nhưng trên hết nó nhằm giúp cha triển khai sự hiểu biết của cha về tác vụ mục vụ trong cộng thể.[2]

Khi xuất bản cuốn Hỗ trợ [cẩm nang] này, chúng tôi cũng đáp lại yêu cầu của các hội viên xin làm sáng tỏ chức năng và hình ảnh của giám đốc.[3] Theo ý Don Bosco và truyền thống không gián đoạn của chúng ta, giám đốc “hẳn rõ ràng tạo thành trung tâm hiệp nhất và sáng kiến của mọi công cuộc Salêdiêng … ngài lãnh đạo và hướng dẫn cộng thể tu sĩ, cổ xúy và nâng đỡ mọi hoạt động tông đồ cũng như đào luyện; ngài là người chịu trách nhiệm sau cùng về mọi điều xảy ra trong các lãnh vực kinh tế, kỹ thuật hay tổ chức.”[4] Ngài có vai trò thật quan trọng,[5] vì ngài sinh động liên đới với mọi người và mọi sự. Các hội viên ý thức rằng họ phải liên hệ cá nhân với ngài.

Đàng khác, những đổi thay văn hóa đòi hỏi một lối tiếp cận mới phù hợp với những dấu chỉ thời đại và sự hiểu biết sâu xa hơn của Vatican II về ý nghĩa của tác vụ.[6] Giám đốc là nhân vật trung tâm và thực thi một chức năng bất khả thế. Nhưng chúng ta có nguy cơ không hiểu đầy đủ vai trò của ngài trừ phi chúng ta cống hiến một sự hỗ trợ huynh đệ và hợp thời, vốn cho ta những ý tưởng và chỉ dẫn rõ ràng, giúp giải quyết những khó khăn không thể né tránh buộc phải nổi lên, ngày một lớn hơn và nhiều hơn. Những văn kiện của các Tổng Tu Nghị đôi khi cho thấy một sự bứt rứt và lúng túng nào đó được ta kinh nghiệm trong việc thực thi quyền bính hằng ngày – (đó là) một tình trạng đòi buộc các hội viên phải chân thành cộng tác với giám đốc, bởi vì ngài là một người bất toàn, nhưng lại được mời gọi để sinh động một cộng thể vốn gồm những con người bất toàn. Như ai khác, ngài cũng cần được nâng đỡ và cảm thông.[7]

  1. TÁC VỤ VÀ CỘNG THỂ

Ta phải luôn nhìn tác vụ của giám đốc trong mối tương quan với cộng thể mà cha được mời gọi để sinh động và cai quản, và với từng phần tử của cộng thể đó.

  • Cộng thể Salêdiêng sống trong Giáo Hội, tham gia vào sứ mệnh của Giáo Hội “như một bí mật quan trọng mà Thiên Chúa giữ kín” cho tới thời Don Bosco và từ đó trở đi nó tiếp tục tồn tại với những nét đặc trưng của mình.[8]
  • Bản chất cũng như sự hiệp nhất của cộng thể đòi buộc phải có một hội viên, với đặc sủng là sự thụ phong linh mục và với kinh nghiệm mục vụ của mình, có thể hướng dẫn cộng thể trên bình diện thiêng liêng và tập chú cộng thể vào sứ mệnh của mình.[9] Tác vụ ấy thúc đẩy cha phục vụ, cổ võ cộng thể tăng trưởng và đạt được mục đích chuyên biệt của mình. Don Bosco thường nói: “Tu hội hiện hữu vì Giáo Hội, chứ không phải vì tôi.”[10]
  • Trong cộng thể cha là người anh giữa các anh em. Cha hiệp nhất với họ vì tặng phẩm là cùng một ơn gọi. Tuy nhiên cha cũng là người sinh động và là bề trên của họ. Cùng với họ, cha phục vụ Giáo Hội, tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội. Đây là một cam kết[11] mà Don Bosco là người đầu tiên cảm nhận. Ngày 11 tháng 3, 1869, ngài nói điều này khi tuyên bố: “Tu hội chúng ta được phê chuẩn. Chúng ta phải liên kết với nhau: cha liên đới với các con và các con với cha để tất cả chúng ta liên kết với Thiên Chúa. Giáo Hội có quyền trên công cuộc của chúng ta.”[12] Trong tình huynh đệ này, các hội viên liên kết với nhau “giống như các chi thể của thân xác con người lệ thuộc nhau và tất cả đều lệ thuộc vào một cái đầu.”[13]

Cam kết này cũng được diễn tả trong Hiến luật: “Chúng ta, các Salêdiêng Don Bosco họp thành một cộng thể những người được thánh tẩy. Vâng theo tiếng gọi của Thánh Thần, chúng ta nguyện thực hiện kế hoạch tông đồ của Đấng Sáng Lập trong đời thánh hiến tu trì.”[14]

Nhằm hoàn thành sứ mệnh này cũng như duy trì sự dễ dạy đối với Chúa Thánh Thần mà vị trí của bề trên “là ở trung tâm của cộng thể, là người anh giữa các anh em. Họ chân nhận trách nhiệm và quyền bính của ngài. Bổn phận đầu tiên của ngài là hướng về cộng thể. Ngài giữ cho cộng thể hiệp nhất trong niềm hiệp thông, điều hướng các nỗ lực của mọi người và lưu tâm đến những quyền lợi, bổn phận và khả năng của từng người … ngài chịu trách nhiệm trực tiếp trên mỗi hội viên, giúp họ hiện thực ơn gọi của mình và công tác họ đảm nhận ngày một tốt đẹp hơn.”[15]

Như thế, Hiến luật đòi buộc cha phải luôn lưu ý đến lợi ích của cộng thể và từng hội viên trong cộng thể, và theo đuổi điều ấy bằng những phương cách cá nhân thích hợp và có hiệu quả.

  • Nhờ hiểu biết những đặc tính của ơn gọi Salêdiêng, chắc chắn đúng như thế, cha sẽ ý thức đầy đủ hơn rằng tác vụ của cha ngày nay cần thiết biết bao cũng như cần canh tân nó biết mấy sao cho trung thành với tinh thần của chúng ta. Ơn gọi chúng ta phải trung thành với sự khôn ngoan của thời sơ khai và đồng thời lại phải rộng mở trước những thách đố mới của thời đại chúng ta. Thực vậy, ơn gọi của chúng ta nhằm “hiện thực được việc theo Đức Kitô, sequela Christi, theo đặc sủng của Don Bosco, trong khi vẫn liên lỷ rộng mở trước những đòi hỏi chính đáng của những tiến bộ mới được thế giới chung quanh chúng ta gợi lên, nhất là trong thế giới của người trẻ và trong đời sống Giáo Hội.”[16] Nguyên tắc này sinh ra cùng với Tu hội trong cõi lòng Don Bosco và chúng ta đã không bao giờ đánh mất nhãn quan ấy.

Những lời thân tín" (Confidential Memoranda) dành cho Don Rua như vị giám đốc được phát sinh từ việc Don Bosco hằng ao ước ở gần bên người con yêu quí của ngài. Nó phát sinh từ nhu cầu mà ngài từng cảm nghiệm được là phải nâng đỡ vị giám đốc trẻ tuổi ấy trong trách vụ rất quan trọng đối với cộng thể Salêdiêng, với thanh thiếu niên, với các cộng sự viên giáo dân, và đối với việc tông đồ mà phải phản ánh được môi sinh và tinh thần của Valdocco. Cuốn Cẩm nang dành cho giám đốc của Don Albera nhắc nhớ chúng ta một lý lẽ khác vốn cũng thuộc về truyền thống chúng ta. Trong cuốn cẩm nang này chúng ta tìm được những “đề xuất mà thời đại đang thay đổi cùng những hoàn cảnh mới dường như nêu lên”.[17] Trích dẫn Don Bosco từng chữ, liệu không đủ ư?

Don Albera đã xét kỹ câu hỏi ấy. Ngài viết: “Thưa cha giám đốc, tôi thẳng thắn nhận rằng đối với tôi, pha trộn những nhận xét nghèo hèn của mình vào lời giáo huấn của Don Bosco và Don Rua hình như là một thứ trần tục hóa!”[18] Nhưng rồi ngài đã thắng vượt được sự ngần ngại lớn lao ấy, nhằm giúp các giám đốc “phản ánh nơi chính họ cái khuôn mẫu về lãnh đạo ấy. Khuôn mẫu ấy là nét rất đặc sắc của Đấng Sáng Lập thánh thiện của chúng ta. Đồng thời cũng nhằm làm cho tinh thần ngài ngự trị trong tất cả sự sung mãn của nó nơi toàn Tu hội.”[19] Điều này sẽ được hoàn thành chính là nhờ vào những lời ám chỉ hữu ích ấy mà các nhu cầu thời đại và hoàn cảnh đổi thay dường như đòi hỏi.[20]

Cha có thể dễ dàng thấy những mục tiêu của “Những lời thân tín” (confidential Memoranda) của Don Bosco, cuốn Cẩm nang cho giám đốc của Don Albera và cuốn sách nhỏ bé này đều như nhau. Tất cả đều nhằm đem lại sự trợ giúp cho những ai được mời gọi thực thi quyền bính: là cống hiến cái lý lẽ, những chỉ dẫn và phương thế thực tiễn hầu qua tác vụ ấy, họ có thể xây dựng cộng thể Salêdiêng, nâng cao sự thánh thiện của cộng thể lẫn hiệu quả của việc tông đồ.

  1. SẮP XẾP NỘI DUNG CUỐN SÁCH

Những suy tư trên vạch đường cho ta theo trong cuốn sách nhỏ bé này.

  • Việc canh tân đời sống tu trì của chúng ta hàm ẩn phải liên tục quay về với những cội nguồn của Tu hội, đồng thời phải thích ứng với thời đại đang đổi thay.[21] “Ta phải duyệt xét cách thái điều hành các hội dòng theo cùng những tiêu chuẩn ấy.”[22]

Nhưng ta cần đến loại quyền bính nào cho thứ cộng thể nào đây? Chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi rất căn bản này bằng cách cố khám phá ý nghĩa của quyền bính và cộng thể vào thời khởi đầu cũng như vào trạng huống hiện nay của chúng ta.

  • Chúng ta trước tiên chăm chú nhìn ngắm Don Bosco. Qua hoạt động của Thánh Thần và sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ Maria, Don Bosco nhận được ân huệ sáng lập một Tu hội. Tu hội ấy đã ở nơi ngài như một phôi thai. Ngài là người cha đầu tiên và bề trên đầu tiên, nhưng cũng là người con đầu tiên của Tu hội ấy. Trong Hồi Sử chúng ta đọc thấy: “vì đời sống của Don Bosco hoàn toàn gắn kết với đời sống của Tu hội, nên chúng ta hãy nói về ngài.”[23]

Chúng ta khám phá ý nghĩa của quyền bính giám đốc tại chính cội nguồn của nó khi nhìn quyền bính trong ánh sáng của Don Bosco. Nơi ngài, chúng ta hiểu mình hơn.[24]

  • Giám đốc được mời gọi làm sống lại tình cha của Don Bosco. Sau khi khám phá ra ý nghĩa của nó tại chính cội nguồn, chúng ta cũng phải gắng sức hiểu được cái ý thức về Giáo Hội vốn đang lớn lên cũng như những hoàn cảnh hiện đại và những dấu chỉ thời đại.[25] Ta phải bảo vệ giá trị trường tồn của tình cha. Đó đâu phải là một thứ cặn bã vô dụng, ngột ngạt, lỗi thời của một nền văn hóa cổ hủ. Ta phải nhìn xem nó theo phong cách và giá trị được canh tân của nó. Các bề trên, những người đầu tiên chịu trách nhiệm về ơn gọi Salêdiêng, được mời gọi để thực thi việc phục vụ của quyền bính[26] hầu chu toàn được trách vụ khó khăn là hài hòa được sự sinh động thiêng liêng với quyền bính trong đời tu. Ta không thể sinh động mà không cai quản cũng như ta không thể cai quản mà không sinh động.

Sự sinh động này sẽ không thật sự là Salêdiêng nếu khi thực thi quyền bính, ta đánh mất một cấu tố khác (trách nhiệm cai quản thật sự). Biết làm sao để liên kết hai cấu tố đó với nhau theo những tỷ lệ thích đáng quả là một nghệ thuật và một ơn sủng Salêdiêng, được diễn tả trong chia sẻ và đối thoại. Những hình thức và phương pháp này được trình bày trong truyền thống chúng ta và những tài liệu của các Tổng Tu Nghị mới đây là những phương thế hữu ích, khôn ngoan và hữu hiệu để sống tinh thần Salêdiêng chúng ta. Chúng cũng được trình bày như liên quan nhiều đến các thái độ và nhân đức đặc biệt mà giám đốc phải có, hầu ngài có thể dùng chúng mà phục vụ cho ơn gọi đặc biệt và diệu kỳ của chúng ta, một ơn gọi cùng lúc là tu sĩ, tông đồ và Salêdiêng.

Những chiều kích này được liên kết trong sự thống nhất mà chúng ta kinh nghiệm được về ơn gọi của mình.[27] Chúng được nối kết hỗ tương với nhau, không phải như những thành phần rời rạc nối kết với nhau cách giả tạo nhưng như những khía cạnh đồng qui của cùng một thực tại năng động. Do đó chúng ta có thể cổ xúy đức ái và hoàn thành sứ mệnh của mình, bởi vì Thánh Thần dẫn dắt người Salêdiêng chọn lựa một lối sống Kitô hữu. Lối sống đó cùng một lúc vừa là tông đồ vừa là tu sĩ.[28] Tất cả những điều ấy được bàn đến ở chương 1, 2 và 3.

Chính những chiều kích này tạo thành bộ sườn cho việc phục vụ của cha là giám đốc. Trong chương 4 chúng ta sẽ xét đến ơn gọi Salêdiêng là một kinh nghiệm của đức ái (chiều kích “tu sĩ” Salêdiêng). Còn chương 5 lại bàn đến ơn gọi Salêdiêng như một kinh nghiệm về đức ái mục tử (chiều kích tông đồ Salêdiêng). Chương 6 nói đến những chiều kích này theo quan điểm các mục tiêu, tiêu chuẩn phương thế thích hợp nhất hầu thể hiện chúng cách thích đáng. Còn trong phần phụ lục, chúng ta vạch ra những cơ cấu pháp lý và quản trị cần phải có để cổ xúy cùng những giá trị này. Đây là chỗ mà những giá trị này trở thành linh hoạt và có được sức mạnh khách quan, sức mạnh ấy bảo đảm cho sự duy nhất và đồng tông đồng giống thiêng liêng của Tu hội.

 

 

CHƯƠNG I:

DON BOSCO,
NGƯỜI CHA VÀ ĐẤNG SÁNG LẬP

 

Mục đích của chương 1 và 2 là đi ngược về cội nguồn của quyền bính Salêdiêng. Trong ánh sáng đó, chúng nhằm gợi nhắc lại và thấu hiểu hơn quyền bính đó hầu canh tân nó.

  • DON BOSCO, NGƯỜI CHA VÀ ĐẤNG SÁNG LẬP

Don Bosco là mẫu gương hằng đặt trước mặt cha, một nhân vật hấp dẫn cho ta chiêm ngắm nhưng cũng là người tạo ra một sự úy kính. Vì cha và Don Bosco rất khác nhau, nên có thể dễ dàng gây ra một tình cảm về sự bất tương xứng kèm với một xác tín rằng mình không thể đạt tới sự hoàn thiện của ngài. Nhưng tình cảm chủ trị phải là nỗi niềm tri ân Thiên Chúa vì tặng phẩm là con người và sự thánh thiện của ngài, được theo sau bằng một tình cảm tín thác bởi lẽ Don Bosco không chỉ là một kỷ niệm quá khứ nhưng là Đấng Sáng Lập và mẫu gương của chúng ta: một sự hiện diện sống động, tích cực, vươn đến tương lai.[29]

Nếu chúng ta học hỏi ngài kỹ càng để bắt chước ngài[30] như vị giám đốc, thì dường như chúng ta hiểu xác thực nhất chân tính của ngài khi chúng ta gọi ngài là cha. Cha Rinaldi nói: “Đấng Sáng Lập chúng ta không là gì khác hơn là một người cha … Cả đời ngài là một thiên khảo luận đầy đủ về tình cha, một tình cha có nguồn mạch nơi Cha trên trời … và Don Bosco sống tình cha ấy ở dưới thế này cách tròn đầy và hầu như độc đáo. Cũng như đời ngài không gì khác hơn là tình cha, nên công cuộc và các con cái ngài không thể tồn tại mà không có tình cha ấy.”[31] Trích dẫn này là của một người Salêdiêng đã am hiểu Đấng Sáng Lập cách sâu sắc mà ít ai có được. Như người ta thường nói ngài giống hệt Đấng Sáng Lập chỉ trừ giọng nói mà thôi.

Cha giám đốc thân mến, Don Bosco chắc chắn hài lòng để nhìn nhận hình ảnh người cha nơi chính mình. Đó là một hình ảnh Tin Mừng mà thánh Phaolô đã diễn tả rất sâu sắc. Ngài nói lên mục đích của tình cha này: “cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em.”[32] “Điều tôi tìm kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em. Thật vậy, không phải con cái có nhiệm vụ thu tích của cải cho cha mẹ, mà là cha mẹ phải thu tích của cải cho con cái.”[33] Ngài nói tình cha đòi hỏi sự tận hiến: “Chúng tôi sẵn sàng hiến cho anh em không những Tin mừng của Thiên Chúa mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi.”[34] Ngài nói đến những thái độ mà tình cha cần có: “Chúng tôi đã khuyên nhủ, khích lệ, van nài anh em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng kêu gọi anh em.”[35] “Anh em muốn gì? Muốn tôi mang roi vọt hay là đức bác ái và lòng nhân hậu mà đến với anh em.”[36] Ta thấy cùng một hình ảnh ấy nơi Don Bosco. Ngài luôn khước từ những danh dự và huân chương để vẫn luôn là “Don Bosco nghèo hèn.” Nhưng ngài thích được gọi là “cha.” Ngài không dấu diếm niềm vui sướng mà diễn ngữ ấy mang lại, một niềm vui lớn lên theo năm tháng trôi qua, và bắt ngài phải thốt lên câu nói này: “Các con hãy luôn gọi cha là cha và cha sẽ hạnh phúc.”[37] Ngài thích tước hiệu ấy bởi vì cùng lúc nó hàm ẩn ơn huệ đặc biệt của ngài, và ước ao của ngài là thiết lập nên một gia đình cho những người sống trong cùng một nhà. Nay xây dựng gia đình này thì tương đương với việc cùng cộng tác với hoạt động của Thánh Thần để khai sinh ra gia đình ấy (thành lập), sinh động nó trên bình diện siêu nhiên (đào tạo những người con của nó và giáo dục những người trẻ của nó) và hướng dẫn cùng cai quản nó. Don Bosco đặt tình yêu vĩ đại của ngài như nền móng cho cả tòa nhà ấy. Ngài rõ ràng nhân hậu trong cách suy nghĩ và hành động. Ngài có thể hòa nhã hay cứng rắn tùy theo hoàn cảnh. Nhưng những người mà ngài dùng lời nói để hướng dẫn hay sinh động, an ủi hay in khắc niềm tín thác, đều cảm nhận rằng ngài nói những lời ấy để diễn tả tình yêu của một người cha.

Những biến cố trong đời sống ngài dường như được “một bàn tay vô hình” sắp đặt và thường được rải rắc bằng “những sự tỏ lộ bí nhiệm. Chúng tiên báo những biến cố tương lai.” Những biến cố này “dường như được sắp đặt trước để thực hiện một kế hoạch mà Thiên Chúa hằng giữ kín trong cõi thẳm sâu của Ngài.”[38]

Ơn là Đấng sáng lập một Tu hội là điều thuộc riêng Don Bosco; nhưng rõ ràng theo một vài cách thức và một mức độ nào đó trách vụ này thuộc về tất cả các Salêdiêng, nhất là các bề trên. Don Bosco là Đấng Sáng Lập, nhưng các Salêdiêng của ngài có trách nhiệm không chỉ giữ gìn, nhưng canh tân, phát triển ơn ấy.[39]

Anh em có lẽ nhớ điều Don Bosco nói sau buổi kinh tối trong thư viện của Nguyện xá ngày 6 tháng Tư, 1869: “Chúng ta hãy nhiệt thành gắng sức là những người sáng lập xứng đáng của Tu hội thánh Phanxicô Salê, để những ai đọc lịch sử chúng ta sẽ thấy chúng ta thật gương mẫu. Chúng ta đừng để họ nói: “Quả là một đám ô hợp! Các con hãy giúp cha trong trách vụ lớn lao này, bằng thiện chí và vâng phục. Các con có bổn phận làm cho trách vụ của cha nên đơn giản. Nói: hãy dẫn đạo Tu hội thì dễ. Nhưng khi các con thử, các con sẽ thấy nắn đúc những người có tính tình và não trạng khác nhau nên một lòng một trí thật khó khăn và nặng nề biết bao. Nhưng trách vụ này sẽ nên dễ dàng hơn với sự trợ giúp hiền thảo.”[40]

  • DON BOSCO, “NHÀ ĐÀO LUYỆN VÀ LINH HƯỚNG”

Tình cha hay tình hiền phụ của Don Bosco trước tiên mang tính chất siêu nhiên. Nhưng không phải là không có sự sáng chói nhân loại của nó.

 Những phẩm tính nhân bản chân thật của ngài giống như là bí tích cho sự thánh thiện của ngài. Vì thế chúng hòa trộn với sự thánh thiện của ngài. Ngược lại, những tặng phẩm ơn sủng lại như tôn vinh tính nhân bản của ngài. Hiến luật chúng ta thật chí lý khi trình bày ngài để ta thán phục như là "một sự hòa hợp kỳ diệu giữa ân sủng và bản tính.”[41] Nơi tính thống nhất sinh tử này,[42] ta có được cái chìa khóa để hiểu được những thành tựu nhân bản và thiêng liêng của ngài.[43] Tính thống nhất này được sống cách đơn sơ nhưng thật kỳ diệu đến nỗi ta không diễn tả thích hợp bằng những khái niệm được.

2.1 Don Bosco “thật sâu xa là một con người”[44]

Don Bosco có thể ngỏ lời một cách đầy ý nghĩa cho con người mọi thời và mọi chỗ, bởi vì ngài là người vốn có một ý tưởng rõ ràng về căn tính của mình.

Ngài biết Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn ngài cho một sứ mệnh đặc thù. Ngài cũng có một trực giác phi thường về điều đang xảy ra chung quanh mình, và có một khoé nhìn sắc sảo về cách thức lên kế hoạch cho tương lai.

Từ khoé nhìn rõ ràng này phát sinh nơi Don Bosco một sự tín thác ngay cả khi đối diện với những công việc khó khăn, và thậm chí còn hơn nữa, cái phong thái mà qua đó ngài thông giao với con cái mình. Ngài có một nghệ thuật đối thoại với họ, tạo cho họ cơ hội diễn tả đúng điều họ nghĩ. Ngài không co rút vào quan điểm của mình như thể sợ phải thay đổi một cái gì đó trong cách thức ngài nhìn vào các sự việc. Ngài rộng mở trước sự phong phú mà ngài có thể nhận được bằng việc thông giao với kẻ khác. Chẳng hạn, anh em hãy xem những buổi thảo luận sống động và cởi mở giữa Don Bosco và các thành viên rất trẻ của Tổng Tu Nghị đầu tiên trong Tu hội. Họ là những thành viên được ngài huấn luyện từ lúc họ là những thiếu niên! Ghi lại một cuộc trao đổi ý kiến giữa Don Bosco và Don Belmonte tại Sam Pierdarena, Don Amadei đã viết: “Với sự thẳng thắn vốn là đặc điểm của các Salêdiêng tiên khởi, Don Belmonte đã nói với Don Bosco …” Nhận xét ấy thật ý nghĩa.

Kết quả của những ân điển và tài năng nổi bật này là một sự đào luyện vững chắc trong đường thánh thiện cho các Salêdiêng đầu tiên cũng như chính sự tăng trưởng của chính con người Don Bosco. Con cái ngài được làm giàu do sự đơm bông kết trái thiêng liêng của ngài và bị cảm kích vì lòng nhiệt thành vốn thúc đẩy ngài chuyển giao cho kẻ khác điều ngài đã khám phá và hoàn thành. Theo một nghĩa nào đó, họ đạt được một căn tính tươi mới trong khi Don Bosco lại biết mình còn sâu xa hơn nữa và có khả năng vươn đến những mục tiêu mới.

Sống con đường này không chỉ là một kỹ thuật giáo dục. Nó bắt nguồn nơi lòng thương mến sâu xa và chân thật. Tình yêu mạnh mẽ, đức kiên trì không mệt mỏi của ngài trong các trách vụ, cảm thức của ngài về trách nhiệm như một người cha trong gia đình và sự hiến thân vô hạn vì lợi ích của con cái ngài; ai nấy đều thấy rõ. Ngài đã từng nói: “Các con có thể tin tưởng cha bất kỳ ngày giờ nào.”[45] Nơi ngài sự ấm áp nhân loại và ân sủng Thiên Chúa được hòa hợp tốt đẹp và hiển nhiên trong tình cảm ngài tỏ ra. Về điều này ta có một bằng chứng rộng rãi.

Don Albera đã viết một trang về tình ưu ái của Don Bosco. Có lẽ đó là trang đẹp nhất trong nền văn chươing Salêdiêng: “Tôi phải nói rằng Don Bosco yêu thương chúng tôi theo một cách hoàn toàn của riêng ngài. Cách thức yêu mến đó có một sức quyến rũ không thể cưỡng lại được. Tôi thấy mình như thể một tù nhân của sức mạnh của lòng mến thương đó, vì nó gợi hứng cho tôi suy tư, nói năng và hành động. Tôi thấy mình được yêu như một cá nhân, được yêu mến theo một cách thức mà trước kia tôi chưa hề kinh nghiệm. Nó vượt xa thứ tình cảm nhân loại suông. Tình yêu này vây bọc tất cả chúng tôi trong một bầu khí hạnh phúc và vui tươi.

“Mọi sự ở ngài thật hấp dẫn. Không thể nào khác được bởi vì từ mọi lời nói và vịêc làm của ngài đều phát ra một sự thánh thiện đến từ đức ái hoàn hảo và sự kết hợp với Thiên Chúa. Ngài có thể chiến thắng trái tim chúng tôi bởi vì sự hấp dẫn này. Nhiều tài năng tự nhiên của ngài được nâng lên bình diện siêu nhiên nhờ đời sống thánh thiện của ngài.”[46]

2.2 Don Bosco “thật sâu xa là người của Thiên Chúa”[47]

Thật sự dường như Don Bosco đi trước thời đại ngài và đã thắng vượt những chướng ngại mà “ hình ảnh biểu tượng về người cha đã gặp phải trong một số nền văn hoá hiện đại của chúng ta.

Dẫu là một người con của thời đại thì kinh nghiệm thiêng liêng đã khiến ngài hiểu rằng “tình cha” chỉ tìm thấy được ý nghĩa thật sự và cơ bản của mình trong Thiên Chúa. Người ta nói đến những hiệu quả được sản sinh ra nơi ngài như một Đấng Sáng Lập do sự can thiệp của Thiên Chúa và những đặc sủng của ngài: “Don Bosco đảm nhận vai trò của người trung gian. Khi làm thế, Don Bosco mang đến một bằng chứng về một tình cha thiêng liêng và hiệu quả, nhất là có khả năng khai sinh những kinh nghiệm tôn giáo. Tinh thần gia đình ngài tạo nên thực sự là một sự đồng tông đồng huyết trên phương diện thiêng liêng. Nhà giáo dục ấy chuyển thông sự sống mà ngài rút lấy từ sự kết hợp với Thiên Chúa.”[48] Don Rua thành công trong việc lãnh hội và diễn tả bằng một vài lời đơn sơ điều mà “việc xức dầu của Thánh Thần”[49] đã tạo ra nơi Don Bosco: “là người mà nơi người ấy Thiên Chúa đã nâng tình cha thiêng liêng tới mức cao nhất.”[50]

Tình cha thiêng liêng này có nguồn mạch của nó nơi đức tin. Thánh Phaolô nói tới điều ấy khi viết cho dân thành Galat: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em.”[51] Ta tìm được những cội rễ của sự hiệu quả ấy nơi đặc sủng linh mục.

Công đồng Vatican II nói về các Giám mục và linh mục: “Nhờ sự chăm sóc đầy tình cha của họ, Đức Kitô tháp nhập vào thân mình Người những chi thể mới, qua sự tái sinh siêu nhiên.”[52]

Don Rinaldi nói: “Don Bosco chuyển giao cho các giám đốc truyền thống về tình cha thiêng liêng theo một cách thức mà nhấn mạnh rất nhiều đến hành vi tối thượng của sự tái sinh thiêng liêng vốn xảy ra trong việc dùng đến quyền năng Thiên Chúa ban để tha tội.” Don Rinaldi viết điều ấy vào năm 1931và Ngài dư biết sắc lệnh năm 1901 cấm các giám đốc giải tội cho kẻ thuộc quyền. Dầu vậy, ngài muốn truyền thống Salêdiêng nắm giữ được bản chất tư tế của mình và kinh nghiệm về mối tương quan “cha-con”; tương quan này phát sinh từ việc tiếp xúc trong bí tích. Ngài tiếp tục nói: “Thật lạ biết bao nếu các giám đốc tránh giải tội trực tiếp cho những người thuộc quyền mình, nhưng lại thường xuyên giải tội cho các phần tử trong Nguyện Xá và trong các nhóm trẻ.”[53]

Don Bosco làm nhiều việc trong một lúc. Nhưng lối suy nghĩ, hoạch định cũng như những quan tâm nền tảng vẫn là của vị linh mục: “Vinh quang Thiên Chúa”, “phần rỗi đời đời của thanh thiếu niên”, “những quan tâm lớn dành cho Giáo Hội công giáo”. Đích nhắm thường hằng của ngài là trở thành một linh mục, không hơn không kém.[54] Ngài thường diễn tả nguyên tắc này: “Linh mục luôn là linh mục, và ngài phải tỏ ra như thế trong mọi lời ngài nói. Là một linh mục nghĩa là liên lỷ gắn bó với việc đẩy mạnh những quyền lợi của Thiên Chúa, phần rỗi các linh hồn.”[55] Chính để cứu các linh hồn mà ngài là cha giải tội và linh hướng cho các Salêdiêng và thanh thiếu niên của ngài.

  1. Kinh nghiệm của ngài là cha giải tội

Don Bosco hiểu rằng một linh mục không bao giờ là một người ‘cha’ và ‘người bạn và người anh’ cho bằng khi linh mục biểu lộ lòng từ ái của Đức Kitô, trở thành người tác sinh ơn thánh và người cha của các tâm hồn trong cõi bí mật của tòa án lương tâm. “Ở đây ta có chìa khóa để hiểu phương pháp giáo dục của ngài. Bạn sẽ không bao giờ hiểu Don Bosco là nhà giáo dục và là nhà tạo nên các vị thánh, nếu bạn không nghĩ ngài là cha giải tội của thanh thiếu niên.”[56]

Loại linh hướng làm trong nơi kín đáo của tòa giải tội đối với Don Bosco có tầm quan trọng tuyệt mức. Don Caviglia, một hối nhân thường xuyên của Don Bosco suốt những năm học tại Valdocco, nhấn mạnh đến điểm này: “Không ai đã từng ở nhà của Don Bosco mà không được chỉ cho biết ngay từ đầu chỗ ngài giải tội và linh hướng.”[57] Hiển nhiên việc linh hướng này đi xa hơn điều gắn liền với bí tích đúng nghĩa. Don Bosco nhấn mạnh đến một kiểu linh đạo đơn sơ và căn bản, đồng thời nghiêm khắc và vui tươi cũng như ăn khớp với những nhu cầu của thanh thiếu niên và lớp bình dân. Những người hưởng được lợi ích của nó đều nói rằng Don Bosco đã tạo nên một bầu khí trong đó có sự kính trọng và tự do tinh thần. Ngài nhấn mạnh đến ý thức và bổn phận, đến sự chú tâm vào sự hiện diện của Thiên Chúa, đến tình yêu đối với Chúa Giêsu và Mẹ Maria, đến tinh thần hãm mình hy sinh, như những phương thế thánh hóa. Ngài muốn tất cả các hối nhân của mình phải cảm nhận sự tin tưởng sâu xa vào Thiên Chúa, sự thanh thản vui tươi, hân hoan và khát mong quê trời. Ngài không muốn có sự úy kính hay xao xuyến. Toàn bộ kinh nghiệm ấy phải xảy ra trong một bầu khí tình yêu cả bên ngoài lẫn bên trong.[58]

  1. Kinh nghiệm của ngài là vị linh hướng

Don Bosco có những phẩm tính của một vị linh hướng ưu hạng: phán đoán lành mạnh và kinh nghiệm thực tiễn. Ngài có trực giác sâu sắc về tâm lý, đặc sủng về tu đức (chẳng hạn hãy nghĩ đến giấc mơ dàn hoa hồng). Ngài là một nhà thần bí có một kiến thức tạo bằng kinh nghiệm về mầu nhiệm Thiên Chúa và những lối đường dẫn đến Ngài. Thiên Chúa ban cho Don Bosco những ân sủng cá nhân hoàn toàn phi thường: thị giác thứ hai, sự phân định thiêng liêng, đọc biết những bí mật lương tâm của dân chúng, và hồng ân của lòng nhân hậu lớn lao.

  • Linh hướng cá nhân

Không như thánh Phanxico Salê, Don Bosco để lại rất ít thư từ do ngài viết nhằm linh hướng và những thư đó lại rất ngắn. Ngài cũng không có giờ trò chuyện lâu. Giống như thầy mình là Don Cafasso, Don Bosco ưa linh hướng trong khung cảnh bí tích sám hối. Điều ấy cho ngài cơ hội làm việc trực tiếp trên chính cái lõi tủy thiêng liêng của một nhân vị, và cho phép ngài tin tưởng vào ân sủng mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Điều này đối với ngài dường như là lối tiếp cận vững chắc nhất.

Nhưng điều ấy không có nghĩa rằng ngay cả bên ngoài toà giải tội, Don Bosco không phải là một vị linh hướng tốt (cho các tâm hồn) và không nhờ đến giao tiếp cá nhân khi có thể. Tuy nhiên ngài lại làm thế theo cách riêng của mình. Ngài có nghệ thuật kéo dài cuộc linh hướng ra ngoài bí tích sám hối mà không thất bại để giữ được các giới hạn cần thiết. Những ai đi xưng tội với Don Bosco (Don Bosco không bao giờ là cha giải tội độc nhất ở Nguyện Xá, hầu ai nấy được bảo đảm hoàn toàn tự do trong lương tâm) đã tín nhiệm ngài và sự thánh thiện của ngài đến nỗi “họ không phân biệt chi cả khi nói cho ngài trong hay ngoài toà giải tội những vấn đề thầm kín nhất và tế nhị nhất.”[59]

Một số thí dụ tiêu biểu về loại linh hướng đích thực và tế nhị này là “lời nói rỉ tai”, một cái bắt tay, những sứ điệp ngắn gọn do ngài viết, và nói ra vào lúc bất ngờ nhất, những nhận xét thoáng qua tùy dịp mà một hội viên hay một thiếu niên sẽ thấy rất có ý nghĩa đối với mình. Truyền thống chúng ta luôn nhận biết thích đáng tính liên tục và bổ sung giữa linh hướng trong bí tích sám hối và điều được cống hiến trong bối cảnh giáo dục rộng rãi hơn. Cùng một tình cha, tình bạn và sự tin tưởng hoạt động, làm thức tỉnh nơi thanh thiếu niên một ý thức về những chuyển động của ân sủng và một cam kết để biết những khuynh hướng của chính mình và tăng trưởng thiêng liêng.[60]

  • Linh hướng cho cộng thể

Việc linh hướng cá nhân được thực hiện trong một khuôn khổ của một sự sinh động thiêng liêng toàn diện của cộng thể. Don Bosco có những mục tiêu rất rõ ràng trong tâm trí: đem lại một nền giáo dục vững chắc trong đức tin (rao giảng tin mừng, huấn từ tối, giáo lý); cống hiến những cuộc gặp gỡ thường xuyên với Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể và Sám Hối; đóng góp vào việc tông đồ trong đời sống Giáo Hội và vào sự biến đổi thế giới theo Kitô giáo; khắc sâu lòng tôn sùng đối với Mẹ Maria cung cấp một kế hoạch đời sống sẽ dẫn đến sự thánh thiện thực sự và phần rỗi đời đời.[61]

Khi mọi việc trôi chảy tốt đẹp ở Nguyện Xá thì chắc chắn có một môi trường làm cho việc tăng triển thiêng liêng được dễ dàng. Giám muc Gaudenzi thuộc địa phận Novara một ngày kia đã nhận xét: “Bất cứ ai thăm Nguyện Xá đều kinh nghiệm được bầu khí thánh thiện. Bầu khí đó, họ không dễ tìm được nơi các truờng khác. Dường như trong nhà của Don Bosco người ta thực sự hít thở hương thơm của Đức Kitô.”[62]

Đó cũng là một phong cách mới, dựa trên thuyết nhân bản lạc quan của thánh Phanxicô Salê. Nó giúp chúng ta biết cách “làm thành của chính mình điều gì tốt trong thế giới và không than vãn thời đại mình. Chúng ta giữ lấy điều gì có giá trị, nhất là nếu nó hấp dẫn thanh thiếu niên.”[63]

  • DON BOSCO, NGƯỜI HƯỚNG ĐẠO TRONG VIỆC CAI QUẢN TU HỘI: cơ cấu, sự vâng phục, hiệp nhất và hiệp thông

Don Bosco ý thức cần phải tổ chức xây dựng Tu hội: “Như tất cả các con điều biết, cho tới nay Tu hội chúng ta không có những quy luật được công bố rõ ràng. Chúng ta tiến bước mà không minh định rõ các bổn phận của mình. Khi không được Giáo Hội châu phê, Tu hội chúng ta có thể nói là treo lơ lửng giữa trời … Nhưng bây giờ các con thân mến sự việc không còn như trước nữa. Giáo Hội đã công bố … Chúng ta không còn là những cá nhân riêng rẽ nữa, mà là một Tu hội, một thực thể hữu hình. Từ nay trở đi ta phải trung thành tuân giữ từng khoản luật của chúng ta.”[64]

Và ngài đã ra công để thấy điều này xảy ra. Có thể nói, ngài khai sinh những chỉ dẫn và những cơ cấu; một số trong chúng là dứt khoát, bởi vì gắn kết với chính đặc sủng sáng lập; còn một số khác có tính cách tạm bợ, bởi vì lệ thuộc những hoàn cảnh thời gian và nơi chốn.

Điều này cho Tu hội cơ hội để vận hành, để ghi dấu trong lịch sử, và trở thành một đường lối gắng sức tìm vinh danh Thiên Chúa, sự thánh hóa của người Salêdiêng và phần rỗi giới trẻ. Don Bosco tổ chức Tu hội với một cảm thức mãnh liệt về sự vâng phục Thiên Chúa; ngài vun trồng nhân đức ấy nơi chính mình để thích hợp ra lệnh.[65] Ngài muốn các Salêdiêng coi đức vâng phục như nguồn mạnh sự trung kiên và đâm bông kết trái: “Đức vâng phục hiệp nhất, kiện cường và với ơn Chúa, đem lại nhiều kết quả diệu kỳ.”[66] Ngài xem đó là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ ai muốn ở lại với ngài và theo ngài: “Nếu các con muốn liên kết với cha, các con hãy để cha làm với các con điều mà cha đang làm với chiếc khăn tay này.”[67] Ngài coi vâng phục như là bản lề để xoay chuyển toàn Tu hội.”[68] Tiên vàn, với những điều kiện thích đáng và được đức tin thúc đẩy,[69] vâng phục đối với ngài là con đường trong đó ý Thiên Chúa được biểu lộ: “Người tu sĩ không bao giờ làm ý riêng mình, nhưng nhờ vâng phục, họ thi hành ý Chúa.”[70]

Tiên vàn đó không phải là vấn đề chống đỡ cái khung nhờ những chuẩn mực tu đức. Ngài có một tầm nhìn rộng lớn về cách thức ngài được can dự như một người cha trong việc thành lập và kiện cường Tu hội, do lệnh của Thiên Chúa: “Chúng ta phải lượng định các vấn đề bởi vì mặc dù Tu hội được phê chuẩn, Tu hội vẫn phải được tổ chức lại trên một nền tảng vững chắc. “Chúng ta phải thấy những cá nhân nào không thích hợp cho Tu hội … Những người do dự phải quyết định. Mỗi người hãy lưu ý đến vấn đề của riêng mình.”[71]

Hiệp nhất là mục tiêu ngài muốn đạt tới bằng việc thực thi tình cha trong trách nhiệm điều hành Tu hội và rồi ngài trao phó việc ấy cho tác vụ của bề trên. Ngài thường trở lại đề tài này, cách riêng trong bài huấn đức vào lễ thánh Phanxicô Salê, khi ngài tuyên ngôn như là Đấng Sáng Lập của Tu hội: “Ai nấy hãy dán mắt vào cái trung tâm ấy.”[72] Mỗi người hãy tập hợp lại quanh ngài (Bề Trên Cả) như tiêu điểm duy nhất. Bề Trên Cả có Hiến luật làm chỉ nam (người hướng đạo) của mình. Ngài đừng bao giờ lạc xa khỏi đấy: bằng không thay vì có một tiêu điểm thì lại có tới hai tiêu điểm: Hiến luật và ý của Bề trên. Tốt hơn Bề Trên Cả hãy là hiện thân của Hiến luật.”[73]

Sự hiệp nhất này có nguồn mạch nơi "tính đồng tông- đồng giống thiêng liêng" giữa Don Bosco và những cộng sự viên của ngài. Đây là một khía cạnh quan trọng, và là điểm Don Bosco thường xuyên nhấn mạnh: “Ai không suy tư về bản chất các Tu hội và dòng tu sẽ không hiểu được tầm quan trọng của điểm này. Còn ai suy nghĩ đến những lý lẽ làm các dòng tu suy thoái hay tăng trưởng cũng như nghĩ đến cái nguyên nhân gây nên chia rẽ mà biết bao Tu hội đã từng kinh nghiệm, sẽ thấy rằng vấn đề thoát thai từ việc thiếu mất tính đồng tông đồng giống ngay lúc khởi đầu trong việc sáng lập dòng tu ấy.”[74]

Từ kinh nghiệm này đưa đến một lời khuyến cáo cho những năm tương lai: “Vì bây giờ chúng ta đang bắt đầu chỉ định làm giám đốc những người đã sống một thời gian ngắn bên cạnh Don Bosco, nên nảy ra nguy cơ là mối tương giao giữa những người này và những giám đốc khác không thân tình như phải là thế.”[75] Để đạt được sự hiệp nhất tinh thần này, Don Bosco muốn chỉ có một nguyên tắc quyền bính và quản trị.[76] Hiểu được những lý lẽ của ngài dường như thật quan trọng. Trong khi một người cha thiêng liêng theo nghĩa truyền thống không trực tiếp quan tâm đến thái cử bên ngoài của người mà ngài hướng dẫn trong những lối đường của Chúa, thì Bề trên Salêdiêng, như được Don Bosco nhìn ngắm, lại mang lấy một trách nhiệm toàn diện. Nhưng mỗi mặt của tình trạng toàn diện này đều được nhìn từ nhãn quan thiêng liêng. Ngài phải quan tâm đến việc quản trị tài sản vật chất, đến việc cung ứng những nhu cầu vật chất, và đến việc phân công nhằm hoàn thành sứ mệnh của cộng thể. Nhưng ngài làm tất cả điều này dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.

Điều này không có nghĩa rằng chính ngài phải làm hết mọi việc này. Nhưng ngài phải đảm bảo rằng những bổn phận này được thực thi nhắm đến mục đích thiêng liêng. Ngài phải đảm bảo rằng có một phẩm trật các trách nhiệm trong việc cai quản cộng thể; và rằng những nỗ lực của từng cá nhân và cộng thể xét như một toàn thể, đồng qui vào việc nhắm đến một cứu cánh thiêng liêng. Lãnh vực thiêng liêng và vật chất không phải là hai khía cạnh tách rời nhau của đời sống cộng thể, chỉ đặt cạnh bên nhau mà thôi.

Từng cá nhân người tu sĩ và cộng thể được mời gọi xa tránh tội lỗi và thưc thi ý Chúa trong những hoàn cảnh cụ thể của đời sống hằng ngày. Họ được kết hợp với Thiên Chúa và anh em qua việc sử dụng các sự vật bên ngoài, cũng như qua những ý hướng sâu xa nhất của họ. Và Don Bosco muốn nói đến điều này khi yêu cầu họ không chỉ kết hợp với giám đốc, nhưng phải thực hành đức vâng phục chân thật.

Mục tiêu khác nữa là tình yêu huynh đệ. Nó kết hợp các hội viên lại với nhau để làm họ nên một lòng một linh hồn[77] và một tinh thần tông đồ mãnh liệt.

Ta thường thấy những gương loại biệt về những phẩm tính này nơi Don Bosco và lịch sử Tu hội chúng ta.

Tình yêu huynh đệ mà họ qui chiếu tới là thứ tình yêu được sống trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ở Giêrusalem. Trong phần giới thiệu Hiến luật có qui chiếu rõ ràng đến Cv 4,32. Don Bosco thường xuyên trích dẫn câu này trong các bút tích của ngài.[78] Tổng Tu Nghị đầu tiên, họp tại Lanzo năm 1877, đã suy nghĩ về bản văn này và vạch ra một số đặc tính và áp dụng của nó liên quan với những lý lẽ căn bản cho đời sống cộng thể.

Tính năng động mục vụ của cộng đoàn Kitô hữu ở Giêrusalem bắt nguồn nơi hai sự vững chắc lớn lao này: Đấng Phục Sinh hiện diện và được kinh nghiệm trong việc chăm chỉ lắng nghe lời Thiên Chúa, trong kinh nguyện và trong phụng vụ (trung tâm của phụng vụ là cử hành Thánh Thể) và thần khí Chúa hịên diện và tỏ lộ mình ra qua việc kết hiệp các phần tử trong một tình huynh đệ chân thật. Nó là một cộng thể của những người được “gọi và được sai đi”, một cộng thể đầy tình yêu mục tử với những trách vụ loại biệt và dứt khoát phải thực thi “rao giảng Tin Mừng, xua trừ quỷ ma và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền.”[79]

  • KẾT LUẬN

Chính nhờ kinh nghiệm sâu xa và đa dạng này về tình cha trong chức linh mục mà một đời sống Kitô hữu mãnh liệt và một sự thánh thiên chân thực đã nở rộ tại Valdocco như đã xảy ra quanh thánh Bênêđictô và Phanxicô Assisi. Don Bosco chuyển thông và chiếu tỏa sự sống của Thần khí một cách hầu như lây lan.

Ở đây chúng ta bắt gặp được sự tương đồng với điều được viết về các viện phụ lớn trong sa mạc: “Dần dần chịu ảnh hưởng của Thần khí Chúa, các viện phụ đã thành công trong việc đào tạo các môn sinh đạt tới sự hoàn thiện của đời sống ẩn tu trong mối dây hiệp thông mãnh liệt. Sức mạnh của Thánh Thần hoạt động trong lời khuyên ngắn gọn mà dân chúng, dù ở rất xa, đổ xô đến nghe họ nói … không có quy luật nào trong sa mạc ngoại trừ Tin Mừng và luật Thần Khí.

“Nhưng luật Tin Mừng được nhập thể nơi những con người trổi trang ấy, từng quen với mọi sự thiếu thốn. Họ không ban hành luật lệ; đúng hơn chính họ là luật sống của Thần khí. Như phát ngôn viên của Thần khí, viện phụ dạy cho những môn đệ của mình phân định tiếng nói của Thần khí.”[80]

Chúng ta không ngần ngại áp dụng những lời này cho Don Bosco. Nơi ngài chúng ta chiêm ngưỡng vẻ huy hoàng của đặc sủng là tình cha theo chức linh mục, môt đặc sủng sống mãi trong Tu hội ấy như là phần gia sản thiêng liêng của nó.

 

 

 

CHƯƠNG 2

LÀM SỐNG LẠI TÌNH CHA CỦA DON BOSCO NƠI QUYỀN BÍNH CỦA GIÁM ĐỐC HÔM NAY

 

Tình cha hay tình hiền phụ của Don Bosco thì thường hằng và ôm ấp mọi sự. Nó thấm nhiễm mọi khía cạnh nơi nhân cách và sự phục vụ của ngài, mặc dù nhấn mạnh đến trách vụ thánh hoá và đào luyện kẻ khác.

Chúng ta muốn gợi lại những khía cạnh phong phú này mà Thánh Thần tiếp tục ban phát. Chúng ta muốn phân định những động cơ sâu xa của những khía cạnh ấy trong gia sản Giáo Hội, tức là căn tính Giáo Hội của các Tu hội và bản chất biệt loại của Tu hội chúng ta. Khảo cứu này sẽ giúp làm tăng tình cha của giám đốc cũng như việc phục vụ của ngài thêm hữu hiệu.

  • TÌNH CHA VÀ NHỮNG BỐI CẢNH VĂN HÓA

Làm sống lại tình cha của Don Bosco hôm nay! Cung giọng của diễn ngữ này có lẽ làm cha không mấy thoải mái. Có lẽ cha cảm thấy rằng nó không mấy khả tín trong bối cảnh của nền văn hoá hiện nay, vốn từng chống lại mọi kiểu quyền bính, đặc biệt quyền bính của người cha. Điều này hình như càng đúng vì với sự kiện là cơn khủng hoảng tôn giáo ngày nay dường như đưa đến vô thần và chống lại ‘hình ảnh người cha’. Người ta hiểu ‘người cha’ như biểu thị thứ ức chế hay hạn chế phá hủy tự do và làm cho con người không thể tới đạt vận mạng của mình.

Theo cùng những đường nét này, những ý thức hệ khác chủ trương rằng giai cấp trưởng giả không thấy được những giá trị chân thật, rằng khái niệm ‘người cha’, vốn liên kết chặt chẽ với những giá trị ấy, hoàn toàn mất hết ý nghĩa. Vì lẽ này, trong cuộc đấu tranh giữa thế hệ này và thế hệ kế tiếp, đã có sự đảo lộn các giá trị. Người con thì đáng giá hơn người cha. Người con biểu thị cho nguyên lý tăng trưởng và sáng tạo. Trái lại, quyền bính và kinh nghiệm của người cha chỉ là những ‘hình ảnh văn hóa’ có ít giá trị hơn nhiều. Chúng càng có ít để cống hiến, nên càng ít có quyền cấm đoán.

Như vậy, ‘hình ảnh người cha’ này được chuyển cho bất kỳ ai ở vị thế có quyền bính. Ông được coi như có tính áp bức và là nguồn mạch của mọi sự thất bại; và như vậy là mục tiêu của chống đối và bạo lực. Tính hiền phụ nơi con người bị huỷ diệt và tính hiền phụ hay tình cha của Thiên Chúa, được coi như sự hoàn hảo tối hậu của điều ấy, ngày càng mờ nhạt đi như sự lụi tàn của ý thức hệ tôn giáo.

Cũng có những ý tưởng và những quan tâm khác đang phổ biến trong văn hóa hiện đại. Và chúng hiển nhiên không hoàn toàn tiêu cực theo diện chúng muốn nói đối với tu sĩ. Chúng ta không bàn đến quá nhiều những đổi thay lớn về phương diện văn hóa xã hội, mà dĩ nhiên ta phải ghi nhớ, nhưng ta nói đến những hiện tượng loại biệt và khá thông thường. Chúng gắn liền với những khía cạnh khác nhau của những môi trường tu sĩ chúng ta. Chúng có thể được xem xét theo một cách thức cho thấy sự thích đáng của chúng về phương diện xã hội, và nó vạch ra một sự ưu tiên nào đó của các giá trị. Người ta có thể nghiên cứu chúng dưới diện những ý thức hệ xã hội, và theo đó người ta đánh giá và sống những thực tại nhân sinh; hoặc ta có thể cứu xét chúng theo khung của “tất cả những điều đem lại sự tinh tế và phát triển những khả năng thể lý và trí tuệ khác nhau của con người” và chúng tạo thành những trạng huống đời sống khác nhau.[81]

Biết những hiện tượng này thật là quan trọng đối với cha. Chúng có thể và nên được so sánh với những giá trị và phong thái đời tu. Nếu có giá trị tích cực, chúng có thể là một sự trợ giúp. Nếu mang một nội dung tiêu cực và không thể phù hơp với những giá trị của đời tu, chúng là một chướng ngại và có thể dẫn người tu sĩ lạc lối. Nhưng dù sao chăng nữa, chúng đều liên hệ tới trách vụ của cha là người cha và người sinh động.

Cá nhân hay cộng thể không thể nào tiếp tục trách vụ là phát triển con người và phúc âm hóa, nếu xa lạ với nền văn hóa của họ. Họ không thể tăng trưởng về phương diện thiêng liêng, bất chấp môi trường và văn hoá của họ, nhưng phải ở trong và cùng với môi trường và văn hóa ấy. Họ sẽ làm chứng họ hoàn toàn tận hiến cho Đức Kitô theo mức họ kết hợp với Người trong bối cảnh của nền văn hóa được kitô hóa của họ.[82]

  • KHÔI PHỤC NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TÌNH CHA SALÊDIÊNG

Những khó khăn chúng ta đang miêu tả về việc hiểu hạn từ ‘cha’ muốn nói gì, phát xuất từ những tình cảm và những áp lực ta cảm nhận trong môt số tình trạng hiện nay. Nhưng giá trị của tình cha ta thấy được trong đời sống của Don Bosco lại thật quý báu và trơ gan cùng tuế nguyệt.

Chúng ta có nhiệm vụ suy tư lại và khám phá ra những đường lối và diễn tả tình cha Salêdiêng của chúng ta cho phù hợp với những nền văn hóa nhưng vẫn không hề cắt đứt với Don Bosco, bằng một cảm thức phân định sâu sắc theo ánh sáng của truyền thống chúng ta và của huấn quyền. Cá nhân cha được kêu gọi để đảm nhận thách đố này. Công việc này không dễ. Nhưng Thánh Thần tích cực hiện diện trong Giáo Hội và trong Tu hội, vì vậy việc này có thể thực hiện được và cha có thể đối diện với nó cách tín thác. Chúa Thánh Thần luôn trung thành và quảng đại. Ngài đã hiện diện lúc Tu hội được thành lập. Ngài tiếp tục hướng dẫn chúng ta hầu duy trì, thích ứng và phát triển đặc sủng ấy.

Trong bối cảnh này điều chúng ta sắp nói tới dường như có thể trừu tượng đôi chút và khá lý thuyết. Cha đang sống giữa những vấn đề thường nhật rất hiện thực, một số vấn đề còn làm ta bối rối nữa. Một vài ý tưởng dường như khá khó hiểu và giống như một thứ xa xỉ mà nhiều người không kham nổi. Dầu vậy, những tư tưởng này phải thực sự giúp cha nhìn ra chính mình, và sự phục vụ cha được yêu cầu trao ban trong bối cảnh tự nhiên của nó. Chúng phải giúp cha hiểu nguồn gốc và nền tảng của việc phục vụ cha thực thi là gì, cũng như ý nghĩa và hiệu năng của sự phục vụ ấy.

Thực cần thiết phải hiểu được bản chất của Giáo Hội, hiểu được ý thức của Giáo Hội về chính mình, và cách thức mà các tu hội phát sinh, sống và hoạt động trong Giáo Hội. Ta cần phải hiểu những nét làm chúng ta thành người của thời đại chúng ta. Đây không phải là một loại kiến thức hời hợt, chỉ chạm đến cha và công thể của cha từ bên ngoài và xa vời, nhưng là một ý thức cống hiến cho cha sự hiểu biết sâu xa về cộng thể và sự phục vụ của cha, hầu cảm thức và khả năng mục vụ của cha[83] có thể trở thành di sản lớn nhất của cha.

2.1 Giáo Hội, sự hiệp thông được quyền bính phục vụ

Công đồng Vatican II cống hiến cho chúng ta một hình ảnh về Giáo Hội như là một dân tộc sống hiệp thông với Thiên Chúa và với chính mình, đang chuyển mình hướng tới sự thánh thiện qua sự khởi hứng của Thánh Thần.

Dân mới này của Thiên Chúa là tiêu điểm lôi kéo và hiệp nhất toàn thể nhân loại.[84] Nói cách khác, Giáo Hội đối diện với những vấn đề lớn của nhân loại như sự hiệp thông của các ơn gọi biệt loại sống trong sự hiệp thông cùng một Thần Khí. Mọi ơn gọi giúp Giáo Hội là chính mình cách sung mãn hơn, và hoạt động hữu hiệu hơn. Bù lại Giáo Hội cung cấp cho từng ơn gọi cơ hội để hiểu được căn tính của mình, để trung thành, phát triển và phục vụ theo hồng ân đặc biệt của mình.

Những điều này cũng đúng đối với đặc sủng của quyền bính. Đặc sủng này phải được dùng chỉ để xây dựng đoàn chiên trong chân lý và sự thánh thiện mà thôi. Người có quyền phải ghi nhớ rằng ai làm lớn phải trở thành thấp bé, và kẻ làm đầu phải hầu thiên hạ.[85]

Cha không mấy khó khăn để biết rằng giá trị của cộng thể lớn lao biết bao và giá trị này được liên kết với đặc sủng của quyền bính như thế nào. Người ta thường nhấn mạnh điểm này. Thật quan trọng cho người phải thực thi quyền bính là phải ý thức rằng quyền bính được ký thác cho họ nhằm xây dựng cộng thể và rằng cũng như sự vâng phục đối với vấn đề này, nó được liên kết với mầu nhiệm Đức Kitô, người Tôi Tớ của Chúa Cha và của Giáo Hội. Điều này tương đương với nói rằng nhờ ơn Chúa, cha càng hiểu đầy đủ hơn mầu nhiệm khổ nạn, chết và phục sinh của Chúa Giêsu và mầu nhiệm Giáo Hội, cha càng biết rõ hơn phục vụ có nghĩa là gì.

Vì thế chúng ta không nên ngạc nhiên về chiều sâu của lòng trung thành và tình yêu Don Bosco dành cho Giáo Hội. Chúng ta cũng đừng lấy làm lạ về sự kiện là đối với ngài không có mệt nhọc nào là đáng kể khi lên quan đến việc phục vụ Giáo Hội và Đức Thánh Cha.[86] “Cha mệt nhọc tí xíu, nhưng ích lợi của Giáo Hội là trên hết, trên cả lợi ích của Tu hội chúng ta.”[87]

Tình yêu và sự gắn bó sâu xa của Don Bosco đối với Giáo Hội phải được coi là một ơn và nguồn sức mạnh và sự chắc chắn trong những giây phút khó khăn. Đó là một ân điển ngoại thường được đi xuống tới chúng ta qua kinh nghiệm của Đấng Sáng Lập thánh thiện của chúng ta.

2.2 Các Tu hội

Các Tu hội là những cộng đoàn hiệp thông với Giáo Hội. Các Tu hội có một thiện ích chung của mình và có chức năng riêng của mình. Các Tu hội cần mẫn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa qua việc đào luyện mà các Tu hội cung ứng. Và các Tu hội hiến mình để công tác theo những phương cách và hình thái khác nhau vào cũng một việc tông đồ của Giáo Hội.[88] Các Tu hội được sinh độnghướng dẫn vào trách vụ này nhờ quyền bính đời tu. Những thực tại thiêng liêng này, khi giám đốc hiểu và sống, có thể giúp ngài ý thức sâu sắc tác vụ của ngài có ý nghĩa gì. Những chân lý này hỗ trợ và nuôi dưỡng ngài. Chúng bảo đảm sự hữu hiệu của tác vụ ngài.

Những văn kiện Lumen GentiumPerfectae Caritatis[89] định vị các Tu hội trong khung mầu nhiệm Đức Kitô và Giáo Hội được xem là sự hiệp thông của các ân điển khác nhau. Người tu sĩ gắng vươn tới một thiện ích chung, hầu có thể trung thành giữ các cam kết mà việc tuyên khấn tu trì của họ hàm chứa, và tiến xa trên đường đức ái trong niềm vui thiêng liêng.[90] Nói cách khác, họ có một mục tiêu vươn đến. Ấy là, lớn lên trong đức ái nhờ việc theo Đức Kitô. Họ phải là dấu chỉ và người mang tình yêu của Người. Họ cũng được phú ban những phương thế để đạt tới mục tiêu này: tuyên khấn và một lối sống làm họ có thể thực thi các lời khấn ấy.

Bù lại, điều này cũng làm cho cộng thể có thể hiện hữu, bởi vì thiện ích chung giống như một linh hồn. Đó là cái ý thức sống động về những ân điển và bổn phận đặc thù mà các phần tử chia sẻ và vì đó họ làm việc. Thiện ích chung của mỗi Tu hội khác nhau theo bản chất của Tu hội. Trong cùng Tu hội, nó cũng khác biệt đối với từng cộng thể địa phương theo công việc tông đồ loại biệt của cộng thể ấy, theo khu vực cộng thể sinh sống, theo nền văn hóa mà cộng thể tham gia vào và thậm chí theo kích thước của cộng thể.[91] Nhưng không có sự sống nếu không có thiện ích chung.

Tất cả các Tu hội tham dự vào đời sống của Giáo Hội: “chính vì thiện ích của Giáo Hội mà các Tu hội có những đặc tính và chức năng riêng của mình.”[92]

Các Tu hội phải thực thi việc canh tân trong đời sống của Giáo Hội và trong những chọn lựa việc tông đồ của mình. Những khủng hoảng chúng ta kinh nghiệm ngày nay, trước hết liên quan đến sinh hoạt của Giáo Hội, bởi vì chúng đồng thời là những khủng hoảng về sự thánh thiện và sự uy tín.

Do các hoạt động của mình lẫn do sự linh hứng mà các Tu hội mang lại, các tu sĩ phải là những mẫu mực trong những tình huống mà nơi đó đang xảy ra những thay đổi lớn lao về văn hóa và nơi đó những thách đố lớn lao của lịch sử và các dân tộc đang trồi hiện. Việc theo Đức Kitô, sequela Christi, là một điều hoàn toàn khác với một thứ bắt chước Người suông, vốn thường bị tách khỏi lịch sử và những thực tế.

Sự trung thành của một Tu hội không phải là một vấn đề mà có thể được thiết định theo một đường lối thuần túy nội bộ của nhóm đó mà thôi. Nó cũng phải được định giá và bàn luận, lưu ý đến những điều kiện đổi thay và những dấu chỉ thời đại.[93] Đây luôn là lối tiếp cận của Don Bosco. Ngài diễn tả điều ấy rất đơn giản: “Cha luôn tiến tới như Chúa soi sáng cho cha và như hoàn cảnh đòi hỏi.”[94] Đối với ngài, đấy cũng là nguồn an vui: “Tâm hồn cha sung sướng vì thấy rằng dù thấp hèn lúc này chúng ta cũng vẫn đóng góp được viên gạch nhỏ bé để xây dựng tòa nhà Giáo Hội vĩ đại.”[95]

Những cộng đoàn này gồm những con người được thánh hiến có thiện ích của chính họ và công việc canh tân đặc trưng của họ được sinh động và hướng dẫn nhờ đặc sủng của quyền bính đời tu. Từ đây nảy ra một nhu cầu khá khẩn cấp là lúc này phải bàn đến một vài ý tưởng căn bản về nguồn gốc và bản chất của quyền bính đời tu, tầm quan trọng của việc phục vụ mà quyền bính đem lại, nhu cầu phải canh tân đường lối thực thi quyền bính, và ý nghĩa của sự miễn trừ mà nó được hưởng. Đây là những khái niệm cha đã quen thuộc và trực tiếp liên quan đến cha. Chúng bao gồm những đặc tính nơi căn tính của cha như một bề trên, nguồn gốc của căn tính này, tính hiệu quả của nó, và những mối liên hệ tất yếu mà cha phải cổ xúy hầu ân điển mà cha mang lấy sẽ không bị nghèo đi hay thậm chí bị chính cha xao nhãng trong thực tế. Bằng không, làm thế nào cha có thể làm chứng cho nó? Mặc dầu “bề trên cần tấm lòng hơn cái đầu,”[96] thì tấm lòng vẫn cần được nuôi dưỡng bằng động lực thâm sâu và bất biến.

  1. Nguồn gốc và bản chất của quyền bính trong đời tu
  • Thần khí Chúa là nguồn mạch của quyền bính đời tu.[97] Thánh Thần làm cho tu hội kiên định và qua kinh nghiệm đặc biệt của Đấng Sáng Lập, Ngài đem đến cho cộng thể một cơ cấu và cung ứng quyền bính thích hợp cho cơ cấu ấy hầu kinh nghiệm thiêng liêng này có thể tiếp tục sống. Vì thế, quyền bính là một diakonia, một sự phục vụ hơn là một chức tước. Người có quyền bính dùng nó để phục vụ những giá trị của sự hiệp thông mà thuộc về riêng của cộng đoàn ấy. Họ phải bảo vệ những giá trị này, cổ võ và có lẽ ngay cả khai sinh chúng. Chúng ta đang nói về một loại phục vụ dẫn đến tăng trưởng. Kiểu mẫu tốt nhất của quyền bính không phải là loại ra lệnh nhiều nhất nhưng là thứ sáng tạo, khai sinh và đem lại sự tăng trưởng.
  • Quyền bính đời tu có tương quan với phẩm trật thánh thiêng,[98] bởi vì được chuyển thông qua Đức Giáo chủ, nguyên lý của mọi quyền bính được thông chia trong Giáo Hội. Cảm thức về Giáo Hội, Sensus Ecclesiae, và sự trung thành đặc biệt với Đấng Kế Vị thánh Phêrô mà Hiến luật chúng ta nói đến, có được cái lẽ sống (raison d’être) trong những nguồn mạch này. Đàng khác, “Trong các Tu hội vẫn có một tổ chức nội bộ, có thẩm quyền riêng và một mức độ tự lập thực sự, mặc dù trong Giáo Hội, sự tự lập này không bao giờ trở thành sự độc lập. Mức độ chính đáng của sự tự lập này và sự giới hạn cụ thể của thẩm quyền được chứa đựng trong luật chung và trong những Qui luật hay Hiến luật của mỗi Tu hội.”[99]
  • Trong viễn ảnh này Công Đồng Vatican II trình bày về sự miễn trừ trong đời tu. Nhưng người tu sĩ phải công nhận Giáo Hội địa phương là bối cảnh lịch sử[100] trong đó ơn gọi của họ được hình thành và hiện thực.[101]
  1. Linh đạo của quyền bính trong đời tu

Do chính bản chất của mình, quyền bính trong đời tu nhạy cảm đặc biệt với những giá trị thiêng liêng bởi vì “đời tu là đời sống trong Thần khí.”[102] Những giá trị thiêng liêng thấm nhiễm đời sống cá nhân và cộng thể.

Nhờ lượng giá hoàn cảnh và nhu cầu nảy sinh, các bề trên khám phá ra những động cơ để trung thành với Thiên Chúa và phục vụ anh em bằng cách giúp họ quảng đại đáp lại những đòi hỏi của ơn gọi họ. Do đó, họ được mời gọi phải dạy dỗ, thánh hóa và cai quản với sự kiên nhẫn và cương nghị.

  • Như mọi bề trên, cha cũng sẽ cai quản theo Thần khí và bắt chước sự kiên nhẫn và sức mạnh của Thiên Chúa. Cha sẽ liên lỷ thấy mình ở trong những trạng huống mà cha phải vừa đòi hỏi lại vừa nhân ái.

Kiên nhẫn không bao giờ được trở thành sự nuông chiều ủy mị, tìm cách được quần chúng ưa thích, sự dửng dưng hay là sự lo lắng quá đáng về việc gây ra khó chịu. Kiên nhẫn đến từ thừa nhận sự mỏng dòn nhân loại và từ niềm xác tín rằng lòng nhân hậu của Tin Mừng chữa lành những khuyết điểm và lầm lỗi một cách hiền từ, khi nó là tình yêu chân thật đối với người sa ngã. Sự cương nghị là một thứ sức mạnh vị tha, giúp người khác cảm thấy những đòi hỏi cao cả của tình yêu Thiên Chúa và nhu cầu cần phải thắng vượt sự nguội lạnh hay sự bất tuân. Sức mạnh và sự hiền dịu không bao giờ đối kháng nhau, nhưng phải luôn đi cùng với nhau. Trong Thánh Kinh, Thần khí được so sánh với cơn bão táp và với làn gió hiu hiu. Nếu cha dễ dạy đối với Thần Khí, cha sẽ phải vừa cương nghị, vừa nhân từ. Cha sẽ phải biết đối diện với những quá phạm ra sao, đang khi vẫn khép mắt làm ngơ trước sự yếu đuối nhân loại. Cha không được nhỏ nhen, nhưng cũng không được vô tâm vô tính. Cha phải chinh phục sự tín nhiệm của các hội viên bằng cách quên những lầm lỗi họ đang chân thành gắng sức sữa chữa; nhưng cha cũng phải đòi hỏi hầu dẫn về lại hay gìn giữ sự trung thành của những kẻ được Thần khí Chúa trao phó cho cha coi sóc.

Don Bosco diễn tả những thái độ này bằng những kiểu nói quen thuộc với chúng ta: “Bề trên phải có ba phẩm tính này: ngài phải mau tha thứ, chậm phạt và rất nhanh quên.”[103] Giám đốc phải “anh hùng trong việc chịu đựng những yếu đuối của người khác.”[104] Tuy nhiên, giám đốc cũng “cần phải ra lệnh.”[105]

  • Bằng cách này một cảm thức về sự tin tưởngan toàn sẽ ngự trị và cha sẽ thành công trong việc thi hành trách nhiệm của mình như vị thầy tinh thần đối với những mục tiêu Tin Mừng của Tu hội. Cha sẽ thủ đắc được khả năng cổ xúy đời sống bác ái trong cộng thể và kiện toàn việc đào luyện ban đầu cùng liên tục của các hội viên cũng như việc thực thi các lời khuyên Phúc Âm. Cha sẽ có thể tổ chức các phần tử trong cộng thể, phát triển sứ mệnh của cộng thể và bảo đảm rằng nó được xen nhập thích đáng vào trong đời sống của Giáo Hội địa phương.

2.3. Tu hội Salêdiêng

Mọi đoàn sủng có được ơn triển khai tiềm lực của mình trong môi trường lịch sử nó hiện sống. Nó có khả năng đáp ứng những vấn đề do các nền văn hóa khác nhau đem lại, và những kích thích đến từ Giáo Hội, theo một cách sáng tạo và hợp nhất. Nó làm điều này qua một phong thái đặc thù trong sinh động và cai quản, thánh hóa và hoạt động tông đồ.[106] Có lẽ đây là điều Don Bosco có trong trí khi ngài nói về “bản sao đẹp” của Tu hội mà ta phải tạo nên. Cần phải liên tục tô điểm lại “bản sao đẹp” ấy. Đây chính là đường lối cha phải nghĩ đến khi bắt tay vào việc sinh động và cai quản. Điều ấy chắc chắn sẽ giúp dân chúng và các Tu hội chu toàn công việc duy nhất này và phát triển đoàn sủng của họ.[107]

  1. Bản chất và quyền bính của Tu hội

Don Bosco viết: “Tu hội Salêdiêng của thánh Phanxicô Salê qui tụ các linh mục, tư giáo và giáo dân (nhất là những người thợ) muốn cùng nhau làm việc thiện cho nhau và cho người khác.”[108]

Ta nhìn thấy khía cạnh của việc cần đến nhau và phục vụ lẫn nhau[109] trong sự hiệp nhất của các phần tử, được liên kết với nhau bằng dây đức ái, và trong hoạt động đa dạng và bổ sung nhắm đến hiệu quả tông đồ.[110] Các người Salêdiêng sống và tiến bước trong đức ái nhằm đem lại một sự phục vụ cho người trẻ trong Giáo Hội như một sự trải rộng cùng một tình yêu ấy vốn kết hiệp họ với Đức Kitô và với nhau. Trong trí Don Bosco, đức ái này được hướng dẫn và nuôi dưỡng bằng một loại quyền bính được làm giàu nhờ ân sủng của tác vụ linh mục. Đây là nguồn sức mạnh và sức mãnh liệt, khi nó cố gắng đáp lại những dấu chỉ thời đại, và những đòi hỏi của một kỷ nguyên mới trong lịch sử, trong sự trung thành với những mục tiêu của mình.[111]

  1. Phong thái quyền bính Salêdiêng: sinh động bằng việc cai quản và cai quản bằng việc sinh động

Theo Hiến luật chúng ta, bề trên được ban cho ‘quyền cai quản’ đích thực, điều ấy thật rõ ràng.[112] Quyền bính của ngài có đặc tính tôn giáo tận bản chất, và được coi là một sự phục vụ trong việc tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa để giữ gìn sự hiệp nhất và căn tính Salêdiêng.[113] Đàng khác, các cộng thể chúng ta ngày nay đang gia tăng ý thức là rất cần phải có việc sinh động hầu có thể thật sự được phúc âm hóa và trở thành những người loan báo Tin Mừng.

Vậy, sinh động và lấy quyết địnhhai chức năng của quyền bính. Chúng luôn sánh vai bên nhau mặc dù phân biệt nhau, theo những tình trạng loại biệt và với những mức độ khác nhau. Chúng có cùng một mục đích: làm cho cộng thể và cá nhân tăng trưởng trong ơn gọi của họ.

Có một số người nghĩ rằng quyền bính của bề trên chỉ hệ tại ở sự sinh động. Điều này không đúng. Sinh động cũng không phải là khu độc quyền dành riêng cho bề trên. Trong các cộng thể cũng có những người sinh động khác nhau nhưng không có quyền cai quản. Thực vậy, từ ngữ ‘sinh động’ có nghĩa trước tiên là gợi ý, thúc đẩy, thuyết phục. Nó giả định khả năng đối thoại, lắng nghe và phân định.[114] Bất kỳ ai có những phẩm tính này đều là một người sinh động đúng nghĩa.

Đàng khác, sự sinh động là một khía cạnh quan trọng của việc cai quản, và là một cách thức tiêu biểu để thực thi quyền bính.

Vì thế, cha phải cai quản bằng việc sinh động. Don Bosco diễn tả như thế này: “Trách vụ chính của giám đốc là phân công để thực hiện và bảo đảm công việc ấy được thực thi.”[115] Nếu bề trên ra lệnh, ngài phải làm thế theo đặc sủng Salêdiêng. Nói cách khác, phong thái của ngài phải luôn là của một người sinh động, không chút có tính chất chuyên chế hoặc bi quan yếm thế, nhưng có thẩm quyền, nghĩa là hợp với tinh thần gia đình và với những nhu cầu của thời đại chúng ta.[116] Don Bosco cho Don Rua, vị giám đốc tại Mirabello chuẩn mực này: “Con hãy cố làm cho người ta yêu mến hơn là nể sợ con; khi con ra lệnh hay sửa lỗi, hãy luôn cho thấy rõ con hành động vì thiện ích của người khác chứ không phải do tính bốc đồng.”[117]

Cha cũng phải sinh động bằng việc cai quản. Tiến bước theo ý ngay lành mà thôi thì không đủ. Cha phải đạt tới những mục tiêu của mình: “Nếu một hội, giống như chúng ta, muốn tiến bộ thì cần phải được tổ chức tốt đẹp. Luôn phải có những người ra lệnh và những người vâng phục… trong thân mình, phải có một trí tuệ điều khiển những vận hành của nó.”[118]

  1. Sinh động một cộng thể Salêdiêng có nghĩa là gì?

Những thái độ tân tiến và những đường lối hoạt động phù hợp với thời đại và hoàn cảnh chúng ta sống, chắc chắn phải được tháp nhập vào cách thức thực thi quyền bính. Xét một mặt cha là một người sinh động do công việc, hay nếu cha thích, theo ơn gọi. Nhưng cha phải cố gắng đạt được kinh nghiệm về cách thức để các nhóm sống và làm việc với nhau, và học để phát triển những năng khiếu và tài năng cá nhân của mình. Cha phải biết cách thức để hội nhập một người vào trong một nhóm, để đưa ra một đề tài đặc thù, để đề xuất hay đề nghị, để đón nhận lời phê bình. Cha phải có khả năng tạo được tin tưởng và tín nhiệm cũng như cổ võ sự tăng trưởng của những người khác, bằng cách mời gọi họ tiến lên và mạo hiểm.

Dầu phải hành động cách tế nhị và đúng đắn, cha cũng phải có thể cổ võ nhóm và các cá nhân bàn đến một vài đề tài cách sáng tạo hầu đạt được chân lý qua đối thoại chân chính. Cuối cùng, cha phải có khả năng tổng hợp và tổng kết; cha phải biết làm sao để trân trọng các hoạt động đã được thực hiện, nhưng cha cũng phải có thể vạch ra những hạn chế và những lầm lỡ. Đây là điều mà ngày nay người ta đòi hỏi ở bất kỳ người sinh động nào.

Tuy nhiên trong đời sống tu trì, sự sinh động có một ý nghĩa đặc biệt của nó. Đây là vì nguồn mạch của nó, những thái độ và những điều kiện nó đòi hỏi, và những mục tiêu của nó. Sinh động một cộng đoàn Kitô hữu không thể bị giới hạn vào những khía cạnh phương pháp, dẫu có thể hữu ích, hay vào việc phát triển các tài năng và mối tương quan của nhóm. Đúng hơn nó dựa trên thái độ dễ dạy đối với Thần khí, Đấng sinh động đệ nhất của toàn Dân Chúa và làm ta có khả năng phân định ý nghĩa của những thúc đẩy liên lỷ của Ngài trong đời sống chúng ta và qua khắp lịch sử.[119] Khía cạnh này đáng được nhấn mạnh bởi vì có thể nói, đấy là cốt lõi khoa linh đạo của bề trên.

Khác với người sinh động trong thế trần, bề trên trong đời tu khi phục vụ sự sinh động, biết rõ mình là cộng sự viên thấp hèn và là khí cụ thuần thục của Thần khí, hầu giúp người khác sống trong tinh thần vâng phục được đâm rễ trong đức tin và đức ái hoàn hảo. Như vậy, việc đầu tiên ngài phải làm là hiến mình cách thuần thục cho Thánh Thần hằng sinh động liên tục. Ngài không bao giờ có thể cho người khác điều họ chờ đợi nơi ngài trừ phi ngài kinh nghiệm Thiên Chúa cách chân thật và sâu sắc.

Đúng là đôi khi các cộng thể đòi hỏi điều hầu như không thể được.[120] Trong từng trạng huống, bổn phận của cha là tìm kiếm và cầu xin có được một linh thị rõ ràng về ý nghĩa ơn gọi của cha và của người khác. Cha phải tìm kiếm không phải lợi ích riêng mình, nhưng của người khác. Cha phải hành động cách xác tín rằng cha không phải là chủ nhân ông của nhóm hay của những cá nhân trong đó. Cha phải hân hoan nhận ra rằng trách vụ của cha là khám phá ra những ân điển của họ và giúp họ phát triển chúng. Đây là cách thức Don Bosco tóm kết những bổn phận này: “Chúng ta hãy coi những người mà chúng ta phải thực thi quyền bính trên họ là con cái chúng ta. Chúng ta hãy đặt mình phục vụ họ như Chúa Giêsu, Đấng đã đến để vâng phục, chứ không phải để ra lệnh. Chúng ta nên xấu hổ về bất cứ điều gì nơi chúng ta giống với tinh thần hống hách. Tìm thấy niềm vui lớn lao trong việc phục vụ người khác là cách cai quản của chúng ta. Đó là cách Chúa Giêsu đối xử với các Tông đồ.”[121]

  1. Cai quản một cộng thể Salêdiêng có nghĩa là gì?

Hiến luật chúng ta nhấn mạnh đến ý nghĩa quyền bính của giám đốc;[122] những mục tiêu trước mắt và tối hậu của quyền bính này; phương pháp và phương thế ngài thông thường nên sử dụng; và cuối cùng là những quyết định bề trên phải lấy sau khi cộng thể cùng phân định; và chúng đem lại cho người tu sĩ một lối đường vững chắc để theo.

  • Ý nghĩa và vai trò của quyền bính giám đốc như vị bề trên trong đời tu

Quyền bính luôn luôn và tiên vàn là sự ‘phục vụ Thiên Chúa’. Trách vụ nền tảng của cha là giúp cộng thể và mỗi phần tử trong đó ‘phục vụ Thiên Chúa’ theo Hiến luật. Cha làm điều này bằng cách sử dụng những phương thế đặc ưu nơi quyền bính của cha.

Do vậy, nếu ta nhấn mạnh nhiều về bổn phận sinh động của cha thì điều ấy không chút hàm ý giới hạn hay hạ thấp khía cạnh khác của sự phục vụ của cha. Giám đốc là một người sinh động và cũng là bề trên của cộng thể. Ngài thực sự chịu trách nhiệm cai quản cộng thể,[123] và ngài có quyền lấy những quyết định thích hợp.[124]

Điều này có nghĩa rằng giám đốc đích thân có quyền bính, theo nghĩa được SCRIS nói đến khi trả lời cho lời phàn nàn rằng “sự thử nghiệm những hình thức cai quản khác nhau gây ra nhiều vấn đề và nghi ngờ, đặc biệt liên quan đến quyền thể nhân của bề trên. Câu trả lời là thế này:[125] “Theo tinh thần của Công Đồng đại kết Vatican II[126] và tông huấn Evangelica Testificatio số 25, cũng như lưu ý đến những tham khảo hợp pháp và những giới hạn do luật chung và luật riêng của các dòng tu lập nên, cá nhân các bề trên có quyền bính.”[127] Một cách tự nhiên, phạm vi quyền bính của cha phải được hiểu theo diện của luật chung trong Giáo Hội và luật của Tu hội chúng ta. Đoàn sủng Salêdiêng và sứ mệnh riêng mà cha được mời gọi thực thi cho phép chúng ta nhìn quyền bính của cha theo viễn cảnh riêng của nó. Hiến luật vạch ra rằng giám đốc “cai quản cộng thể với sự công tác của ban cố vấn ngài.”[128]

Như vậy, khi lấy những quyết định về những vấn đề loại biệt có tầm quan trọng nào đó, bề trên theo những phương pháp tham khảo vốn đảm bảo cho ngài những người khác tham gia đầy đủ vào tiến trình lấy quyết định.[129] Loại quyền bính cá nhân mà cha có được đòi buộc cha đi đến những quyết định và thi hành chúng với sự cộng tác của những hội viên khác.

  • Những phương thế: quyền bính được chia sẻ và đồng trách nhiệm qua đối thoại

Bản văn của khoản Hiến luật 94, như được Tổng Tu nghị 21 hiệu đính, viết: “Trong cộng thể, để chu toàn sứ mệnh được trao phó cho chúng ta, tất cả chúng ta đều vâng phục dầu phải chu toàn những trách vụ khác nhau. Trong những vấn đề có tầm quan trọng, chúng ta cùng quy tụ lại để tìm thánh ý Thiên Chúa bằng cuộc trao đổi huynh đệ và kiên nhẫn, cũng như với ý thức sâu sắc về sự chia sẻ trách nhiệm. Bề trên thực thi việc phục vụ của quyền bính bằng cách lắng nghe các hội viên, khích lệ mọi người đóng góp và cổ xúy sự nhất trí trong đức tin và đức ái. Ngài kết thúc giai đoạn tìm kiếm chung bằng cách lấy những quyết định thích hợp mà thường xuất phát từ sự đồng quy các ý kiến. Vì thế tất cả chúng ta cam kết cộng tác tích cực và chân thành thực thi các quyết định ấy, ngay cả khi chúng không tương hợp với quan điểm riêng của chúng ta.”[130]

Khoản này và những khoản khác nữa[131] trong Hiến luật chúng ta là chìa khóa cho ta hiểu cách thức Salêdiêng thực thi mệnh lệnh sau đây của Perfectae Caritatis: “Cách thức cai quản phải phù hợp với những trạng huống hiện tại, với những nhu cầu của việc tông đồ, với những đòi hỏi của nền văn hóa và với những hoàn cảnh xã hội và kinh tế.”[132] Qua từng cộng thể, Tu hội tăng trưởng như một thân thể sống động, được Thánh Thần sinh động. Nhưng cộng thể ấy cũng hiện hữu như một cơ chế xã hội, có quy luật của mình, và lệ thuộc vào những lực lượng đang hoạt động trong nền văn hóa mà cộng thể ngập chìm vào.[133] Việc quyết định xem ta phải nhận những năng lực nào là những nguyên lý tác động của kinh nghiệm mà người Salêdiêng được mời gọi để sống như những môn đệ của Don Bosco, tùy thuộc vào chính bản chất của kinh nghiệm ấy. nó trở thành thước đo và tiêu chuẩn để chọn lựa.

Sau một thời kỳ tìm kiếm cam go và vất vả,[134] Tổng Tu Nghị 21 một đàng đã nhấn mạnh đến nhu cầu tham gia và đồng trách nhiệm trong việc thi hành quyền bính, đàng khác lại nhấn mạnh rằng cần một thái độ phân định thiêng liêng. Thái độ này phải hướng dẫn cuộc tìm kiếm và những tiến trình đi đến quyết định.

  • San sẻ quyền bính

Ta cần nhiều ân điển và tác vụ để xây dựng cộng thể và quyền bính là một trong những ân điển này. Nhưng theo những phạm vi là sự uy tín và những tình huống khác nhau, người có quyền bính phải được trợ giúp do những người san sẻ việc thực thi những trách nhiệm này. Trách nhiệm hàng đầu của cha là xin người khác tham gia. Bổn phận đặc biệt của những người có quyền là kích thích mọi người quan tâm và tham gia tích cực. Đây là phương cách thực tiễn truy nhận sự trưởng thành của các cộng sự viên của cha[135] và nó biểu lộ tinh thần gia đình như nó được tìm thấy nơi sự hiệp thông của một nhóm các hội viên cùng làm việc để đạt được cùng những mục tiêu.[136]

Trách vụ thứ hai của cha là cung cấp những động cơ cho việc tham gia. Giám đốc và các hội viên phải nắm vững một khóe nhìn rõ ràng về các khía cạnh sẽ dẫn đến việc hiểu đúng sự tham gia có nghĩa là gì. Trong bối cảnh Giáo Hội, động cơ làm nền tảng cho mọi sự san sẻ quyền bính là thế này: “Điều thuộc về một người thì thuộc về mọi người”, dẫu vì những lý lẽ khác nhau và bằng những cách thức khác nhau. Vậy, không ai còn có thể được đóng kín trong chính mình và thi hành công việc của mình cách cá nhân chủ nghĩa.

Chúng ta đi tới nguyên tắc bổ sung bằng việc công nhận giá trị độc đáo của các cá nhân và cộng thể: “Quyền bính thuộc bất kỳ loại nào là thuộc mọi bình diện phải để cho cấp thấp hơn và các cá nhân có thể hành động và quyết định.”[137] Đây là một trong những khía cạnh của lòng mến thương trong Hệ Thống Dự Phòng. Sự bổ sung tự bản tính đòi phải tản quyền, vốn là “một sự tự lập đúng đắn và có trách nhiệm và như thế là một sự phân phối quyền bính chính đáng giữa những cơ quan cai quản khác nhau.”[138] Các hội viên phải cùng nhau làm việc trong khi thực thi các hoạt động của mình và đem lại sự phục vụ đa dạng bởi vì những hoàn cảnh thường phức tạp, những vấn đề và các giải đáp thật rắc rối. Theo nghĩa này sự tham gia tích cực có nghĩa là chịu trách nhiệm chung về ơn gọi và sứ mệnh Salêdiêng của chúng ta.[139]

Cuối cùng ta nên nói rằng nghệ thuật của giám đốc là phải thấy rằng san sẻ trách nhiệm được thực thi đúng đắn. Ngài dùng quyền bính để đảm bảo rằng thế quân bình của hiệp nhất không bị đảo lộn. Cách cha can thiệp vào các hoạt động của các hội viên sẽ không gây ra bất an hay chống đối nếu cha để cho mỗi người có lãnh vực tự lập riêng.

Sự kiện là có những vai trò khác nhau giả định rằng các hội viên biết cách san sẻ trách nhiệm. Thông thường họ đều biết thế. Nhưng cha sẽ thấy khả năng này có nhiều mức độ khác nhau. Một số người sẵn sàng tham gia hoàn toàn; số khác chỉ tới một mức độ nào đó; và có những người hoàn toàn không thích. Một số hội viên giữ im lặng và không thông tri, nhưng đồng ý cho những người khác tham gia. Cộng thể chấp nhận họ theo đúng thực trạng của họ với một sự thỏa thuận ngầm. Cha đừng ép. Phản ứng có thể rất tiêu cực.

Cha cũng có thể tình cờ gặp trường hợp một hội viên không chút im lặng, nhưng công khai gây hấn và bất đồng với mọi hình thức tham gia. Đôi khi nhóm có một tinh thần cộng thể tốt đẹp đến nỗi có thể tiếp thu một người như thế mà không gây tác hại nào. Nhưng tình trạng có thể đe dọa cho đời sống cộng thể. Trong trường hợp đó cha có nhiệm vụ phải nghiên cứu những phương cách và trao đổi với Giám tỉnh hầu đi tới một giải pháp dứt khoát.

Đàng khác, ý thức rằng khả năng tham gia có thể được phát triển quả là quan trọng. Ta có thể làm điều này trong khung cảnh cộng thể mời gọi trao đổi và thông hiệp. Chính nơi đây mà việc đào luyện liên tục thường được thực hiện, dưới trách nhiệm của giám đốc.[140]

Trách nhiệm này cần phải được triển khai theo một đường lối có tổ chức, nhất là trong những cộng thể có các hội viên sống chung nhưng không có việc tông đồ chung; hoặc là trong những nơi mà đời sống của cộng thể tu sĩ đúng nghĩa phải được hài hòa với một việc tông đồ có nhiều cộng sự viên giáo dân.

Cộng thể Salêdiêng thực tế không trở thành một cộng thể hỗn tạp (nghĩa là gồm cả những người không phải là tu sĩ) mà không mất đi căn tính của mình.[141]

Đàng khác, cả hai Tổng Tu Nghị Đặc Biệt và Tổng Tu Nghị 21 nhấn mạnh rằng những người có trách nhiệm trên cấp tỉnh cần phải cung cấp những chỉ dẫn thích hợp để thực thi quyền bính trong cộng thể được gọi là những cộng thể nhỏ, “communità piccole.[142] Điều này cũng áp dụng cho những cộng thể có rất ít hội viên.

Trong truyền thống chúng ta, ta tìm thấy những qui chiếu thường xuyên cho những thái độ và nhu cầu căn bản được bàn đến ở trên kia. Vậy chúng dường như trở thành những nét thường hằng của tinh thần chúng ta.[143]

  • Quyền bính trong đối thoại

Đối thoại là phương cách đặc thù nhờ đó các ngôi vị thông giao với nhau và cùng nhau thông giao với Thiên Chúa, nhằm để hiểu biết và chu toàn thánh ý Ngài. Đối thoại với một người có nghĩa là có thể cho họ một câu trả lời thẳng thắn và chân thành mà không công thức hóa một phán đoán liên quan đến con người của họ. Cha có khả năng đối thoại nếu cha thường xuyên sẵn sàng cho và tiếp nhận lại loại đáp trả ấy, và như thế thông truyền cho người khác rằng cha tiếp nhận họ, kính trọng họ vô điều kiện mặc dầu cha không đồng ý với quan điểm của họ.

Nếu thiếu dự thế nội tâm này, thật sẽ vô ích để nói về năng động tập thể hay về những phương pháp thông giao khác. Không có dự thế nội tâm này, sự san sẻ quyền bính sẽ không ích chi. Đối thoại với Thiên Chúa có nghĩa là đặt mình, như cá nhân và cộng thể, trong tình trạng tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa.

Chúa Thánh Thần dẫn chúng ta nhìn đời sống theo cách thức Đức Kitô phục sinh đã nhìn xem; lượng giá và lấy những quyết định và hành động hợp với những tiêu chuẩn của Người; làm cho những ưu tiên của Người thành của chúng ta; chống lại điều Người chống đối; đồng nhất chính mình với những tình cảm sâu xa nhất của Người. Bằng cách này Chúa Giêsu trở thành chuẩn mực tối hậu cho đời sống chúng ta trong một tiến trình liên tục tập sự khiêm tốn. Bởi vì chúng ta phải nhớ rằng sự phân định luôn can dự đến một tiến trình của sự dễ dạy, hầu vị Thầy sống trong ta có thể hướng đạo và soi sáng chúng ta; ý muốn của chúng ta phải thuần thục để chúng ta có thể sẵn sàng được dẫn dắt trong các hoạt động hằng ngày của mình.

Vậy những người can dự vào tiến trình phân định ý Thiên Chúa cần những thái độ khác nhau. Là giám đốc, cha đặc biệt cần phải thận trọng và kiên nhẫn trong giai đoạn tìm kiếm; trong khi thực thi những quyết định, cha cần mạnh mẽ và can đảm. Rõ ràng không cần tìm ý Chúa nếu nó được nói rõ trong Hiến luật, Quy chế và những chuẩn mực được đưa ra do các bề trên. Đây là cách thức thông thường Chúa dẫn dắt chúng ta. Tìm kiếm điều đã hiển nhiên thì chẳng có ích gì.

Việc hoạch định và những vấn đề khác của việc quản trị thông thường cần một loại phân định thông thường: bầu khí cầu nguyện, chăm chú lắng nghe Lời Chúa, được tăng cường đúng trước khi và bắt đầu hội họp.

Sẽ cần đến sự phân định ngoại thường khi liên hệ đến những đề xuất có những hàm ý rất nghiêm trọng và những hậu quả sâu rộng. Tùy theo trường hợp cha có thể sử dụng những phương thế phân định khác nhau: hội nghị hội viên; những buổi họp ‘kiểm thảo’ hay những khóa phân định được coi như một kinh nghiệm thiêng liêng tự thân.

Tùy theo những nhu cầu của mình, các gia đình tu sĩ đã thừa nhận những kỹ thuật đã được tôi luyện và có những mức độ phức tạp khác nhau. Chúng ta hãy lấy một vài thí dụ từ đời sống của Don Bosco. Khi vấn nạn nảy sinh là có thể thành lập Tu Hội Con Mẹ Phù Hộ, Don Bosco không tin vào ý kiến riêng của mình mà thôi. Ngài triệu tập Hội đồng ngày 24 tháng Tư, 1871; sau khi giải thích rằng ngài triệu tập các thành viên lại để cùng bàn thảo một vấn đề có tầm quan trọng lớn lao, ngài nói cho họ biết điều ngài đang suy nghĩ và cũng cho họ biết nhiều áp lực bên ngoài khác nhau đã bắt ngài phải nghĩ đến việc thành lập ấy. Đoạn ngài nói tiếp: “Cha mời gọi anh em suy tư về vấn đề này trước nhan thánh Chúa và cân nhắc những lý do thuận và nghịch để sau đó ta có thể đi đến quyết định sẽ làm vinh danh Chúa hơn và mưu ích cho các linh hồn. Vì thế, suốt tháng này (ngài nói đến tháng Năm) chúng ta sẽ dâng những kinh nguyện cộng thể và cá nhân theo ý này: xin Thiên Chúa ơn hướng dẫn cần thiết cho vấn đề quan trọng này.” Những thành viên rời khỏi phòng họp với ấn tượng sâu xa.[144] Cuối tháng ấy, Don Bosco lại triệu tập phiên họp và xin từng người cho biết ý kiến, khởi đầu là Don Rua. Họ đều nhất trí ủng hộ tiến hành dự định. Don Bosco kết luận: “Tốt, nay chúng ta chắc chắn rằng Thiên Chúa cũng muốn chúng ta làm một điều gì đó cho các thanh thiếu nữ.”[145] Như ta có thể thấy phương pháp này thật đơn giản, hữu hiệu và thiêng liêng. Trong đó ta có thể phân thành vài giai đoạn:

  • Giai đoạn thông tri và san sẻ thông tin về vấn đề có tầm quan trọng lớn lao;
  • Một thời gian dài suy tư trước nhan thánh Chúa và học biết điều thuận điều nghịch;
  • Dâng kinh nguyện cộng thể và cá nhân cho ý hướng này;
  • Giai đoạn phân định và cân nhắc chín chắn để quyết định xem điều gì làm vinh danh Chúa hơn;
  • Giai đoạn trong đó những nhận xét của các thành viên hội nghị đồng qui và Don Bosco lấy quyết định và ngay tức khắc đặt ra những bước để thực thi nó: “Để đi đến một cái gì dứt khoát, cha đề nghị rằng căn nhà mà Don Pestarinô mới hoàn thành ở Mornese được sử dụng cho mục đích này.”[146]
  1. Những chiều kích của việc sinh động và cai quản

‘Ơn thống nhất’[147] mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, làm chúng ta có thể kinh nghiệm ơn gọi Salêdiêng trong cả hai chiều kích tông đồ và tu sĩ. Đây là hai khía cạnh tương liên với nhau đối với tinh thần Salêdiêng. Chúng bổ túc cho nhau và qui về cùng một thực tại cụ thể, nghĩa là cá nhân và cộng thể khi họ sống sự thánh hiến tu trì bằng cách thực thi một sứ mệnh rõ ràng.[148] Vì thế việc sinh động và cai quản của cha phải mang hai chiều kích:

  • Chiều kích của ơn gọi Salêdiêng xét như một kinh nghiệm của đức ái (chiều kích tu sĩ)

Ở đây chúng ta đang bàn đến “trái tim của người được thánh hiến,” chiều kích thiêng liêng của họ, cách thức họ nhận thức Thiên Chúa hiện diện và vâng phục Ngài. Nói tóm, chúng ta đang qui chiếu đến sự tăng trưởng thiêng liêng, đến giá trị chứng tá của đời tu. Bề trên là người sinh động và linh hướng, nhưng cũng là người giúp từng tu sĩ và cả cộng thể cam kết vâng phục ý Chúa.

  • Chiều kích của ơn gọi Salêdiêng xét như một kinh nghiệm của đức ái mục tử (chiều kích tông đồ)

Đức ái được Thánh Thần đổ vào lòng chúng ta trở thành đức ái mục tử,[149] nghĩa là cảm thức mục vụ[150] và khả năng làm việc vì phần rỗi của giới trẻ.

Bề trên giúp các hội viên hằng ghi nhớ ý nghĩa sứ mệnh của họ. Bề trên giúp họ thủ đắc sự hiểu biết và những thái độ cần thiết để chu toàn sứ mệnh ấy cách hữu hiệu và để sống khoa linh đạo ấy cách chân chính.

Ơn gọi Salêdiêng thì cùng lúc thường hằng và năng động. Nó đặt cộng thể của cha vào lòng Giáo Hội và hoàn toàn phục vụ giới trẻ.[151] Nó đòi phải liên đới mật thiết với chúng; phải hiểu những nhu cầu mới và cũ của chúng; phải nắm bắt được những vấn đề chúng đặt ra; phải chấp nhận những hình thức tham gia mới mà chúng thấy cần.

Đáp trả ơn gọi này không phải là một cái gì xảy ra bất chợt. Nó là một chuỗi liên tục gồm những bảng biển nhờ đó Thiên Chúa vạch đường cho sự canh tân, thích ứng và hoàn thành sứ mệnh chúng ta.

Nhờ cha giúp đỡ, cá nhân hội viên và toàn cộng thể cố gắng chú tâm đến những thúc đẩy của Thánh Thần, Đấng hiện diện trong các biến cố đời sống thường nhật. Họ sẽ cố gắng giải thích ý nghĩa của những biến cố này và cổ xúy một sự hiểu biết ngày một sâu xa hơn về những sự soi sáng của Thần khí. Họ sẽ nỗ lực phát triển khả năng của mình để cống hiến một sự đáp trả “trung thành và lịch sử”[152] trước những thúc đẩy của Ngài. Đây là cách thức mà đức ái vốn đã hiện diện trong cộng thể trở thành đức ái mục tử.

 

 

 

CHƯƠNG 3

GIÁM ĐỐC NGƯỜI SINH ĐỘNG CÁC HỘI VIÊN SỐNG SỰ HIỆP THÔNG TU SĨ VÀ MỤC VỤ ĐẶC THÙ

 

Giám đốc sinh động và cai quản cộng thể cũng như từng hội viên nhằm giúp họ lớn lên như một thân thể trưởng thành và được hiệp nhất trong Đức Kitô và ý thức về ơn gọi của mình.

Để hiệu quả trong sứ mệnh của mình, giám đốc cố gắng khuôn rập đời sống theo những gương sáng về sự thánh thiện linh mục, của sự trưởng thành nhân bản và uy tín mà Don Bosco đã cung cấp.

  • CHIỀU KÍCH CĂN BẢN CỦA CÁCH THỨC HIỆP THÔNG SALÊDIÊNG

Cha thường thấy những qui chiếu đến những trách nhiệm của cha như vị thầy đàng thiêng liêng của cộng thể và cá nhân hội viên, được kêu gọi đúng như chính mình, để kinh nghiệm chiều kích “tu sĩ” của ơn gọi họ. Kinh nghiệm này là biến cố đệ nhất, là nguồn mạch mà mọi sự còn lại lệ thuộc vào. Đấy là điều mà Don Bosco coi là kinh nghiệm nền tảng của ngài về Thiên Chúa.[153] Đấy là đặc điểm của mọi kinh nghiệm kitô hữu bởi vì một kinh nghiệm như thế luôn là một giao ước, một sự hiệp thông đưa đến thờ phượng, và mang lại những hiệu quả trong đời sống hằng ngày với một loạt những quyết định; những quyết định này là hệ quả thực tiễn, là sự cắt nghĩa và là sự cử hành của sự hiệp thông này.

Thiên Chúa kêu gọi chúng ta cho chính Ngài, nhưng để sai chúng ta đi. Tặng phẩm Ngài ban không thể bị đóng kín nơi người nhận lãnh. Nó phải chảy tràn đến những người khác trong cùng môt sự quảng đại và sức mạnh để cứu độ mà với nó người ta đã nhận được. Đức ái, có thể nói, trở thành ý thức và tài khéo mục vụ. Tình yêu Thiên Chúa trở thành tình yêu đối với giới trẻ và nhờ thông phần tình yêu Đức Kitô và qua sự loại suy với tình yêu ấy, nó hiệp nhất tất cả tài năng và sức lực của một người lại.[154] Mối quan tâm của người Salêdiêng chúng ta hoàn toàn được nhìn dưới diện chúng ta tương quan với Đức Kitô và giới trẻ. Bằng không, ai sẽ làm cho giới trẻ hiểu Đức Kitô đã phục sinh theo một cách thức vui tươi và đáng mến? Rằng Người đang sống và hiện diện? Rằng Người đến với họ và kêu gọi họ cho chính Người hầu cứu họ và tỏ lòng yêu mến họ? Chúng ta hoàn toàn sống cho giới trẻ và thấu hiểu những quan tâm lo lắng của họ. Mọi sự giới trẻ quan tâm đều khiến chúng ta quan tâm.[155] Mặc dầu sự ưu ái dành cho giới trẻ này có nguồn mạch bất tận nơi tình yêu của Đức Kitô, Vị Tông Đồ của Chúa Cha,[156] thì kinh nghiệm tu trì và hoạt động tông đồ bao hàm và giải thích lẫn nhau. Mối tương quan giữa thực tại mục vụ và những giá trị khác của ơn gọi Salêdiêng không luôn là như nhau, nhưng nó luôn hiện hữu. Một số những giá trị này là chính nguồn mạch của công việc mục vụ này. Những giá trị khác là một sự trợ giúp cho nó bằng cách làm cho nó trở thành linh hoạt và hài hòa hơn.

1.1 Mối liên hệ mật thiết giữa đời sống thiêng liêng và sứ mệnh tông đồ

Có một sự hòa nhập (integration), một sự phong phú tự nhiên, một thứ thẩm thấu thiêng liêng giữa sức sinh động tu trì[157]hoạt động tông đồ[158] trong cộng thể của cha. “Đức ái mục tử, tươi trẻ và linh động” ở tận tâm điểm của tinh thần cộng thể của cha.[159] Đời sống cộng thể cùng lúc là sự hiệp thông và đồng trách nhiệm mục vụ.[160] Kinh nguyện làm cho cộng thể ý thức sứ mệnh của mình và gia tăng tinh thần tận hiến của cộng thể.[161] Việc thực thi các lời khuyên Phúc Âm giúp cộng thể công bố Đức Kitô, Lời sự sống, sau khi đã gặp Người cách mật thiết, theo lời mời của Người. Việc thực thi các lời khấn cũng giúp cộng thể hiểu biết và chăm chỉ phục vụ Đức Kitô nơi giới trẻ, mà phải được dẫn đến Chúa Cha và kiện cường “sự hiệp nhất trong hành động”[162] của cộng thể. Qua việc đào luyện liên tục, cộng thể vâng phục ý Thiên Chúa bằng cách liên lỷ nỗ lực chuẩn bị mình cách thích đáng cho những trách vụ Người giao phó.[163] Cuối cùng, sự phục vụ của cộng thể được làm cho hợp thời, linh hoạt và có hiệu quả nhờ sự tổ chức và cai quản của cộng thể.[164]

Trong những khoản Hiến luật ta quy chiếu đến, ta có được một bản miêu tả đầy đủ hơn về tất cả những khía cạnh này. Tuy nhiên, điều ta vừa nói ở trên phải làm cho cha rõ rằng có một sự hỗ tương thực sự giữa “sức sống tu trì” và hoạt động tông đồ của cộng thể của cha.

Tất cả những giá trị tích cực đa dạng ấy của bậc sống tu trì đóng góp vào hiệu quả của hoạt động tông đồ; còn hoạt động tông đồ lại cung cấp một khung cảnh trong đó những giá trị này có thể được kinh nghiệm và làm chứng, có thể lớn lên và được thông ban cho người khác.

Trong việc hướng dẫn cộng thể và từng cá nhân qua kinh nghiệm này và bằng những phương thế thích hợp, giám đốc chu toàn vai trò của mình là “người giữ gìn sự hiệp nhất và là người canh giữ căn tính Salêdiêng.”[165] Ngài giúp các hội viên xem thấy ơn gọi của họ đem lại ý nghĩa cho đời sống của họ như thế nào.

1.2 Tính thống nhất của sứ mệnh dưới diện những cấu tố của nó

Các tài liệu của chúng ta miêu tả cha là “người hướng dẫn mục vụ của sứ mệnh”. Sứ mệnh chúng ta có một tính thống nhất bắt nguồn từ những cấu tố căn bản tạo thành sứ mệnh; tính thống nhất ấy đòi buộc các nhà giáo dục Salêdiêng phải hòa hợp với hạt nhân trung tâm của những giá trị mà chúng ta gọi là ơn gọi Salêdiêng. Mỗi lần cha làm một điều gì để xây dựng sự hiệp nhất,[166] xét như người hướng dẫn mục vụ của sứ mệnh, cha đang kêu gọi các hội viên sống hiệp nhất. Và khi cha xây dựng một lối sống được thống nhất giữa các hội viên, cha đang tạo nên một phương thế rất hữu hiệu và bất khả thay thế để cổ võ sự hiệp nhất của sứ mệnh.

Chúng ta hãy nhìn vào những cấu tố trong kế hoạch toàn diện của Don Bosco. Chúng ta phải học để lập tức ghi nhận xem những yếu tố này có mặt hay vắng mặt; chúng ta phải có thể tri nhận xem chúng có hiện diện đầy đủ hay thiếu sót một cách không thể bào chữa hay không, xem chúng hiện diện cách đích thực hay chỉ là gần đúng mà thôi.

Trước tiên, chúng ta hãy xem xét đến những ân điển và năng lực nơi các hội viên của cha; họ có được những điều ấy do bởi chức tư tế của phép rửa tội nơi họ. Vì mục đích của chúng ta, thật đáng gợi nhắc rằng ơn gọi tu trì là một lối sống bí tích rửa tội cách đặc biệt và như vậy cũng có một cách sống đặc biệt chức tư tế cộng đồng của người tín hữu mà lệ thuộc vào bản chất của ơn gọi riêng mỗi người.

Vì sứ mệnh của họ, tất cả các hội viên của cha, cả linh mục lẫn sư huynh, cần đến những năng lực thúc bách các tiềm lực và những viễn tượng của họ. Những người Salêdiêng phải có khả năng liên lỷ cống hiến đời sống mình cho Thiên Chúa vì phần ích giới trẻ, đặc biệt giới trẻ nghèo; họ phải có một trực giác về những mầu nhiệm của Thiên Chúa và cách thức Thiên Chúa cứu rỗi giới trẻ trong những hoàn cảnh chúng sống; người Salêdiêng phải ra sức giúp đỡ một cách hiệu quả người trẻ chiến thắng tội lỗi và sự chết, đạt được những mục tiêu giáo dục và thay đổi những cơ chế cản trở họ tăng trưởng. Những người Salêdiêng phải tích cực và có trách nhiệm tham gia vào đời sống cùng hoạt động của Giáo Hội địa phương vốn là bối cảnh trong đó họ sống ơn gọi của mình.

Một yếu tố căn bản thứ hai của sự thống nhất trong sứ mệnh chúng ta là mục tiêu nó nhắm đến: sự phát triển nhân bản tròn đầy của giới trẻ và ơn cứu độ của họ trong Đức Kitô.[167] Sứ mệnh của Don Bosco rõ ràng là một sứ mệnh kitô hữu, ngay cả khi được thực thi vì những người không chia sẻ đức tin tôn giáo của chúng ta nữa. Ngay cả trong trường hợp ấy, một cách nội khởi sứ mệnh vẫn rộng mở tới chiều kích kitô hữu. Có một sự phân biệt về phẩm chất giữa tiến trình phát triển nhân bản và tiến trình cứu độ trong Đức Kitô, nhưng trong thực tiễn, hai tiến trình này hỗ trợ lẫn nhau.

Hơn nữa mục tiêu của sứ mệnh Salêdiêng cũng được thống nhất theo nghĩa rằng xét như một toàn thể, nó được nối kết thành ba giai đoạn phiến diện, nhưng không tất yếu kế tiếp nhau: sự phát triển nhân bản của cá nhân;[168] sự phát triển nhân bản của nhóm, được nhấn mạnh không chỉ đến những cá nhân tạo thành nhóm, nhưng đến bối cảnh lịch sử và môi trường;[169] và cuối cùng sự phát triển kitô hữu từ cả hai nhãn quan cá nhân và nhóm.[170]

Ba khía cạnh này làm đặc trưng và thống nhất toàn thể lối tiếp cận mục vụ. Mọi sự hiện diện Salêdiêng đều liên quan đến sự phát triển nhân bản, giáo dục và phúc âm hóa. Mọi công việc Salêdiêng đều mang chiều kích phát triển, văn hoá và tôn giáo, và đều liên quan đến cá nhân, nhóm và môi trường.

Cấu tố thứ ba của sứ mệnh chúng ta liên hệ đến những người chúng ta làm việc cho. Chúng ta ưu ái hơn đến những người trẻ nghèo, bị bỏ rơi và đang gặp nguy hiểm.

Don Bosco thiết tha rất nhiều đến hạnh phúc của chúng. Ngài nói về mối quan tâm này với một sự âu yếm tế nhị trong lời trăn trối thứ tư và cuối cùng cho các cộng tác viên Salêdiêng của ngài: “Cuối cùng cha muốn các con biết rằng sức khoẻ của cha giảm sút nhanh chóng. Cha có thể thấy mình yếu hơn và cha đoán rằng cái ngày mà cha phải trả món nợ đời và đi xuống mồ không còn xa mấy nữa. Nếu việc ấy xảy đến sớm, và nếu đây là lá thư cuối cùng cha viết cho các con, thì đây là lời trăn trối thứ tư và cuối cùng của cha: cha gởi gắm cho đức ái của các con tất cả mọi công cuộc mà Chúa đã dủ thương trao phó cho cha suốt gần 50 năm trường; cha xin các con hãy quan tâm đến việc giáo dục kitô hữu cho giới trẻ, đến ơn gọi linh mục và truyền giáo; nhưng đặc biệt cha gửi gắm cho các con chăm sóc những thanh thiếu niên nghèo và bị bỏ rơi. Chúng luôn là thành phần quý mến nhất trong trái tim cha ở dưới thế này.”[171]

Ngài đã nói: “Cha hứa với Chúa rằng cho đến hơi thở cuối cùng, cha đều dành cho các thanh thiếu niên của cha.”[172] Và thực sự là như thế.

Dĩ nhiên cha hiểu rằng quyết định để làm việc cho giới trẻ nghèo không phải là một giai thoại trong đời sống của Don Bosco và Tu hội. Nó là sự kiện mà đã trở thành một tiêu chuẩn. Điều này đúng đến nỗi chọn lựa này điều kiện hóa những đường nét của hết thảy công việc mục vụ Salêdiêng.

Bất cứ chúng ta làm việc ở đâu, công việc tông đồ của chúng ta đều phải là dành cho giới trẻ, cho giới bình dân và phải có đặc tính truyền giáo. Nó quan tâm đến một thứ tăng trưởng mà “các dân tộc vui hưởng thiên đàng với những cư dân may lành.”[173] Sứ mệnh của chúng ta hướng đến quần chúng và tỏ ra sự trân trọng đối với những quan tâm và những giá trị văn hoá của người bình dân. Lối tiếp cận mục vụ Salêdiêng rộng mở trước việc sử dụng những dụng cụ và phương pháp mới mẻ, nhưng không từ khước những giá trị vĩnh cửu và sinh tử của quá khứ.[174]

1.3 Sự hiệp nhất được nhập thể trong phương pháp mục vụ, nơi đó các vai trò của các linh mục và sư huynh Salêdiêng đều đồng qui và bổ túc nhau

Nếu cha suy nghĩ về ý nghĩa của một công thức đơn giản được Don Bosco dùng: “Các kitô hữu tốt và công dân lương thiện,” dưới diện của khoa thực hành mục vụ của ngài, cha sẽ ý thức rằng “không có chút phân rẽ nào trong đó cả, dẫu có sự khác biệt; không có hai sứ mệnh, một thuộc bình diện tự nhiên, một thuộc siêu nhiên.

Có một sứ mệnh mà thôi. Sứ mệnh đó mang tính chất mục vụ và nhằm kết hợp thành đô Nước Trời và trần thế lại với nhau.”[175]

Phạm vi tương liên trong mối liên hệ giữa những khía cạnh nhân bản và kitô hữu của sứ mệnh Salêdiêng không phải là không thay đổi. Nó liên lỷ thay đổi theo nền văn hóa trong đó chúng ta làm việc và phù hợp với mức độ đức tin và tự do mà giới trẻ đạt đến. Những giá trị nhân bản cần được thanh lọc và làm giàu nhờ đức tin. Những giá trị Tin Mừng phải được thực hành trong một sự hiệp nhất sống động với những thái độ và nhân đức nhân bản.

Để đạt mục đích này, Don Bosco kiến tạo một cộng thể sống một hình thức hiệp thông đặc biệt và được phú ban một kiểu lãnh đạo mục vụ được làm phong phú nhờ đặc sủng của chức linh mục hầu bảo đảm sự hiệp thông và hoàn thành đầy đủ những mục tiêu của đức ái mục tử một cách tốt đẹp hơn.

Theo Don Rinaldi, Don Bosco tỏ ra là một “thiên tài sáng tạo”[176] khi đòi hỏi rằng cộng thể của ngài phải có các Salêdiêng sư huynh lẫn linh mục: tất cả đều có những chức năng quan trọng và bổ sung.[177]

Chúa ban cho chúng ta một ân điển lớn lao khi kiến tạo trong một ơn gọi Salêdiêng hai dạng thái tiêu biểu để là một người Salêdiêng, dưới diện những cách suy tư, làm chứng, làm việc và tác động phong thái đời sống tông đồ và tu sĩ của cùng cộng thể.[178] “Người Salêdiêng là một hội viên của cộng thể và như vậy, họ phải cảm thấy nơi tâm hồn mình một mối tương quan bẩm sinh, bổ sung cho những hội viên Salêdiêng khác nhưng theo một cách khác nhau.”[179] Một hội viên nhìn các sự việc theo lối này sẽ tăng trưởng trong hiểu biết về ý nghĩa ơn gọi của mình.

Đấy không chỉ là vấn đề hiệp thông huynh đệ; đó là vấn đề tương quan hỗ tương giữa hai yếu tố nền tảng của ơn gọi chúng ta: linh mục và giáo dân. Hai cấu tố này cùng nhau lớn lên và triển nở cách hài hoà để nuôi dưỡng “sự mới mẻ sáng chói và sứ mệnh chung vốn tạo thành nét độc đáo của Tu hội chúng ta.”[180]

Những khác biệt nơi diện mạo và vai trò của các hội viên không được coi là những giới hạn hay những khác biệt về địa vị, nhưng họ cùng chia sẻ chung như những tài nguyên của một gia sản; không phải là vấn đề thiếu một cái gì, nhưng đúng hơn là tiềm lực để chia sẻ sự tuyệt mỹ lẫn cho nhau;[181] là sự đóng góp hài hòa vào một kiểu cộng thể độc đáo vừa là tu sĩ vừa là tông đồ.[182]

1.4 Những cộng thể của chúng ta cần một vị lãnh đạo có thể đem những chức năng linh mục thừa tác vào phục vụ tất cả các hội viên

Chúng ta vừa nói đến những ân điển, những năng lực và khả năng khác nhau để kiến tạo nên những tương giao; nhưng làm cách nào một cộng thể Salêdiêng được xây dựng dưới diện những phẩm tính này? Nói khác đi, ở đâu chúng ta tìm được nguồn mạch của đức ái mục tử? Hay tốt hơn nữa, Don Bosco coi cái gì là nguồn mạch? “Vì những yếu tố cấu thành kế hoạch Salêdiêng, đức ái mục tử của cộng thể Salêdiêng phải được hướng dẫn và nuôi dưỡng nhờ một loại quyền bính được làm giầu nhờ những ân sủng của thừa tác vụ linh mục,[183] một tác vụ được Vatican II khảo cứu sâu xa và đem lại sự thích hợp tươi mới trong Giáo Hội khi đáp lại những dấu chỉ thời đại và nhắm đến một kỷ nguyên mới trong lịch sử.”[184]

Nếu mất đi tác vụ linh mục của cha, cộng thể ấy không thể là điều mà nguyên thủy Don Bosco muốn nữa.

Một cộng thể Salêdiêng sẽ ở trong lúc rực rỡ nhất, khi cha, trong và nhân danh cộng thể, làm cho Đức Kitô hiện diện cách bí tích tại đây và lúc này, như là Đầu thông truyền sự sống và như là người Tôi Tớ hy sinh mạng sống mình. Nhưng cha cũng làm cho cộng thể hiện diện trước Đức Kitô. Như vị đại diện Người và như dụng cụ trong tay Thánh Thần, cha cam kết phục vụ và nâng đỡ cộng thể của cha về tính độc đáo và những mục tiêu của nó. Chúng ta đang nói về ‘đoàn sủng nỗ lực nhóm’.

Cha phải hướng dẫn và sinh động cộng thể qua chân lý cứu độ vốn đem lại cho cộng thể ánh sáng và các phương thế làm cộng thể nên thánh thiện; cha phải điều phối và hài hòa các ân điển đa dạng trong cộng thể và tương quan với sứ mệnh của cộng thể trong Giáo Hội.

Để diễn tả điều này chính xác hơn, cha có ba trách vụ đối với những tác vụ và đặc sủng khác nhau của cộng thể.

  • Trách vụ thúc giục và khích động chúng. Đấy không phải là việc tạo nên những tác vụ hay đặc sủng, nhưng là làm cho người ta biết đến chúng, nhấn mạnh chúng. Đấy là mục tiêu đệ nhất của hoạt động ơn gọi trong cộng thể;[185]
  • Trách vụ phân định tác vụ và đặc sủng nào là chân chính và tác vụ và đặc sủng nào thì không; phân biệt điều đích thực ra khỏi điều chỉ dường như là chân thực. Cha phải chăm chú lắng nghe anh em để hiểu cái gì nơi tâm hồn họ là kết quả của kinh nghiệm cá nhân; cha sẽ phải lắng nghe Lời Chúa để “nghe được Thần khí đang nói gì cho các Giáo Hội;”[186]
  • Trách vụ hòa hợp những tác vụ và đặc sủng này. Cha phải đảm bảo rằng những đóng góp đặc biệt của hết thảy hội viên đều đồng qui về một mục tiêu duy nhất mà thôi: nghĩa là, chu toàn sứ mệnh nhờ sự thánh thiện và đạt được sự thánh thiện nhờ chu toàn sứ mệnh.

Và như vậy cha sẽ thấy làm thế nào tác vụ của cha trong khi áp dụng cụ thể, thực sự lại không ở trên cộng thể nơi đó cha được kêu gọi phục vụ. Cha không độc lập trong cộng thể, cha cũng không ở trong cộng thể vì chính mình. Và cộng thể nơi đó cha sống tác vụ này, đúng là thế, một cộng thể. Nói cách khác, nó là sự hiệp thông thật sự, làm nảy sinh và đào luyện các người trẻ như những người Kitô hữu, và giúp các người Salêdiêng lớn lên trong sự thánh thiện.

Hoạt động ‘từ mẫu’ này được thực hiện do tất cả hội viên hiệp nhất thành một thân mình. Thánh Augustinô thường nói, dù trong một bối cảnh khác: “singuli filii, universi parentes”. Và điều này có thể là một ‘tình mẹ’ thực sự hiệu quả khi nó được liên kết với “nguyên lý tình cha,” bắt nguồn nơi Thiên Chúa và được thực thi nhờ dụng cụ là tác vụ linh mục của cha.

Như vậy cộng thể không bao gồm một số người triền miên tích cực (những người làm việc) còn những người khác thì thụ động (luôn ở bên lãnh nhận). Một thân xác lớn lên nhờ mỗi chi thể đóng góp tích cực. Tất cả các chi thể phải đồng trách nhiệm.

  • MỘT SỐ ĐÒI HỎI DÀNH CHO GIÁM ĐỐC XÉT NHƯ NGÀI LÀ LINH MỤC

Trong cộng thể, cha là một dấu chỉ của Đức Kitô, Đầu Giáo Hội. Chính nhân danh Người mà cha dạy dỗ, cai quản và thánh hóa. Cha thiết lập nên những tương quan sống động với Thân mình sống động là Giáo Hội, mà cộng thể của cha là một phần và là một biểu lộ của Giáo Hội. Và cha lãnh đạo nhóm người ấy trên đường thánh thiện.[187]

Phong thái thánh thiện của chúng ta là một phong thái thánh thiện đặc thù,[188] bởi vì nó can dự cả đến một ý thức sâu xa sự hiện diện của Đức Kitô, Đấng kêu gọi chúng ta và sự sẵn sàng nên dụng cụ của Người, và cùng một lúc, là một nỗ lực liên lỷ phục vụ những người chúng ta được sai đến.[189]

Chính cha phải lớn lên trong sự thánh thiện nếu cha phải là gương mẫu của sự thánh thiện, và thông truyền điều ấy cho các hội viên. Sự thánh thiện đến từ một sự kết hợp đặc biệt với Đức Kitô là Thượng Tế đời đời, và được nuôi dưỡng bằng sự tiếp chạm với Người. Đời sống của cha có ý nghĩa trong mối tương giao với Đức Kitô và Giáo Hội trong sứ mệnh cứu rỗi.

Điều này muốn nói rằng cha phải thủ đắc những nhân đức và thái độ cha cần thiết: một kinh nghiệm về Thiên Chúa trong đoàn sủng Salêdiêng và khả năng để thông truyền điều ấy; và cùng với điều này sự trưởng thành nhân bản và uy tín mà đời sống thiêng liêng của cha đòi hỏi và đem lại, hầu cha có thể trở thành một vị lãnh đạo khả tín và hữu hiệu trong công việc giáo dục.

2.1 Mối tương quan của cha với Đức Kitô

  1. Sự kết hiệp đặc biệt với Đức Kitô, vị Thượng Tế vĩnh cửu

Don Albera viết rằng giám đốc khai triển một “sự kết hiệp mật thiết với Đức Kitô đến nỗi dần dần ngài trở nên quen nhìn thấy Đức Kitô trong mọi sự qua từng phút cuộc sống ngài.”[190]

Cha là một linh mục để yêu mến Đức Kitô. Tình yêu đối với Người không phải là một sự sùng mộ riêng tư. Sự thụ phong bí tích đòi cha điều ấy. Do chính bản chất của chức linh mục, linh mục yêu mến Đức Kitô theo cách thức mà không một ai khác có thể yêu mến Người, vì linh mục được chính Đức Kitô yêu mến cách đặc biệt. Cha cũng phải yêu mến Người hết tài năng nhân loại của mình và liên lỷ thanh luyện và phát triển chúng để chúng có thể trở thành phương tiện chuyển thông ân sủng của Người.

Cha được kêu gọi để cho thấy đức ái tăng trưởng và sự thánh thiện được thành tựu. Những khía cạnh thừa tác và cá nhân trong đời sống của cha không được tách rời nhau.

Mọi linh mục phải đảm bảo sự hữu hiệu của hành vi bí tích bằng cách sống của mình. Cá nhân ngài phải làm chứng cho chức tư tế của mình và thống nhất đời sống cá nhân với chức tư tế ấy bao có thể. Chức linh mục phải hoàn toàn thấm nhiễm đời sống ngài.

Lớn lên trong hiểu biết về Đức Kitô đến nỗi biết Người là tri thức tuyệt hảo nhất[191] cùng là niềm vui sâu xa nhất của cha.[192] Tấn tới trong kinh nghiệm về sự mật thiết với Người, đang khi làm cho mầu nhiệm này thành chân tính đích thực của cha, và thành lý lẽ cho mọi lựa chọn của cha, chính là đặt Đức Kitô vào tận tâm điểm tác vụ của cha.[193]

Theo cha Albera, người phản ánh tư tưởng của Don Bosco và Don Rua, kiến thức về Đức Kitô và kinh nghiệm tăng trưởng về sự mật thiết với Thiên Chúa được sống nhiều ở bình diện nội tâm trong đời sống của giám đốc hơn là được tỏ lộ công khai. “Bề ngoài không có gì bộc lộ sự hiện diện của Thần khí, song giám đốc cảm nhận nó. Chính Thần khí nói cho tâm hồn ngài, khích lệ và an ủi ngài, và trên hết chính Thần khí ban cho ngài sức mạnh tươi mới của ý chí và quảng đại hơn.”[194]

Tất cả những điều này đưa cha tới chỗ muốn là một linh mục sống trong sự tự do vâng phục đối với Thần khí của Chúa Giêsu. Kinh nghiệm Thiên Chúa: đây phải là ước muốn cao nhất của cha.

  1. Thánh Thần như một kinh nghiệm: sự tối thượng của đời sống trong Thần khí

Những người không thể sống hòa hợp với Thần khí có một tương lai trống vắng và chúng ta xác tín rằng một Tu hội không sống sự hiện diện của Thần khí cách sung mãn thì không có tương lai chi cả.

Tương lai Tu hội và sự tăng trưởng thiêng liêng của cá nhân chúng ta trực tiếp tùy thuộc vào đời sống chúng ta trong Thần khí. Chính Thần khí sống nơi chúng ta “như trong đền thờ”[195] và Ngài tuôn đổ “tình yêu của Người vào lòng chúng ta.”[196] Chính Ngài kiện cường chúng ta tận bên trong[197] và cầu nguyện trong chúng ta “bằng những tiếng rên xiết khôn tả.”[198] Trên hết, chính Thần khí đưa chúng ta vào những mầu nhiệm của Thiên Chúa nhờ sức mạnh bất khả chống cưỡng của Ngài, và Ngài làm cho chúng ta có thể nhận rõ ý nghĩa của lịch sử. “Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.”[199] Một cách ngoại thường Don Bosco là người của Thần khí. Niềm xác tín rằng ngài được trời cao hướng dẫn đặc biệt đã chủ trị cuộc đời ngài; xác tín này ở tận cội rễ cho những công việc táo bạo nhất của ngài.[200] Ngài không lý thuyết hóa hoặc bàn về Thần khí nhiều hơn những người khác đã quen làm như thế theo linh đạo của thời đại ấy, nhưng trên bình diện nội tâm, ngài lớn lên trong sự thánh thiện và sự cam kết cá nhân với Chúa Giêsu Kitô. Trên bình diện bề ngoài, với Đức Kitô và trong Đức Kitô, ngài thẳng tiến trong việc tận hiến cho đồng loại như là người anh em của họ và cho giới trẻ như là người cha của chúng.[201]

Đây là hai khía cạnh khác biệt nhưng bổ sung của đời ngài. Nơi Don Bosco có một sự thống nhất giữa sự trung thành với Thần khí và sự nhạy cảm của ngài đối với những đòi hỏi cụ thể của lịch sử và nhân loại.

Cha đại diện Don Bosco, đặc biệt đối với ‘những vấn đề của linh hồn.’ Vì thế, cha phải là người của Thần khí, khi sử dụng mọi ân điển nơi mình với tất cả khả năng của mình. Cha không phải là một đấng sáng lập, nhưng cha có trách nhiệm hơn người khác để đảm bảo rằng tinh thần và sứ mệnh của Tu hội tiếp tục sống. Cha có trách nhiệm hơn những người khác để gìn giữ, minh định và phát triển đoàn sủng của Don Bosco, vốn là “một kinh nghiệm của Thánh Thần.”[202] Cha phải làm việc này trong sự hài hòa với Nhiệm Thể Đức Kitô, là một thực tại đang tăng triển và sống động.

“Trung thành với Don Bosco không hệ tại ở việc sao chép ngài cách bề ngoài, nhưng là bắt chước sự thuần thục của ngài đối với Thánh Thần.”[203] Vì vậy, cha đừng chống lại Thần khí,[204] hay những khởi hứng và thúc đẩy của ngài. Thuần thục đối với Thần khí là một nhân đức mà các hội viên của cha đều cần; nhưng chính cha là một giám đốc còn cần đến nhân đức đó hơn nhiều, một nhân đức mà chỉ có thể được thực thi dưới một số điều kiện mà thôi. Theo gương Don Bosco, cha không được cho phép mình bị phủ ngập do cái nhịp điệu của các biến cố bên ngoài. Bao có thể, cha phải học để tạo ở bên trong và quanh cha những thời gian thinh lặng trong ngày để cha có thể lắng nghe Thần khí và rộng mở trước tác động và sức mạnh của Ngài. Cha phải kêu cầu Ngài trong những trạng huống khó khăn nhất. Cha phải xin Ngài tuôn đổ những hồng ân cốt yếu cho đời sống của một người Salêdiêng: tình yêu, niềm vui, bình an, kiên nhẫn chịu đựng, hiền dịu, quảng đại, đức tin, hiền lành và tiết độ.[205]

Niềm vui của Don Bosco phát xuất từ nguồn mạch này, vì niềm vui “được đời đời thuộc về Thiên Chúa là hoa trái khôn sánh của Chúa Thánh Thần.”[206]

2.2 Mối tương giao của cha với Giáo Hội

Đời sống của cha chỉ có ý nghĩa trong tương quan với Giáo Hội, vì đầu không thể tách khỏi các chi thể. Cha hành động với tư cách của Đức Kitô. Như cộng sự viên của Giám mục, và trong sự hiệp nhất huynh đệ với các linh mục khác, cha làm cho đức ái chủ trị trên cộng thể vì Giáo Hội.[207] Phù hợp với đoàn sủng của cộng thể, cha hành động nhân danh cộng thể vì sự tăng trưởng của cộng thể trong Đức Kitô. Một cách ‘bí tích’ cha đại diện Người. Điều này có nghĩa là cha tận hiến cho Lời Thiên Chúa và là một dấu chỉ. Cha cam kết để sống cái cảm thức Giáo hội, sensus ecclesiae, và hân hoan muốn trở thành một dụng cụ của tình Ngài trong tay Đức Kitô qua việc dâng hiến và hy sinh chính mình.

  1. Cha hãy cố đạt được khả năng phân định nơi Lời Chúa một sứ điệp cứu độ cho các hội viên và thanh thịếu niên trong các biến cố hằng ngày và những hoàn cảnh thường gây rắc rối trong cuộc sống thường nhật của họ.

Cha là một thừa tác viên của Lời Chúa và bởi vì cha tương quan đặc biệt với Đức Kitô linh mục, và bởi vì cha có kinh nghiệm về Thiên Chúa, nên cha có thể công bố Lời Chúa cách có thẩm quyền. Lời này không chỉ là một lời về Thiên Chúa mà cha công bố, nhưng là lời của chính Thiên Chúa.

Tác vụ này có chỗ cao quí trong mọi cộng thể bởi vì lời Chúa là nguồn mạch cho công việc cứu độ. Chính việc công bố lời Chúa tụ họp cộng thể của cha lại, và quanh lời Chúa, cộng thể thắt chặt dây hiệp nhất. Chính từ Lời Chúa đức tin phát sinh: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô.”[208] Sẽ không có lời nào cả nếu không có miệng lưỡi công bố lời ấy hay tấm lòng để đem đến cho lời ấy sức ấm, sức ấm của việc công bố.

Vai trò cốt yếu của cha chính là ở đây. Giám đốc nào biết làm sao để công bố lời Chúa và thực sự cam kết cho trách vụ này là vị giám đốc hoàn thành được một việc lớn lao: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải.”[209] Giám đốc không phải là người bận bịu lắm chuyện, cũng không phải vì vậy ngài tiên vàn là một nhà tư tưởng. Trái lại, ngài là một người cầu nguyện, một người chiêm niệm có thể nội tâm hóa nền văn hóa nhờ đức ái, nhằm sứ mệnh và sự thánh hóa của cộng thể. Huấn quyền của các công đồng, của Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục giúp cha đáp trả lại thách đố này. Vai trò ngôn sứ thúc đẩy cha. Cha ý thức sự kiện này là bằng cách thực hành những lời dạy dỗ của huấn quyền Giáo Hội, cha góp phần tạo nên một câu truyện đời sống thật sự cho cộng thể của cha trong bối cảnh của Giáo Hội địa phương.[210]

Cũng vậy, cha phải lợi dụng những phương thế khác: quyền giáo huấn chính thức của Salêdiêng, nghĩa là các Tổng Tu Nghị, những dạy dỗ của Bề Trên Cả và Ban Cố Vấn ngài, của Giám tỉnh. Cha làm điều này không phải chỉ như phần vụ của việc tuân giữ tu trì, nhưng còn bởi vì cha ý thức rằng làm như thế, cha tích cực quan tâm đến việc thực thi sung mãn sứ mệnh ngôn sứ của cha như một linh mục và như thế giúp các hội viên lớn lên trong việc phục vụ các thanh thiếu niên.[211]

  1. Cha là thừa tác viên của những nghi thức thánh mà có thể làm cho những nguồn mạch ân sủng hoạt động thích đáng. Bù lại, những nguồn mạch này là chính nền tảng của Hệ Thống Dự Phòng.

Khi cha chủ sự tiệc Thánh Thể và cổ võ việc năng lãnh nhận bí tích Giao Hòa, cha đem lại những chất liệu cần thiết để xây dựng cộng thể. Chính Thánh Thể xây dựng cộng thể và đồng thời là khung cảnh đặc biệt để gặp gỡ Đức Kitô, Đấng Cứu Độ. Có nhiều dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa, nhưng Thánh Thể là dấu chỉ cho thấy sự hiện diện tuyệt hảo nhất của Đấng Cứu Độ.[212]

Khi chủ sự tiệc Thánh Thể, cha trở thành dấu chỉ bí tích về sự hiện diện của Chúa. Và mặc dù tất cả những người khác đều tham gia thì cha là người đưa cộng thể vào trong mầu nhiệm ấy nhờ những lời ghi nhận đầu lễ và bài giảng; cha là người công bố kinh nguyện thánh thể làm biến đổi những của lễ thành Mình và Máu Đức Kitô. Cha là người rèn đúc mối liên hệ giữa Thánh Thể và cuộc sống thường nhật và giúp những người tham dự sống điều họ cử hành.[213]

  1. Cha hãy gắng sao có được một kinh nghiệm sống động về sensus ecclesiae bằng cách nhấn mạnh đến ý nghĩa Giáo Hội trong tất cả mọi hoạt động của cha. Cha hãy buộc mình trong đức ái và vâng phục Đức Thánh Cha và các Giám Mục cũng như tăng triển những giao tiếp huynh đệ với những linh mục khác.[214]
  2. Cha hãy hoàn toàn tin rằng Chúa ở bên cạnh. Ngài tiếp tục tin tưởng cha bất chấp cha mỏng dòn. Ngài hiện diện trong những hoạt động hằng ngày của cha với ánh sáng và tình yêu của Ngài. Ngài ban cho cha sức mạnh để tiếp tục tiến bước, ngay cả khi sự dửng dưng hay chống đối làm cho cha khó kiên trì trong sự phục vụ của cha như một giám đốc.
  3. Cha hãy chấp nhận sự kiện rằng cha được sai đi và phải liên lỉ gắng trở thành một khí cụ thích hợp của đức ái trong tay Chúa,[215] để đáp lại cách hữu hiệu bao có thể những đòi hỏi trong sứ mệnh của cha – một sứ mệnh mà vì đó cha phải sửa soạn ngày qua ngày nhằm những nhu cầu khác nhau đang nảy sinh.

Thái độ thiêng liêng lớn lên nơi cha như một kết quả của một tình thân với đặc sủng linh mục của cha và với những mầu nhiệm Thánh Thể là thái độ của vị trung gian và hiến vật cùng với Đức Kitô trong tình yêu Người dâng hiến cho Chúa Cha.

Thánh Thể làm cho sự hiến mình của Đức Kitô cho Chúa Cha thành hiện tại. Người diễn đạt gãy gọn sự hiến dâng này khi đi vào thế giới.[216] Người sống điều ấy cách trung thành hoàn toàn suốt cuộc đời trần thế của Người, khi làm cho Thánh ý Cha nên của ăn của uống hằng ngày của mình; Người hoàn tất hy tế trên Calvê, và Người làm cho hy tế ấy hiện diện trong tất cả sự thích đáng và quyền năng của nó khi mỗi lần cử hành Thánh Thể.

Đối với cha như một linh mục, Thánh Lễ tận căn là sự kết hiệp của hai lễ phẩm (hai của lễ), hai hiến tế: hiến tế của Đức Kitô trên bàn thờ, và hiến tế cha làm nên nơi chính mình trên cùng một bàn thờ và cha kéo dài nó bằng cuộc đời và phục vụ của cha. Cha không được quên hiến dâng hy tế thiêng liêng liên lỉ là đời sống cha.

Cha sẽ tìm được động cơ trong Thư gởi tín hữu Do Thái. Nơi các tư tế của Cựu ước có sự phân biệt giữa nghi thức họ cử hành với đời sống cá nhân của họ.[217] Họ dâng “lễ phẩm và hiến tế,”[218] nhưng không dâng chính mình. Người ta không xứng đáng để dâng chính mình vì lỗi lầm của họ. Lễ dâng phải không được có vết nhơ. Luật này ngăn chặn tất cả chúng ta bởi vì chúng ta tất cả đều là tội nhân.

Đức Kitô biến đổi tận căn các sự việc. Người không chút tỳ vết hay bợn nhơ. Người là hiện thân của sự thánh thiện và Người dâng hiến chính mình. Người không vào cung thánh với máu súc vật, nhưng với chính máu mình. Vì thế lễ dâng của Người không tách khỏi thảm kịch của đời sống Người. Nó không phải là một “nghi thức” xảy ra bên ngoài hay dọc theo đời sống. Nhưng nó là chính thực tại của đời sống Người, của cái chết Người vì nó được hoàn tất không phải trong phụng vụ đền thờ, nhưng bên ngoài thành: trên đồi Calvê.

Từ đó trở đi, bất cứ ai tin vào Người, đều có thể hiến dâng chính mình. Thực vậy, thánh Augustinô nói: “tin chính là đi vào trong Đức Kitô.” Lễ dâng của chúng ta và của Người trở thành một thực tại, đáng được “các thiên thần mang lên tới bàn thờ thiên quốc trước tôn nhan Đấng Tối Cao.”[219]

Sự “hiến dâng chính mình và kiên nhẫn chịu khổ thì thiết yếu cho mọi người trong những thăng trầm của cuộc đời.”[220] Chẳng hạn, Don Bosco “cảm thấy rất khó chịu khi thấy một thanh thiếu niên của ngài phạm một tội nặng đến nỗi cả đêm ngài không thể chợp mắt.”[221] Ngài bị thúc đẩy do “đam mê thánh thiện”[222] để đền bù tội lỗi này vì ngài có đức tin mạnh mẽ và cảm thấy trách nhiệm ngài thật sâu xa.

Tội lỗi phá hủy con người và thế giới. Xét như một lầm lỗi, tội luôn hàm ý con người tự do khước từ trao ban chính mình cho Thiên Chúa. Nó chối Ngài có quyền là Kiến trúc sư của thế giới này. Xét như tội là đau khổ, nó có nghĩa là sự dội lại của một thế giới chưa hoàn thành và bị rách nát cách vô trật tự trên con người sống điều ấy. Giám đốc vốn phải là người lãnh đạo trách nhiệm của một kế hoạch cụ thể là cứu rỗi giới trẻ, buộc phải thật sự kinh tởm tội lỗi.

Một giám đốc hoàn toàn cam kết chiến đấu chống lại tội lỗi và đền bù tội lỗi. Ngài được lôi kéo vào hướng này do sức mạnh của đặc sủng linh mục. Như Chúa Giêsu, ngài đoan thệ đấu tranh chống sự dữ và đau khổ, kết quả của sự bất công. Ngài làm thành của mình tiếng “không” của Thiên Chúa trước tội lỗi và đau khổ. Như Thiên Chúa, ngài có một ao ước mang tính chất sáng tạo và vĩnh cửu rằng các thanh thiếu niên và các hội viên phải có sự sống!

Nhưng xét như Đức Kitô dùng sự tự do của mình để đem lại cho đau khổ một ý nghĩa tích cực và làm nó thành dấu chỉ của ơn cứu chuộc (dầu vô tội, Người đã làm cho mình được thanh tẩy với các tội nhân “hầu chu toàn mọi đòi hỏi của Thiên Chúa.”),[223] Giám đốc sợ hãi những gánh nặng của đau khổ và dâng mình đền bù những lỗi lầm của chính mình và của cộng thể.

Trong phép rửa của đau khổ này[224] mà như Đức Kitô Thượng Tế, giám đốc chấp nhận gánh vác, ngài nhận biết con đường đau khổ đưa tới hạnh phúc; và ngài được mời gọi tới đó nhờ đời sống phục vụ của ngài. Nơi tất cả điều này, như một linh mục chủ trị cộng thể trong tình yêu, giám đốc buộc phải cung cấp một sự bảo đảm cho giá trị của hành vi bí tích. Do chính sự kiện cha là một linh mục được thụ phong, cha buộc phải là một khuôn mẫu của khoa linh đạo “trung gian và hy sinh”. Nếu cha hằng ngày chấp nhận những đòi hỏi của khoa linh đạo này, chẳng mấy chốc cha sẽ thấy rằng nó là một trong những cấu tố chính yếu của tình hiền phụ nơi cha.

2.3 Sùng kính Đức Maria cách đặc biệt

Sắc lệnh công đồng về đào luyện các linh mục khi nói cho những người “sẽ lãnh nhận việc nên giống Đức Kitô linh mục do sự thụ phong” khuyên họ “tạo thói quen đến gần Người như các bạn hữu trong mọi chi tiết đời sống họ.”[225] Và để có thể lớn lên trong sự kết hợp với Đức Kitô, họ phải “yêu mến và tôn kính Đức Trinh Nữ Maria với lòng tín thác của những người con cái mà khi hấp hối trên thập giá, Đức Kitô đã trối người cho môn đệ của Người như một người mẹ.”

Ngườii ký thác sự tăng trưởng trong chức linh mục và trong thừa tác vụ của cha cho Mẹ. Mẹ Maria, bằng việc hạ sinh Con Thiên Chúa, trở thành mẹ của hết thảy tín hữu, bởi vì Giáo Hội như một thân mình, đến từ Đức Kitô và là Đức Kitô. Sự sinh hoa kết trái của Đức Maria không tự động nhưng hiện hữu để phục vụ Giáo Hội. Mẹ tham dự vào sứ mệnh của Giáo Hội nhờ sự ưng thuận phổ quát và vô giới hạn của Mẹ mà Con Mẹ đã dùng như phương thế tái sinh những người tín hữu mới.

Kinh nghiệm của Don Bosco (chính Đức Maria làm mọi sự)[226] là một sự kiện sống động thuộc về lịch sử của Tu hội chúng ta và được canh tân mỗi khi chúng ta cầu nguyện với mẹ và canh tân sự trung thành của chúng ta.[227]

Có được một kinh nghiệm về sự sùng kính Đức Maria giống như của Don Bosco, người “đã tận hiến cho Đức Trinh nữ,”[228] thì còn hơn là một sự cần thiết khách quan đối với một giám đốc. Đó là một nhu cầu cá nhân. Như là “Don Bosco của mỗi nhà Salêdiêng,” giám đốc trong khía cạnh này cũng phải bắt chước “Don Bosco của lịch sử,” người đã từng là một trong những người tôn sùng vĩ đại của Mẹ Maria.

Nhưng những kết quả của lòng tôn sùng này, đối với cha cũng như đối với các hội viên, sẽ là một ý thức sống động về Giáo Hội, một chọn lựa rõ ràng vâng phục tích cực đối với những chủ chăn của Giáo Hội và cộng tác với các ngài, là một phong thái và tinh thần nhờ đó sứ mệnh được thực thi và là việc nuôi dưỡng các ơn gọi.[229]

2.4 Yêu mến Don Bosco

Giám đốc có một tình yêu rất thật với Don Bosco linh mục. Nhờ sự trung thành của mình, giám đốc muốn phản ánh cái ý tưởng độc đáo của Don Bosco về giám đốc Salêdiêng, hầu tương ứng với tình yêu lớn lao mà vị thánh đã dành cho các giám đốc suốt đời ngài. Đó là một tình yêu ngài tiếp tục tỏ lộ một cách tích cực và hữu hiệu.[230]

Một kinh nghiệm cá nhân về tình yêu này làm cha dễ dàng hơn hoàn toàn chấp nhận những giá trị ngài đã cưu mang. Nó là nguồn mạch cho sự tín thác bởi vì cha cảm được sự xứng đáng của nó; và trong đó tìm được sự can đảm để tiến lên trong những bổn phận đôi khi rất mệt nhọc của cha. Và như vậy, biết và yêu mến ngài là một “tặng phẩm.”[231] Nó hơn hẳn một sự hứng khởi mà thôi. Nó là một sự hiệp thông sự sống chân thật trong đó con cái tiếp tục tăng trưởng trong ân sủng của người cha. Nếu Don Bosco là ‘khuôn mẫu cao cả của bề trên’ thì điều này càng đúng hơn đối với những ai được kêu gọi do vâng phục tiếp tục việc phục vụ này mà, theo ngài, là nên ‘mọi sự’ vì cộng thể.

2.5 Trưởng thành và kinh nghiệm nhân bản

Điều kiện thứ nhất thánh Phaolô đòi hỏi những người được kêu gọi phục vụ cộng đoàn trên bình diện thiêng liêng là họ phải trưởng thành và đầy đủ kinh nghiệm để hiểu biết những người anh em của mình. Người được chỉ định “chủ tọa” phải là người không chê trách được, không nghiện rượu, khôn ngoan, dậy dỗ tốt, hiền lành, có danh thơm tiếng tốt. Ngài phải thoát khỏi những nết xấu đó vốn là dấu chỉ của một nhân cách tầm thường và không trưởng thành.[232]

Chúng ta biết công đồng nhấn mạnh biết bao đến tầm quan trọng của các đức tính nhân bản trong việc huấn luyện và trong đời sống của các linh mục.[233] Những Tổng Tu Nghị chúng ta[234] xem xét sự việc từ cùng một viễn cảnh này khi nói rằng các Salêdiêng phải quân bình vì điều này can hệ sống động tới đời sống thiêng liêng của họ[235] và tới phong thái hoạt động bên ngoài của họ.[236] Lối sống Salêdiêng nối kết sự tự do với sự trung thành đối với sự thánh hiến tu trì của chúng ta, hầu gây được ảnh hưởng tích cực trong việc giáo dục của chúng ta khi chúng ta thanh thản tham gia vào đời sống cộng thể.[237]

Cha có thể coi như nhắm đến cho chính mình điều được đòi hỏi mọi Salêdiêng về sức khỏe tốt, làm việc, tiết độ, nền giáo dục thể lý;[238] cũng như điều được đòi hỏi dưới diện quân bình tâm lý và cần thiết sửa mình để tương quan thích hợp với chính mình, với các sự vật và với Thiên Chúa.

Cha phải quảng đại chấp nhận những hệ quả của hết thảy điều này. Cha đặc biệt phải cố gắng vun trồng hai thái độ. Hơn bất kỳ điều gì khác, chúng bộc lộ cho các hội viên mức trưởng thành cá nhân của cha: khả năng của cha có thể lấy những quyết định cách tự do theo ánh sáng của những động cơ chân chính và được nội tâm hóa; và khả năng yêu mến một cách thật sự hữu vị. Đây là hai khả năng giả thiết một toàn thể những nhân đức và thái độ khác, nhưng nhất là:

  • Tự do khỏi mọi sự nghiêm khắc, cấm đoán và trói buộc bên trong, và độc lập khỏi những áp lực môi trường.
  • Trân trọng kinh nghiệm và những giá trị chân thật của một người và chấp nhận những giới hạn của họ.
  • Rộng mở với tha nhân và có khả năng chấp nhận nhau cách kính trọng, tích cực và không thành kiến.[239]

Thật là kỳ diệu cho bất kỳ ai tiến đến với cha như một vị linh hướng để gặp được một người có sự nồng ấm nhân bản (như Don Bosco linh mục đã là thế), một con người có một nhân cách hòa hợp, một người có thể khích lệ người khác, thông cảm và nghiệm được những nỗi vui buồn của họ. Thật diệu kỳ khi gặp được giám đốc mà nơi ngài địa vị không trở thành chướng ngại cho con người ngài, nhưng đúng hơn, ngài đã xoay sở để đặt toàn bộ gia sản là các phẩm chất nhân bản vào phục vụ các hội viên của mình; những đức tính ấy ngài đã dày công phát triển.

2.6 Được sai đến với các anh em

Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh.”[240] Vì thế, cha được mời gọi để lượng giá lại những ân điển của cha và liên lỉ ý thức hơn nữa sự kiện là cha được sai đến với các hội viên như một người sinh động thiêng liêng, như vị thầy có thẩm quyền và hợp thời về đời sống Salêdiêng và như một nhà hướng đạo có uy tín trong sứ mệnh của họ.

  1. Người sinh động khía cạnh thiêng liêng

Sự sinh động thiêng liêng là ‘bổn phận đệ nhất’ và là ‘trách nhiệm lớn lao’ của cha, như Don Albera đã diễn đạt trong cuốn Cẩm nang cho giám đốc.[241] Don Rua đã diễn tả nó chính là tột đỉnh nơi sứ mệnh của giám đốc.

May thay một lần nữa, ngày nay ta lại nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc công nhận giám đốc là người sinh động thiêng liêng của cộng thể, là một người giúp cộng thể lớn lên trong sự trọn lành và thánh thiện.[242]

Để tính ưu tiên này nơi khía cạnh tu trì và thiêng liêng trong sứ mệnh của giám đốc có thể là thực, chứ không chỉ là lý thuyết, Tổng Tu Nghị 21 đề xuất định nghĩa lại và đơn giản hóa các trách vụ mà Hiến luật đã ký thác cho giám đốc. Bước tiến này có thể mang lại nhiều khả thể tuyệt vời.[243]

Một giám đốc tốt luôn là một “lương tri thực tiễn” của ơn gọi Salêdiêng, theo nghĩa ngài am tường lịch sử đó, biết làm thế nào để sống ơn gọi ấy cho phù hợp với sự tiến hóa và đổi thay mà không cắt nó khỏi mối liên hệ với quá khứ.[244] Cha có thể tìm thấy nơi lịch sử Salêdiêng những tư tưởng hữu ích và có sức thuyết phục về “tình hiền phụ thiêng liêng” và tính ưu tiên của các khía cạnh tu trì trong vai trò của giám đốc.

“Theo tinh thần của Đấng Sáng Lập và truyền thống Salêdiêng, giám đốc của các nhà có một vị thế hoàn toàn giống với vị thế của cha linh hướng trong chủng viện. Ngài là người hướng đạo và là bác sĩ của tâm hồn.”[245] Câu nói đầy suy nghĩ ấy được Don Rua viết vào một trong những giờ khắc đau đớn nhất trong đời ngài, sau sắc lệnh ngày 24 tháng Tư, 1901, theo đó, giám đốc Salêdiêng không còn có thể là vị giải tội thông thường nữa, vì thế mất đi một cái gì đó rất đặc sắc, mặc dầu tình hiền phụ thiêng liêng của ngài cũng như những phương thế để thực thi nó vẫn nguyên tuyền.

Từ năm 1901 cho tới Tổng Tu Nghị 21, các Tổng Tu Nghị và các Bề Trên Cả luôn nhấn mạnh điểm này. Trong những qui chế được Tổng Tu Nghị 10 (1904) quyết định và in ra vào năm 1906, chúng ta tìm được nghị quyết này: “Tổng Tu Nghị 10 muốn các giám đốc chịu trách nhiệm thực sự đối với sự tăng trưởng thiêng liêng của các phần tử bằng cách đặt các ngài là những vị linh hướng chân thật của các hội viên, mặc dù các ngài không phải là những cha giải tội của họ.”[246]

Có những lời bình giải quan trọng về tình hiền phụ thiêng liêng của giám đốc trong suốt Tổng Tu Nghị 11. Giữa những lời bình giải ấy, ta có thể trích dẫn lời của Don Rinaldi: “Chúng ta phải trở về với tinh thần và tư tưởng của Don Bosco như được chứa đựng trong Những Lời thân tín dành cho Giám đốc và trong Qui chế. Giám đốc luôn phải là giám đốc Salêdiêng. Chỉ bỏ qua sự kiện là giám đốc không được giải tội cho những người thuộc quyền nữa, còn mọi sự không thay đổi gì.”[247]

Vào những thời buổi khác nhau của lịch sử chúng ta, các bề trên và các Tổng Tu Nghị đã làm cho những lời về đề tài này thành rõ ràng và có thẩm quyền.[248] Chúng ta sẽ giới hạn vào một lời trích dẫn từ Tổng Tu Nghị 19. Tổng Tu Nghị này đã có một lập trường đặc biệt đầy ý nghĩa bởi lẽ đang ở trong thời điểm canh tân: “Giám đốc hãy coi việc hướng dẫn thiêng liêng cho cộng thể và các hội viên là bổn phận chính yếu … ngài hãy quan tâm trước hết để lo cho các hội viên, đặt trách vụ đào luyện này trước cả trách nhiệm ngài có đối với các thanh thiếu niên.”[249]

Cuốn cẩm nang mới này sẽ không hòa điệu với kinh nghiệm sống động của Tu hội, cũng không thích hợp với thời đại chúng ta đang sống, nếu nó không còn trung thành với chiều hướng này. Tập trung vào khía cạnh thiêng liêng trong chức năng của cha không có nghĩa là tách cha khỏi những lãnh vực của sự sinh động mục vụ và giáo dục, hoặc khỏi việc cai quản cộng thể. Thực sự tất cả những lãnh vực của đời sống Salêdiêng phải luôn qui về giám đốc, ít nhất là trong điều liên quan đến hoạt động tổng quát và sự điều phối toàn thể của chúng.[250] Tuy nhiên, ta phải kính trọng một phẩm trật các giá trị và trách vụ, và tinh thần tu trì chiếm địa vị thứ nhất trong trật tự này.[251]

Ngày nay chúng ta có một hình ảnh mới về diện mạo-người cha. Hình ảnh ấy mang tính chất thẩm quyền hơn là chuyên chế. Người cha phải là một khuôn mẫu thì quan trọng hơn là một kẻ tuyên bố những luật lệ; người cha phải là người có khả năng đối thoại thì quan trọng hơn là một kẻ chỉ ban lệnh.

Những khía cạnh này áp dụng còn hơn nữa trong trường hợp của một người cha thiêng liêng vốn phải bén nhạy và rộng mở trước những dấu chỉ thời đại, sự độc đáo của mỗi nhân vị, những đổi thay của hoàn cảnh và môi trường, và trên hết, với những tác động của Thánh Thần là Đấng luôn canh tân bộ mặt trái đất.

Một kỷ nguyên mới và một cánh đồng mới của hoạt động đang mở ra cho cha như một người sinh động thiêng liêng. Cha đi vào lãnh vực này với một ‘tiếng nói mới’ của linh mục, vừa là tu sĩ và vừa là tông đồ theo tinh thần Vatican II; và với ‘tiếng nói mới’ của một Tu hội đã mặc lấy một ý thức được canh tân về sứ mệnh của mình qua các Tổng Tu Nghị mới đây.

Các hội viên mong đợi nhiều ở giám đốc như một người sinh động. Những kỳ vọng này gia tăng với thời gian trôi qua. Không ít các hội viên dường như mong chờ các giám đốc phải hoàn thiện. Đây là lối tư duy không liên hệ với thực tại và làm các giám đốc bối rối. Các hội viên phải học để chấp nhận giám đốc như ngài vậy.[252] Nhưng lập tức ta phải thêm rằng nếu cha được giao phó trách nhiệm giám đốc, cha phải nghiêm chỉnh đảm nhận bổn phận là làm cho mình có đủ tư cách đối với công việc ấy, không quá nhấn mạnh đến nguyên lý chuyên biệt hóa cho những trách vụ khác nhau cho bằng đến một lời đáp trả cho những nhu cầu khẩn cấp của Tu hội và một sự quay về với Don Bosco để làm ngài sống lại.[253]

Don Bosco làm biết bao điều để đào luyện các giám đốc! Điều này hiển nhiên từ Những lời thân tín, những huấn đức chung nhân dịp lễ thánh Phanxicô Salê (bắt đầu từ năm 1865), những cuộc nói chuyện trong các lần tĩnh tâm, những luân thư và những lá thư riêng ngài viết cho các cá nhân.

  1. Một ông thầy có thẩm quyền và hợp thời về đời sống thiêng liêng Salêdiêng

Hấp thụ tinh thần Salêdiêng cơ bản là vấn đề của sự thông truyền sống động.[254] Không phải là nghiên cứu sâu xa sẽ làm nên một giám đốc tốt. Dù vậy, trừ phi cha học hỏi lịch sử Tu hội và hiểu biết tốt đẹp về linh đạo kitô hữu nói chung và tinh thần Salêdiêng nói riêng, cha sẽ không thể chu toàn sứ mệnh của mình. Kinh nghiệm là một điều thiết yếu nền tảng; nhưng để hữu hiệu, kinh nghiệm phải “được đi kèm với lời cắt nghĩa thích đáng trên lý thuyết và được nâng đỡ bằng một sự học hỏi tiệm tiến và có hệ thống.”[255]

Don Bosco một con người hoạt động, luôn nhấn mạnh đến công thức: “học hành và đạo đức”. Trong một luân thư năm 1874, ngài viết: “Vos estis sal terrae, lux mundi; Muối: nhờ lòng đạo đức và khôn ngoan các con cần muối để hướng dẫn các linh hồn tới điều gì là tốt lành và nhân đức; ánh sáng, nhờ gương lành.”[256] “Học hành và đạo đức làm nảy sinh một Salêdiêng chân thật.”[257]

Đây không phải là một trách vụ dễ dàng cho một người như giám đốc có rất ít giờ rảnh, và thấy khó để theo kịp tiến bộ luôn xảy ra trong sự hiểu biết của con người. Điều Don Albera xưa kia đã nói, vẫn còn đúng cho những bộ kinh điển của đời sống thiêng liêng và cho những nguồn liệu Salêdiêng nền tảng: “Là giám đốc, cha nên chọn ra một ít tác giả đã được tuyển lọc kỹ càng và như vậy, chậm mà chắc, cha hiểu họ hoàn toàn và được thấm nhuần học thuyết của họ.”[258] Điều này vẫn đúng với bộ sách cổ điển về thiêng liêng và những tài liệu nền tảng của Tu hội; nhưng nó không áp dụng cho những sách chung chung, bởi vì có quá nhiều sách để chọn, và ngày nay sách vở rất mau chóng trở thành lỗi thời.

Chúng ta phải đối diện với sự kiện là kiến thức thủ đắc được suốt những năm đào luyện không còn đầy đủ nữa. Cha phải tiếp tục cập nhật trong cánh đồng linh đạo mà không xao nhãng những lãnh vực giáo dục và mục vụ. Một giám đốc mà dọi phóng hình ảnh về chính mình như lui về sau thời đại trên bình diện văn hóa, sẽ không thoải mái và không thể tránh được cái nguy hiểm tinh tế là tư duy lộn xộn, đặc biệt trong thời hiện tại vốn tra vấn những khuôn mẫu của sự thánh thiện và những hình thức đời tu mà trước kia đã từng được ai nấy chấp nhận, cũng như giá trị của một vài dự phóng giáo dục.

Về điểm này chắc chắn cha sẽ bắt đầu hỏi: tôi đi đâu để tìm được giờ giấc mà học hành? Làm thế nào để tôi có thể hòa hợp được những tiết học tập với quá nhiều bổn phận thúc ép, với việc thiếu nhân viên, với sức khỏe yếu kém của tôi? (và có lẽ những lo lắng khác)

Don Rua trả lời như sau trong một lá thư của ngài: “Thiên Chúa biết những nhận xét cha nêu ra đây mới quan trọng làm sao. Chắc chắn cha muốn anh em giữ gìn sức khỏe; thực sự, cha ra lệnh cho anh em làm việc đó, cũng như thực thi cách có ý thức và quảng đại những trách vụ được ký thác cho mỗi người do bài sai. Nhưng các con yêu mến, hãy tin cha đi. Bằng cách phòng xa, trật tự và lo lắng sử dụng thời giờ tốt đẹp, người ta có thể chu toàn được nhiều việc. Trong vấn đề này, học hành cũng là một bổn phận ta phải chu toàn.”[259]

Và như vậy lời khuyên của Don Albera hình như đặc biệt thích hợp: trong thời khóa biểu cha hãy dành ít nhất mỗi ngày một tiếng đồng hồ và giờ đó chỉ chuyên chăm vào việc học hỏi các khoa học thánh.[260]

Cha có thể cập nhật những đề tài thiêng liêng và tu trì bằng cách cẩn thận đọc những sách và tạp chí được tuyển chọn. Sách tốt không mang lại kết quả là bao, cha phải giữ sách nào là tốt nhất! Đừng bỏ qua những khoa học nhân văn mà cha đã học suốt những năm đào luyện ban đầu.

Không tham vọng là một chuyên viên, cũng chẳng chút lẫn lộn vương quốc của con người với vương quốc của Thiên Chúa, cha hãy cập nhật hóa trong lãnh vực tâm lý, xã hội và giáo dục vốn sẽ giúp cha biết đến những cơ cấu và qui luật trong đó ân sủng hoạt động.

Hiện nay hội viên đã đi ra tới các nhà sau một khóa đào luyện tốt. Phần thuộc trách vụ của cha là phải hòa hợp và luợng giá kiến thức của từng hội viên. Cha cũng phải đánh giá mối liên hệ giữa các lãnh vực khác nhau của kiến thức trên bình diện cộng thể. Nơi nào có những khó khăn đặc biệt, cha có thể tham khảo các chuyên viên để tìm ra những giải pháp dầu họ không là Salêdiêng, bao lâu họ ở trong đường hướng chính thức của chúng ta.

Cha hãy lãnh trách nhiệm về những sáng kiến này; cha hãy hỗ trợ chúng. Nhưng cha hãy tiến vào kiểm soát và sửa sai chúng khi cần. Cũng hãy coi bổn phận của cha là tham gia, trừ phi cha không thể làm được điều đó mà thôi, vào bất kỳ sinh hoạt nào của việc nhật hóa thiêng liêng, Salêdiêng và thần học, được tổ chức trong bối cảnh tỉnh dòng, vùng hay Giáo Hội địa phương.

Hoạt động giảng dạy của cha là có thẩm quyền vì được đâm rễ trong đặc sủng của chức tư tế, và trong bài sai loại biệt cha nhận được từ các bề trên.[261] Nó cũng có thẩm quyền dưới diện nội dung bởi vì nó chuyển giao kho tàng học thuyết Salêdiêng theo mức độ cha có uy tín để làm như vậy hợp với Hiến luật và với những chỉ dẫn của các bề trên và huấn quyền Giáo Hội – những người giải thích chân chính tinh thần chúng ta.[262]

Như một vị thầy của tinh thần đó, cha có bổn phận đặc thù đối với tính chất Salêdiêng. Do việc đặt cha làm người lãnh đạo cộng thể và làm đầu của một công cuộc Salêdiêng, các bề trên như vậy đã đặt cha làm vị thầy của đời sống Salêdiêng. Trách vụ của cha bao gồm việc giúp các hội viên phát triển một lối nhạy cảm mà cho phép họ cảm nhận và phê phán các sự vật từ quan điểm Salêdiêng đến việc họ có thể sống và làm việc theo kiểu Salêdiêng.

Kinh nghiệm của Giáo Hội hậu công đồng cho thấy rằng những Tu hội mà đã có thể canh tân chính mình hoàn toàn và mau chóng là những Tu hội thành công trong việc trở về nguồn và về tinh thần của Đấng Sáng Lập.[263] Ân sủng của những cội nguồn thật phong phú lạ lùng, ngay cả khi thời gian trôi qua.

Nhưng chúng ta không thể trở về với Đấng Sáng Lập chúng ta mà không học hỏi nhiều và yêu mến sâu xa đối với những cội nguồn Salêdiêng của chúng ta.[264]

Tình cờ qui chiếu đến Don Bosco thì không đủ. Nói về ngài cách chung chung và tuyên bố về ngài mà không thể dựa vào những bằng chứng hiển nhiên hay tách chúng khỏi bối cảnh thì không thể chấp nhận được và thật chẳng phong phú chút nào. Đấy là một nguy hiểm mà cha lao vào nếu cha dễ dàng quen thói ứng khẩu hay chỉ lập lại từng chữ những điều Don Bosco đã nói hay đã làm.[265]

Khi trình bày đời sống, tư tưởng và những thành tựu của ngài, cha phải cẩn trọng phân biệt điều tương hợp với ý định thường hằng của Thiên Chúa với điều chỉ là một sự diễn tả của những điều kiện đổi thay và trạng huống lịch sử cụ thể mà kinh nghiệm thiêng liêng của ngài được nhập thể.[266]

Nhưng trong trách vụ tế nhị này cha không phải bắt đầu từ số không. Thực tế, tiến trình phân định này đã xảy ra trong tiến trình toàn diện của việc thích nghi và canh tân đã được các Tổng Tu Nghị mới đây của chúng ta thực hiện.

Về vấn đề này các luân thư của các Bề Trên Cả trong những năm gần đây có tầm quan trọng lớn lao. Tài liệu Đào Luyện các Salêdiêng của Don Bosco đáng ta lưu ý đặc biệt.[267] Giữa những người khác nữa, nó được nhắm đến cho các giám đốc, và miêu tả những chức năng đặc biệt của họ về đào luyện.[268]

Trong tài liệu này cha sẽ tìm được những ý tưởng then chốt mà Tu hội muốn chuyển giao lại cho các thế hệ Salêdiêng mới để làm cho họ có thể là những hội viên theo tâm trí và cõi lòng của Don Bosco.

Tuy nhiên xác tín đầu tiên cha phải vun trồng và thông truyền là tầm quan trọng sinh tử của Hiến luật. Đây là tài liệu nền tảng nhất và có thẩm quyền nhất mà hết thảy những gì khác phải dựa vào. Cha phải liên lỷ tìm cách hiểu Hiến luật hoàn hảo hơn hầu có thể chia sẻ kiến thức này với từng hội viên và với toàn cộng thể. Hiến luật là cương lĩnh cho sự hiệp nhất của chúng ta. Nó tạo nên Luật đời sống Salêdiêng. Nơi đó toả sáng, như chuẩn mực tối thượng, Tin mừng được sống theo tinh thần Don Bosco và trong đó cất giữ sự giầu có thiêng liêng của truyền thống chúng ta.[269] Hiến luật rõ ràng xác định tinh thần và những mục tiêu chung của chúng ta và giải thích rõ ràng ý nghĩa sự phục vụ của quyền bính và của những sáng kiến.[270]

Vì những lẽ này, Hiến luật là điểm qui chiếu bó buộc cho lời dạy dỗ chân chính của giám đốc. Cha phải yêu mến Hiến luật và đảm bảo rằng nó được yêu mến, khi nhấn mạnh đến tinh thần thấm nhập Hiến luật hơn là đến chữ viết và hình thức diễn tả bên ngoài. Như Don Albera đã vạch ra “trong Tu hội chúng ta có một tâm điểm của mọi tư tưởng và chiều hướng, một lối tư duy và hành động làm nên tinh thần của chúng ta. Tâm điểm ấy chính là qui luật thánh.”[271] Hình thức bên ngoài lệ thuộc vào biến chuyển thời đại và thực sự đã chịu một số đổi thay; nhưng tinh thần tồn tại mãi bởi vì nó từ Phúc Âm mà đến và nó diễn tả ngày một sâu xa hơn “lòng trung thành năng động và sống động của Tu hội đối với sứ mệnh của mình trong lịch sử.”[272]

Đây là đường lối ta phải hiểu việc Don Bosco liên lỷ nhấn mạnh liên lỷ đến Hiến luật. Don Rinaldi xác nhận điều này trong một nhận xét sâu sắc của ngài sau khi vạch ra rằng Hiến luật của nhiều dòng tu có “nhiều điểm giống nhau và hầu như đồng nhất: Điều làm phân biệt chúng không phải là phần lớn điều được viết trong những khoản luật, nhưng được chứa đựng trong việc cắt nghĩa hay ứng dụng của từng khoản luật do Đấng Sáng Lập (người vẫn sống trong những người kế vị). Thực sự ngài in đậm dấu ấn cá nhân trên đó đến nỗi, bỏ ngoài những lời lẽ và ý nghĩa chung chung, chúng mặc lấy một nhân cách của chính chúng mà làm cho chúng rõ ràng khác biệt với những qui luật của những hội dòng khác.”[273]

Để cắt nghĩa Hiến luật cách có thẩm quyền và nói lên ý nghĩa sâu xa và năng lực để canh tân, cha phải hiểu biết chúng thật sâu sắc. Nhưng còn quan trọng hơn nữa là cha phải sống chúng. Theo lời cha Albera khuyên, cha phải làm chúng thành thước đo cho bước tiến của cha: Giám đốc “có thể nói như thế, phải coi xem mình đã đạt đến mức nào đối với Hiến luật để biết mình đã vươn đến nhân đức tới mức nào.”[274] Về cùng một điều này, việc chuyển giao cách trung thành điều chính cha đã nhận lãnh từ truyền thống, như được giải thích dưới diện những nhu cầu hôm nay do những tài liệu chính thức của Tu hội và Bề Trên Cả, không chỉ là một tác vụ dẫn đến sự hiệp nhất trong phạm vi chủ yếu giữa cộng thể thế giới, cộng thể tỉnh và địa phương, nhưng cũng còn có một tầm quan trọng quyết định trong việc làm cho các hội viên có thể hiểu được căn tính Salêdiêng, sức sinh động của Tu hội và giá trị của công việc họ làm như một lời đáp trả cho những câu hỏi và thách đố do tuổi trẻ ngày nay đặt ra.

  1. Người lãnh đạo uy tín của sứ mệnh

Qua toàn thể những nhân đức và những điều kiện cần thiết về nhân bản và Tin Mừng được hòa trộn với nhau trong kinh nghiệm cá nhân của cha, cha có thể là người sinh động thiêng liêng của cộng thể, và cùng lúc là người lãnh đạo chịu trách nhiệm về sứ mệnh mục vụ của cộng thể.

Lòng ưu ái của cha dành cho giới trẻ có nghĩa là cha làm mọi sự có thể được để dẫn chúng trên đường cứu độ. Cộng thể phải bắt đầu hoạch định cách thực tế và sáng tạo hoạt động mục vụ của mình tới đạt mục tiêu này.

Để chu toàn trách vụ này cách tốt đẹp, cha phải vun trồng những phẩm tính sau:

  • Tính chuyên nghiệp - không phải chỉ như một sự kiện bên ngoài, nhưng như một thái độ bên trong. Hướng dẫn một cộng thể trong công việc mục vụ hàm ẩn nhiều điều hơn là chỉ làm tốt mà thôi. Nó đòi phải có uy tín. Cha phải liên lỷ tăng trưởng trong lối tư duy và hành động của cha, để nhận ra giá trị của những hệ thống tư tưởng bàn đến vấn đề này và để có thể bản thảo những kết luận và những kết quả đạt được. Làm các việc theo cách chuyên môn cũng có nghĩa là nhận biết rằng vai trò của cha bổ sung cho vai trò của những người khác. Tận hiến thời giờ và sức lực để làm trách vụ của mình cho tốt đối với người Salêdiêng là một khía cạnh của làm việc và tiết độ.
  • Tính thực tế - Đây là một thái độ liên kết với nhân đức khôn ngoan và được nuôi dưỡng bằng kiến thức (về thế giới, Giáo Hội, con người, giáo dục, văn hóa) và bằng những kỹ năng thực thi mà ta phải liên lỷ khảo sát.

Tính thực tế kéo theo tri thức về những khả thể và giới hạn của chính mình; khả năng nhận thấy nhu cầu phải có những giải đáp lâu dài cho một vài vấn đề thay vì chờ đợi những kết quả tức thời; thói quen phê bình để xây dựng; khả năng tổng hợp và hình thành một khóe nhìn thống nhất về thực tại; khả năng nhìn xem toàn bộ bức tranh hầu tránh được việc nhấn mạnh quá đáng về bất kỳ khía cạnh nào; khả năng nhận ra sự kiện là người ta không bao giờ kiểm soát đầy đủ được tình trạng bởi vì trong đời sống sự việc biến chuyển liên tục.

  • Tín nhiệm con người. Tín nhiệm đồng loại là dấu tín nhiệm vào Thiên Chúa và vào Lời Ngài, Lời có thể chạm đến lòng người. Đây là một vấn đề tin rằng những cộng sự viên của cha có thể lớn lên, rằng những đóng góp của họ thật hữu ích ngay cả khi chỉ bé nhỏ mà thôi. Đấy là vấn đề tin vào nhu cầu là phải gieo hơn là vội vã gặt hái.
  • Những kỹ năng giao tiếp. Điều này nói về tiến trình cá nhân nhờ đó giám đốc có thể bình thản lắng nghe, hình thành những khái niệm rõ ràng và lấy những quyết định cần thiết. Mặt trái của tình trạng ấy là trong đó một người không thể bình thản phân định và lấy những quyết định chín chắn bởi vì họ ở trong cơn xoáy của những ý tưởng và chương trình mơ hồ. Phẩm tính này được biểu lộ ra bên ngoài qua sự chân thành, qua sự vui vẻ chia sẻ tất cả mọi thông tin cần thiết để hoạch định chung, qua khả năng lợi dụng sự thuyết phục, qua sự vui vẻ muốn giúp đỡ người khác lớn lên và phát triển những ân điển, qua việc đặt vai trò của chính mình cho sự kiểm soát của nhóm nhờ sự phân định cộng thể, và cuối cùng qua việc thừa nhận những giới hạn của mình và sự kiện là những tài năng của kẻ khác thường phải bổ khuyết những nhược điểm của chính mình.
  • Sự trưởng thành và sự quân bình cá nhân. Điều này thấy được qua cách người ta tương giao với kẻ khác. Nó bao gồm khả năng thiết lập những tương quan vốn không chỉ tập chú trên công việc, khả năng vượt qua việc chỉ tìm cách làm hài lòng mình mà thôi và thắng vượt những nỗi lo sợ tranh giành quyền bính luân lý hay tri thức. Trưởng thành và quân bình có nghĩa là hạnh phúc khi thấy những mục tiêu được thành đạt và khám phá ra những khía cạnh tích cực. Nó có nghĩa là sống cho người khác hơn là cho chính mình.
  • Cuối cùng một giám đốc cần ý thức về sự kiện là trong lãnh vực giáo dục các sự việc xảy ra tiệm tiến, rằng có nhiều lối đường để cho một người lớn lên, rằng ta cần phải chú ý đến những khác biệt tâm lý và có nhiều điều không thể lường được trong công việc giáo dục.
  1. Một khuôn mẫu khả tín

Chúng ta biết Don Bosco và truyền thống Salêdiêng nhấn mạnh biết bao rằng giám đốc phải là một chứng nhân và một gương mẫu: “Vì cha phải chủ trị trên người khác, nên trước hết cha phải đem lại một gương sáng.”[275] Don Albera viết: “Các giám đốc hãy ghi nhớ rằng lời nói không đủ đâu. Cộng thể không chỉ cần lời giáo huấn của cha, nhưng còn cần cả gương sáng. Giám đốc đừng quên rằng đời sống của giám đốc là một cuốn sách mở sẵn nơi đó các hội viên học được chuẩn mực điều hành lối sống của họ: regis ad exemplum totus componitur orbis. Cha đừng bao giờ quên rằng cặp mắt của cộng thể luôn nhìn lên cha và cha, có thể nói, phải là một luật sống trước mắt họ, là sự nhân cách hóa của nhân đức và cách sống luân lý.”[276] Những qui chiếu này dường như không thích đáng nếu người ta coi bắt chước là giới hạn tự do hay nếu người ta nhấn mạnh đến sự tự lập và nhu cầu phải có nhiều khuôn mẫu để bắt chước. Tuy nhiên, giáo lý chúng ta nói đến thì rất hòa hợp với Tin Mừng[277] và với truyền thống Salêdiêng chân chính.

Ngay cả những nghiên cứu hiện đại về con người cũng đồng ý rằng gương sáng có giá trị lớn. Thời trước kia chỗ đứng của quyền bính dường như ưu thắng trên con người có quyền bính và vì thế làm cho người ta không nhìn đến những khiếm khuyết của họ. Nhưng ngày nay chính con người này phải làm cho vai trò của mình thành khả tín. Khả năng để xét con người có quyền bính theo quan điểm đức tin là kết quả của một thời kỳ lâu dài trong việc trưởng thành thiêng liêng. Những người lãnh đạo có người theo thực sự trong thời hiện tại là những người khả tín nhất và gương mẫu nhất, đặc biệt dưới con mắt của những người trẻ. Sức mạnh của gương sáng hầu như vô hạn nếu nó là một gương sáng của một đời sống thật sự trung thành được sống trong sự phục vụ của đức ái. Chính bởi vì khi người ta cảm nhận được tình yêu nơi một người, người ta dễ dàng đồng hoá với những giá trị của người đó và sự cảm nhận ấy tạo nên tình cảm rằng họ đáng yêu mến và kính trọng. Bù lại, điều này đóng góp vào sự tăng trưởng, tính sáng tạo và hạnh phúc của họ. Mọi Salêdiêng trong đời mình đã gặp được một vài giám đốc mà họ vẫn còn đặc biệt tri ân họ. Đó có thể là những người không có những phẩm chất cao cả, trí thông minh trổi vượt hay những tài năng đặc biệt; tuy nhiên sự hiện diện của họ tự nó là một sứ điệp và đời sống họ nói nhiều hơn những lời của họ. Cha Ceria viết: “Chúng ta biết những người này. Họ thật khác nhau theo kiến thức và tài năng; khả năng của họ cũng thật khác nhau. Nhưng tất cả đều có một vài nét chung nào đó nổi bật vốn tạo nên những đặc tính căn bản của người giám đốc salêdiêng: sự bình thản trong cách nói năng và hành động mà tạo được sự thanh thản; tình cha và sự hiền dịu trong những cách họ diễn đạt chính mình và nơi cách giao tiếp với người khác. . . một tinh thần đạo đức mà hiển nhiên là nền tảng và mấu chốt cho đời sống Salêdiêng của họ.”[278] Tóm lại, những người này thật gương mẫu và khả tín. Điều chúng ta đọc thấy trong Mutuae relationes có thể được áp dụng cho họ: “Các mục tử hãy ghi nhớ lời khuyên của thánh Tông đồ là đừng bao giờ nên “người chuyên chế” trên bất kỳ nhóm người được giao cho họ trách nhiệm, nhưng phải làm gương sáng cho đoàn chiên noi theo. Họ sẽ ý thức đầy đủ về đời sống trong Thần khí. Điều này đòi buộc rằng họ vừa là “những nhà lãnh đạo” vừa là “những hội viên”; họ thật là “cha”, nhưng cũng là “những người anh em”; là thầy dạy đức tin, nhưng cũng là môn đệ theo Đức Kitô; “họ là những bậc thầy về đường trọn lành cho các anh em, nhưng cũng là những chứng nhân bằng sự thánh thiện cá nhân của họ.”[279]

Sự tái sinh thiêng liêng của Tu hội lệ thuộc rất nhiều vào các giám đốc vốn tin vào những lý tưởng này và với ơn Chúa nhập thể chúng trong đời sống hằng ngày của họ.

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG 4

SINH ĐỘNG VÀ CAI QUẢN MỘT CỘNG THỂ GỒM NHỮNG CON NGƯỜI ĐƯỢC THÁNH HIẾN

 

Kinh nguyện, đời sống cộng thể, và việc tuyên khấn các lời khuyên phúc âm là những lãnh vực quan trọng liên hệ với nhau mà giám đốc phải lưu tâm đặc biệt.

Cha phụng sự Chúa qua và trong cộng thể và mục tiêu của cha là giúp cộng thể tăng trưởng trong ơn gọi Salêdiêng của mình để trở thành một môi trường trong đó mỗi hội viên có thể tăng trưởng và phát triển. Mỗi cá nhân trưởng thành theo đường lối riêng, cá biệt và độc đáo của mình, theo tính chất của mình, những ơn sủng nhận được, nhịp độ phát triển của họ, và sự trung tín của họ đối với tình yêu; nhưng họ trưởng thành trong cộng thể của họ.

Sinh động một cộng thể trên bình diện thiêng liêng tiên vàn không có nghĩa là tổ chức và ra chỉ thị cho cộng thể ấy; sinh động không phải là một kỹ thuật, nhưng đúng hơn là một tinh thần và thậm chí một nghệ thuật thiêng liêng. Nhiệm vụ hàng đầu của cha là khơi dậy nơi mỗi hội viên ý thức họ là ai; làm nổi bật những khả năng và đặc sủng của họ; giúp họ làm cho các nhân đức đối thần thành sinh động; đem lại ánh sáng và sự tươi mới cho những giá trị và động lực cơ bản của đời sống họ, những giá trị đôi khi bị cũ nát đi chút ít vì sử dụng.

Nói cách khác, cha phải tạo nên một môi trường và những điều kiện làm cho mỗi người Salêdiêng khi vâng phục ơn thánh, có thể trưởng thành trong căn tính ơn gọi của mình và đạt tới “sự kết hiệp với Thiên Chúa” cách sung mãn, vốn là nét đặc trưng của Don Bosco.

Cha nên đặc biệt chú tâm đến lãnh vực nào? Các Tổng Tu Nghị vạch ra rằng trong lãnh vực cầu nguyện có một khủng hoảng nghiêm trọng mà cùng lúc có thể được coi là một thách đố thật sự. Chúng ta được yêu cầu cải thiện phẩm chất của tâm nguyện khi đáp trả lại linh đạo của ơn gọi chúng ta.[280] Lời mời gọi đó nhắc nhớ chúng ta tới lời Don Bosco đã nói: “Cha thấy một nhu cầu lớn lao trong dòng chúng ta: cần phải bảo vệ Dòng khỏi bị khô cằn và suy thoái, bằng cách cổ xúy tinh thần đạo đức.”[281] Nhưng các Tổng Tu Nghị này cũng chỉ rõ rằng lối đường để tạo nên những điều kiện thích hợp hầu canh tân đời sống cầu nguyện là cải thiện phẩm chất đời sống cộng thể và nhấn mạnh phải làm cho sự cam kết tu trì thêm lớn mạnh.[282] Vì vậy những lãnh vực phải được nhấn mạnh là cầu nguyện, đời sống cộng thể và việc thực thi các lời khuyên Phúc Âm. Chúng liên đới và kết hợp với nhau để đem lại sự thánh thiện và hiệu năng tông đồ cho người Salêdiêng.

  • CẦU NGUYỆN

Trước tiên chúng ta sẽ xét đến cầu nguyện nói chung, rồi đến những hình thức cầu nguyện khác nhau. Chúng ta sẽ chú ý đầu tiên đến sự cam kết của chúng ta với Thiên Chúa và gặp gỡ cá nhân chúng ta với Ngài.[283] Rồi, liên kết với điều này, chúng ta sẽ bàn đến những lối cầu nguyện đã được canh tân mà phù hợp với tinh thần chúng ta và với não trạng của con người thời đại, nhất là giới trẻ ngày nay.[284]

1.1. Cầu nguyện nói chung

Tuy nhiên, cha có lẽ muốn định nghĩa cầu nguyện, thì cầu nguyện tiên quyết là một tặng phẩm. Cầu nguyện có nghĩa là đồng nhất với và thuận thảo cách huyền nhiệm với lời cầu nguyện của Đức Kitô ở trong chúng ta và với lời cầu nguyện của Thánh Thần cư ngụ trong chúng ta, và hằng “ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Abba, Cha ơi.”[285] Cầu nguyện có cội rễ trong nơi sâu thẳm cõi lòng chúng ta. Một người cầu nguyện sống trong tình bạn và tình yêu của Đức Kitô. Thực vậy, người ấy không thể sống thiếu Người.[286] Kinh nghiệm cầu nguyện có nghĩa là một cuộc gặp gỡ ý thức. Nó tạo nên sự rộng mở và trao hiến, và do đó một nhu cầu nảy sinh là bước đi trước nhan Đức Kitô, thông giao với Người bằng cách lắng nghe Người, cử hành việc tưởng niệm những hành vi cứu độ của Người và xin Người canh tân những hành vi ấy trong Giáo Hội và nơi từng cá nhân.[287]

Chúng ta, những người hoạt động, phải xác tín rằng mọi hành động đều nảy sinh từ vận hành mật thiết của cõi lòng mà nhờ đó Thiên Chúa kết hiệp chúng ta với Ngài.[288] Bằng cách này các hành động của chúng ta là hệ quả của Lời chúng ta đón nhận, Đấng mạc khải chính Ngài cho ta và của sự ưng thuận tự do bên trong mà chúng ta trao dâng cho Ngài. Chúng ta không chỉ đáp trả lại những kích thích tố đến từ môi trường, thậm chí cũng không phải một thứ xung động lực nào đó hay một ‘ý muốn phải hoàn thành’ mà không thể cưỡng lại được. Những trường hợp ấy là những trường hợp trong đó những động cơ thật ngoại tại và chỉ đem lại những hệ quả bên ngoài mà thôi.

1.2. Những khó khăn đến từ môi trường

Kinh nguyện quả là một tặng phẩm, nhưng là một tặng phẩm khó duy trì và phát triển. Có khi đơn giản là chúng ta không trung thành. Đôi khi chúng ta nhượng bộ, ít là tới mức nào đó, khi đối diện với những khó khăn thực sự.

Dĩ nhiên luôn có những khó khăn thông thường, nhưng cũng có vài khó khăn mới mẻ và rất nguy hiểm.

  • Thiên Chúa không còn lộ hiện nữa trong thành đô trần tục. Cầu nguyện không dễ gì khi Thiên Chúa dường như im lặng còn thế giới lại thật dửng dưng.
  • Là những tông đồ, ơn gọi đòi buộc chúng ta phải ở ngay giữa lòng thế giới và Giáo Hội, liên đới mật thiết với những gì đang xảy ra chung quanh: vui mừng và hy vọng, buồn phiền và khắc khoải.[289] Những vấn đề sau muốn vùi lấp chúng ta. Cầu nguyện có thực sự thay đổi bất cứ điều gì chăng? Liệu phục vụ anh chị em lại không đủ rồi và khẩn cấp hơn hay sao?[290]
  • Hàng bao thế kỷ và ngay cả suốt thời Don Bosco, nhịp điệu cầu nguyện thật đồng bộ và xứng hợp với nhịp điệu cuộc sống. Chúng tán thưởng và cổ xúy sự tăng trưởng thiêng liêng. Ngày nay chúng ta lại sống trong một xã hội đổi thay mau lẹ và sự ổn định mà chúng ta cần đến, lại đang bị đe dọa.
  • Nhiều ‘phong trào cầu nguyện’ mới mẻ đã ra đời; một số chắc chắn có giá trị và cũng thường khá lôi cuốn. Tự nhiên, chúng ta bắt đầu so sánh và làm cho một số Salêdiêng thâm tín rằng lối cầu nguyện của chúng ta nghèo nàn và không chân chính. Điều này đúng không? Hay có phải vấn đề của chúng ta là chúng ta vẫn không hiểu và không kinh nghiệm được sâu xa lối cầu nguyện rất đòi hỏi mà Don Bosco truyền lại cho chúng ta, song song với sự hấp dẫn và hữu hiệu của nó?
  • Cầu nguyện Salêdiêng có nguồn mạch giữa giới trẻ và phát triển trong sự thông hiệp với họ. Ngày nay tiếp xúc với người trẻ thì khó khăn hơn, ít liên tục hơn và đôi khi thoáng chốc mà thôi.
  • Trong cầu nguyện chúng ta phải đương đầu với sự căng thẳng luôn có giữa sự đều đặn và sự tự phát, giữa sự ứng biến và trật tự, giữa tự do và luật lệ, tự do và bổn phận. Đây là những thái cực lôi kéo đối ngược nhau và không dễ quân bình. Đây không chỉ thuần túy là vấn đề lý thuyết. Cha có thể tham dự một đàng vào những kinh nguyện lặp đi lặp lại, đã được định mẫu sẵn, và đàng khác, vào sự thử nghiệm liều lĩnh. Đây là vấn đề kết hiệp giữa vâng lời và sáng kiến, khôn ngoan và mới mẻ, phân định và kiên nhẫn.
  • Phong thái cầu nguyện Salêdiêng thực sự không đặt ra vấn đề gì trước Vatican II. Suốt toàn bộ thời gian này những cuốn sách chứa đựng các việc đạo đức là nguồn có thẩm quyền của kinh nguyện chúng ta. Có hai cuốn: Bạn đường của tuổi trẻ (Don Bosco đã nói trong Tổng Tu Nghị đầu tiên, 1877: “Chúng ta hãy theo đó”) và thủ bản Các Việc Đạo Đức dùng trong các Nhà Salêdiêng do cha Albera ban hành năm 1916.

Không có chống đối nào với lệnh của cha Albera, vẫn được các Đấng Kế Vị nhắc lại là tuân hành tỉ mỉ các bản văn chính thức này và không làm bất kỳ thay đổi nào cả. Với đôi chút thay đổi, thế giới Salêdiêng đã đồng thanh cầu nguyện. Nhưng rồi số lượng, phẩm chất và sự đồng nhất trong kinh nguyện của chúng ta chịu thay đổi mau lẹ. Việc cải cách của Giáo Hội không nhằm giảm thiểu số lượng kinh nguyện.

Người ta đào thải những gì cổ hủ, lỗi thời hay nặng nề dư thừa, song lại nhấn mạnh đến chiều sâu và phẩm chất tinh ròng hơn. Người ta có thể nói được rằng thực sự người Salêdiêng ngày nay có cầu nguyện theo cách thức Don Bosco muốn không?

  • Mỗi kỷ nguyên tạo ra phong thái cầu nguyện riêng của mình. Trước Vatican II, người Salêdiêng không chất vấn đời cầu nguyện của mình. Nhưng rồi họ nhận thức lối cầu nguyện truyền thống không còn tương ứng với những đòi hỏi mới nữa và rằng thúc đẩy họ cầu nguyện bằng cách trích dẫn luật lệ thì không đầy đủ nữa. Thanh thiếu niên tự đông bị hút về nơi nào có sự sống. Ta phải tái khám phá, canh tân và thúc đẩy cầu nguyện hầu ta nhận thấy cầu nguyện là sinh tử. Đời sống cầu nguyện là một thực tại của đức tin. Nó chính là sự sống của Con Thiên Chúa. Một cảm thức sáng tạo đi tìm kiếm những hình thức cầu nguyện mới là một điều tốt, nhưng đấy không phải là yếu tính của canh tân.
  • Tóm lại, có một số khó khăn đặc thù không được coi nhẹ: những cộng thể hoặc quá phức tạp hoặc quá bé nhỏ; những hội viên quá độc lập hay quá cố định.

Như cha thấy, cầu nguyện là một tặng phẩm nhưng khó khai triển và làm thành thiết thân với đời sống của chúng ta để ta nắm chặt lấy nó.

Cha sẽ ghi nhận rằng khi ý thức về cầu nguyện như một hồng ân bắt đầu phai nhạt, thì có một khuynh hướng nhấn mạnh đến khía cạnh bó buộc của cầu nguyện. Khi người ta coi cầu nguyện chính yếu như một trách vụ buộc ta phải thực thi, chúng ta dễ dàng rơi vào vụ hình thức. Chúng ta phải thắng vượt mối nguy hiểm này và cảm nhận được thúc đẩy do tầm quan trọng nội khởi của cầu nguyện.[291] Cha phải là người đầu tiên xác tín về điểm đó.

Don Bosco nhắc nhớ cho cha: “Trong vấn đề có tầm quan trọng hơn, hãy nâng lòng lên cùng Chúa trong giây lát trước khi quyết định.”[292] Cầu nguyện “hoàn thành mọi sự và chiến thắng trong mọi hoàn cảnh.”[293] Cầu nguyện là công việc tốt nhất trong mọi công việc. Cha Ceria miêu tả cho chúng ta như sau về đời cầu nguyện của các giám đốc Salêdiêng tiên khởi: “Họ cầu nguyện rất nhiều và sốt mến. Họ rất lo cho những người khác cũng cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng. Dường như họ không thể nói, thậm chí một ít lời nơi công cộng hay tư riêng mà lại không bàn đến cầu nguyện. Tuy thế không ai trong họ, ngay cả cha Rua, có vẻ có bất kỳ ân điển lạ thường nào về cầu nguyện. Chúng tôi thường thấy họ chỉ thực hành trong tất cả sự đơn giản các việc đạo đức theo như Hiến luật và truyền thống mong đợi ở họ. Nhưng họ đã tỏ ra chuyên chăm biết bao trong các cuộc gặp gỡ của họ với Thiên Chúa! Và ngay cả khi nói về những đề tài khác biệt nhau nhất, họ đưa đức tin vào một cách rất tự nhiên. Họ đã sống với Don Bosco nhiều năm và điều ấy để lại dấu vết không phai nhòa nơi lòng họ.”[294]

Như Don Bosco, họ sống trong một bầu khí bạn hữu với Thiên Chúa. Họ trò chuyện với Ngài như những người con. Và điều ấy có nghĩa rằng cầu nguyện là một cái gì bộc phát trong đời sống họ. May thay, truyền thống cầu nguyện này còn tiếp tục nơi các giám đốc ngày hôm nay. Nhưng nó cần được củng cố và không ngừng canh tân, bởi vì các hoàn cảnh đã làm cho nó trở nên khó khăn hơn, và đàng khác, khi thiếu nó, thì cá nhân hội viên lẫn cộng thể chịu thiệt thòi. Cha phải là người thứ nhất xác tín rằng nếu cha không có và không phát triển tặng phẩm cầu nguyện Salêdiêng, cha sẽ không có gì để cho hội viên cả.

 

1.3. Cá nhân và cộng thể cầu nguyện

Hiến luật chúng ta nói về người Salêdiêng “luôn canh tân ý thức của họ về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong đời sống họ. Họ chỉ có ít việc đạo đức, nhưng họ cầu nguyện không ngừng theo cách Don Bosco kết hiệp với Thiên Chúa qua đối thoại đơn sơ và thân tình với Đức Kitô hằng sống, với Chúa Cha mà họ ý thức Ngài hằng ở gần bên, với Đức Maria là Đấng Phù Hộ.”[295]

Sự chú ý đặc biệt đến người Salêdiêng cầu nguyện là một nguyên tắc quan trọng nhất là khi người ta xét nó cùng với việc nhấn mạnh mà đôi khi người ta có đối với việc tìm ra những công thức và kỹ thuật hữu dụng. Đây là một sự kiện rằng nếu trong cộng thể cha có những người Salêdiêng thực sự cầu nguyện, cha có những kinh nguyện sốt sắng. Nhưng chỉ nguyên sự kiện là có các lời kinh được soạn thảo kỹ càng, sẽ không bao giờ sản sinh ra một người Salêdiêng cầu nguyện được. Điều này chạm đến cộng thể sâu xa: Không thể thành lập được một cộng thể cầu nguyện đúng thực nếu cá nhân các phần tử của cộng thể ấy không là những người cầu nguyện. Cộng thể sẽ không là “một thực thể sống động được.”[296]

Bởi thế đây là mục tiêu khẩn thiết và thực tiễn trước tiên của cha:

  1. Cải thiện thái độ thiêng liêng của các hội viên đối với cầu nguyện

Mới đây một tài liệu rất giá trị đã được tìm thấy trong công hàm của chúng ta. Nó mang tựa đề: “Thời khóa biểu hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng, hằng năm và cuộc sống của người Salêdiêng linh mục.” Nó là bản viết tay của cha Bonetti và được viết vào khoảng giữa 1870-1877. Nó được nhắm dùng như một phác họa cho một số ít các giám đốc của Tu hội trong thời gian ấy. Đó là một thời khóa biểu của một kỷ nguyên khác, nhưng ta không thể không bị đánh động do một khoảng lớn được dành cho cầu nguyện dưới nhiều hình thái khác nhau trong đời sống của các giám đốc tiên khởi khi chính họ phỏng theo gương Don Bosco. Nó khiến ta suy nghĩ sâu xa hơn về sự kiện là Don Bosco trước khi “tổ chức” các việc đạo đức, đã dạy các con cái mình thưởng nếm được cầu nguyện suốt một thời gian trên 20 năm và trong một bầu khí tự do và trách nhiệm. Làm thế nào để chúng ta có thể xây dựng lại một lần nữa “sự cảm nếm cầu nguyện” trong bầu khí tự do?

Cầu nguyện là một điều mà ta buộc phải học để thực hiện. Cầu nguyện là một tặng phẩm của Chúa; nhưng nó cũng là kết quả của học tập: “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện.”[297] Vị Thầy duy nhất của cầu nguyện là Chúa Thánh Thần, hiện diện trong chúng ta. Tuy nhiên, thật cần thiết có một khoa sư phạm về cầu nguyện bởi vì Chúa Thánh Thần đòi ta cộng tác và nỗ lực. Khoa sư phạm này đồng một lúc là một nghệ thuật và trường sống, lại không mấy dễ dàng. Có rất ít sách thực sự dạy ta cầu nguyện, thậm chí khi chúng có giá trị đi nữa, chúng vẫn thường ở lại trên bình diện trừu tượng. Người ta học cầu nguyện bằng cách cầu nguyện. Là thầy dạy và người sinh động cầu nguyện, cha phải đề xướng một số thái độ và xác tín cũng như một số điều kiện bên ngoài.

  • Thanh luyện cõi lòng

“Những người có tâm hồn trong sạch sẽ nhìn xem Thiên Chúa.” Thiên Chúa là “Thần khí và là sự sống.” Để đạt tới Ngài, ta phải trở nên thiêng liêng và sống thái độ thống hối vốn là nét tiêu biểu của Kitô giáo.

Hội viên của cha sẽ không đi trên đường cầu nguyện nếu trước hết họ không theo con đường tu đức vốn cất đi mọi chướng ngại có trên con đường kết hiệp với Thiên Chúa. Họ trước hết phải đạt tới mức độ hữu vị nào đó của sự kết hiệp với mầu nhiệm thập giá. Cầu nguyện là một hành vi thiêng liêng nội tâm, còn chúng ta lại thông thường hơn hướng về những việc bên ngoài. Hơn nữa tự bản tính chúng ta lười biếng, và đôi khi cũng do thói quen. Cầu nguyện đòi ta hy sinh bản tính lười biếng của mình. Chúng ta dễ dàng quen thói hời hợt, chia trí và lơ đãng. Thật khó cầu nguyện nếu ta mệt nhọc hay ốm yếu, hoặc bầu khí hay môi trường không thích hợp. Chúng ta cũng đừng quên sự tấn công của quỉ dữ, những thử thách Chúa gởi đến, tình trạng khô khan và những mong chờ hão huyền chúng ta có thể có.

  • Sự “thinh lặng của toàn con người”[298]

Thinh lặng giúp ta có thể nghe được tiếng Chúa và đồng nhất với chương trình cứu độ của Ngài. Một số thời gian im lặng lâu dài là lối cầu nguyện đẹp nhất: Thiên Chúa nói cho ta; Ngài cho phép ta lắng nghe tiếng Ngài và những đòi hỏi của Ngài.

  • Cầu nguyện kéo theo tình yêu đối với Đấng hiện diện nơi chúng ta hầu ban chính mình Ngài cho ta, và làm cho ta đồng hình đồng dạng với hình ảnh của Ngài là Người Con đang cầu nguyện với Cha mình, và mời ta theo ngài trên cùng một lối đường. Thánh Catarina thành Siena viết: “Bạn có thể đòi hỏi một người như họ yêu mến, không hơn nữa.” Tình yêu cũng như sự mong đợi im lặng này không đòi hỏi Thiên Chúa phải nhanh chóng đáp lời, kính trọng sự tự do vô biên của Thiên Chúa, sự có vẻ vắng mặt của Ngài, sự thinh lặng huyền nhiệm của Ngài.
  • Chấp nhận ý Chúa. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu thường nói: “Tôi yêu mọi việc Chúa làm.” Cầu nguyện sẽ không bao giờ chân chính nếu nó không được cảm nhận và ước ao như là một giá trị then chốt trong những chương trình của ta và trong việc phục vụ tông đồ ta được kêu gọi tới. Nó là một hy tế thiêng liêng nghĩa là ý muốn hiến dâng cả bản thân ta qua công việc, những niềm vui nỗi buồn.
  • Cầu nguyện đòi hỏi một động lực sâu xa dựa trên học hỏi vững chắc, cập nhật với mục đích rõ ràng là tránh sự không vững chắc và lẫn lộn về phương diện giáo lý. Hiểu biết tốt đẹp về Lời Chúa thật cần cho cầu nguyện, và bù lại cầu nguyện được nuôi dưỡng bằng một đức tin trưởng thành và bằng việc cá nhân đọc sách và học hỏi. Loại học hỏi này giúp hội viên đã mất đi hương vị cầu nguyện, tra vấn những thái độ của mình khi đối diện với những kinh nghiệm sống động của cầu nguyện.

Ngày nay khuyết điểm nổi bật nhất là sự hời hợt. Chúng ta không thể trải qua một giai đoạn đổi thay văn hóa mà không suy tư sâu sắc. Sự hời hợt không bao giờ mang lại niềm vui của cuộc gặp gỡ Thiên Chúa.

  • Thực hành lâu dài. Cầu nguyện là cuộc thao dượt kéo dài mãi mãi. Khi trích lại câu nói nổi tiếng của thánh Phaolô, Don Bosco thường nói: “Exerce teipsum ad pietatem.” Cầu nguyện không phải là một trong số ít việc người ta có thể làm cách vội vã được. Cầu nguyện là một trách vụ chín chắn, tức là hoa trái của ân sủng, tập luyện và thời gian.
  • Những thời gian đầy đủ. Cha phải phân phối công việc cho thích đáng nếu cha sẽ cống hiến cho các hội viên thật sự có thể cầu nguyện. Có những dòng hoạt động đã cắt bớt công việc mà các tu sĩ phải làm để họ được nghỉ ngơi đầy đủ hầu hiến mình cho việc cầu nguyện và học hành chân thực. Chính Giáo Hội đòi hỏi việc này: “Trong nhịp độ đôi khi làm kiệt sức của những bổn phận tông đồ, ta phải dành ra những khoảng thời gian dài đủ và được hoạch định tốt đẹp để cá nhân và cộng thể cầu nguyện, dựa theo hàng ngày và hàng tuần. Những khoảng thời gian này sẽ được hoàn tất do những kinh nghiệm đặc biệt của hồi tâm và cầu nguyện hàng tháng và suốt năm.”[299]
  • Những người sinh động cầu nguyện

Hãy có ít là một hội viên trong cộng thể đảm trách việc sinh động đời sống cầu nguyện của cộng thể. Người đó phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, được cập nhật và cha phải giúp đỡ người ấy, bởi vì cha vẫn luôn là người chịu trách nhiệm trước nhất về đời sống cầu nguyện của cộng thể.

Cầu nguyện đòi sáng tạo, uyển chuyển và thích nghi với những con người và môi trường, và tất cả điều ấy kéo theo phải chuẩn bị xa và gần cũng như phải cam kết và hy sinh. Nhưng cha không thể làm mà không có điều ấy. Ngày nay không còn chỗ cho những ngẫu hứng dễ dãi, và ngớ ngẩn nữa, cho việc cử hành gây nhàm chán vì đầy dẫy những việc lập đi lập lại đơn điệu và hoàn toàn thiếu sinh lực cùng nhiệt huyết. Không thiếu những trợ giúp thích hợp, kể cả những thủ bản cầu nguyện khác nhau đã được xuất bản kể từ sau Tổng Tu Nghị Đặc Biệt.

Tuy nhiên, cha phải nhớ là cầu nguyện can dự tới toàn thể cuộc sống và cả đời sống can dự tới cầu nguyện. Không có mối tương quan này, cầu nguyện chỉ trở thành một trong nhiều việc thực tiễn ta phải làm hằng ngày mà thôi.[300]

Như thái độ thiêng liêng (hay như Don Bosco gọi “tinh thần đạo đức”) được cải thiện nhờ các phương thức này, thì việc cầu nguyện cá nhân và cộng thể cũng buộc phải cải thiện; cả hai đều cần thiết.[301]

  1. Cầu nguyện cá nhân[302]
  • Khi Don Bosco viết trong bản Hiến luật dự thảo đầu tiên[303] – và rồi trong tất cả những ấn bản kế tiếp[304] – rằng vì cuộc sống vất vả của mình, người Salêdiêng “không thể có nhiều kinh nguyện chung được,” ngài như muốn ngầm nói rằng ngài ký thác phần lớn đời sống cầu nguyện của họ cho trách nhiệm cá nhân.

Các người Salêdiêng đầu tiên, ngoài cầu nguyện chung với các thanh thiếu niên, cũng cầu nguyện riêng rất nhiều, hoặc đó là những kinh nguyện thuần túy tự chọn hay những kinh nguyện được thực hành bởi vì họ là tu sĩ, chẳng hạn nguyện ngắm (chỉ được đưa vào năm 1874-1875 như thành phần của kinh nguyện cộng thể) và đọc sách thiêng.

Điều này hiển nhiên từ những lời của Don Bosco trong khoản Hiến luật kể trên: “Các hội viên sẽ tìm cách bù lại bằng gương sáng”: đối với vị thánh, điều này có nghĩa là sự ganh đua, tình yêu huynh đệ, tinh thần gia đình, và toàn bộ những hoạt động Kitô hữu: theo lối nói tu viện xa xưa chúng luôn luôn là nguyên nhân và hậu quả của đời sống cầu nguyện. (“Nếu các thầy dòng thương mến nhau nhiều, thì đó là dấu hiệu rằng họ cầu nguyện sốt sắng và nếu họ cầu nguyện sốt sắng thì đó là dấu họ mến thương nhau.”) Và Don Bosco tiếp tục: “bằng việc chu toàn hoàn hảo những bổn phận của họ là những Kitô hữu”: diễn ngữ này qui chiếu tới đời sống phụng vụ và bí tích cũng như tất cả các việc tuân giữ luân lý và các việc đạo đức rất nhiều vào thập niên 1900.

Kinh nguyện Salêdiêng không bao giờ mất đi tinh thần và sự tự do của lúc ban đầu. Don Caviglia thường nói: “Mỗi người Salêdiêng đều có đời sống cầu nguyện riêng của mình”. Và chúng ta có thể thêm rằng các người Salêdiêng luôn cầu nguyện nhiều hơn là họ buộc phải làm. Theo Hiến luật mới, “Chúng ta cầu nguyện không ngừng.”[305]

  1. Cầu nguyện cộng thể[306]

Nếu cha chú trọng đến cầu nguyện cá nhân thì gián tiếp cha đồng thời đánh giá đầy đủ cầu nguyện cộng thể và ngược lại. Quả vậy cầu nguyện cá nhân thì cần thiết nếu cầu nguyện cộng thể, nhất là cầu nguyện theo phụng vụ, thực sự sinh hoa quả. Nó là sự chuẩn bị bất khả thế để sống phụng vụ cách sung mãn, và đồng thời nó kéo dài hay chứng thực đã sống phụng vụ cách chân thực.[307] Hai loại cầu nguyện này bổ sung cho nhau.

Dĩ nhiên có những khác biệt. Cầu nguyện cá nhân được dâng lên nhân danh Đức Kitô và do những phần tử của Giáo Hội. Cầu nguyện này thì tự do hơn, tự phát hơn và mật thiết hơn. Còn cầu nguyện cộng thể thì chính thức hơn, được cơ cấu hơn theo hình thức và nội dung, có tính Giáo Hội hơn do bởi dấu chỉ là sự hội họp. Lối cầu nguyện trước nhằm trở thành loại cầu nguyện được nội tâm hóa nhiều hơn, trong khi lối cầu nguyện sau lại nhắm là khách quan và xã hội hơn, tức là một lời cầu nguyện biểu thị Dân Chúa nói chung. Chúng ta biết rằng sau Vatican II và cuộc canh tân phụng vụ, cầu nguyện cộng đoàn khôi phục lại tính ưu tiên trước kia của mình, không phải chỉ vì những ảnh hưởng của nền văn hóa mới vốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tính duy nhất và cảm thức thuộc về một nhóm, nhưng còn bởi vì nó đảm bảo cho chúng ta sự hiện diện đặc biệt của Chúa. Người nói: “Vì ở đâu có hai ba người họp lại , thì có Thầy ở đó, giữa họ.”[308] Nhưng nên ghi nhận rằng không có cầu nguyện cộng thể chân thật, nếu những người làm thành cộng thể không ý thức sâu sắc về sự hiệp thông giữa họ vốn dẫn đến cam kết và hành động. Ta đã nói rằng không có con người cầu nguyện thì không có cộng thể cầu nguyện; tuy nhiên, một cộng thể cầu nguyện thật sự chân chính còn đòi hỏi nhiều hơn việc các phần tử của cộng thể ấy phải là những người cầu nguyện. Vì lẽ này, các tài liệu nhằm canh tân chúng ta, rõ ràng mời gọi các người Salêdiêng “tái khám phá giá trị không thể thay thế được của cộng thể trong đời sống cầu nguyện.”[309] Lời khích lệ này có một số hệ quả. Giữa những điều khác, nó buộc cha phải hướng dẫn các hội viên đến một bước nhảy vọt thật sự về phẩm chất. Thế nhưng trừ một số luật trừ đáng khen, các hội viên lại được chuẩn bị khá tồi cho điều ấy. Cầu nguyện của các cộng thể chúng ta, bất chấp có những nguyên nhân nào chăng nữa, nhắm đến là tổng số những lời cầu nguyện cá nhân nhiều hơn là một lời cầu nguyện được hiệp nhất.

Chúng ta cầu nguyện và chúng ta có thể cầu nguyện khá nhiều khi chúng ta ở cùng với nhau; nhưng hiếm khi ta cảm nghiệm được sự hiệp nhất đang rung lên trong cộng thể, ‘một lòng một trí’ mà thánh Luca đã nói đến.

Nếu cộng thể của cha thành công trong việc trở thành một cộng thể cầu nguyện chân thật bởi sự đồng qui và sự hiệp thông giữa các phần tử cá nhân đối với các giá trị nền tảng của đời tu, cha sẽ không cần đặt tầm quan trọng vào các áp lực tâm lý và xã hội vốn thường ảnh huởng đến một nhóm xã hội; nhưng không biết đến chúng sẽ thật là ấu trĩ.

Trong bối cảnh này chúng ta hãy vắn gọn khảo sát vấn đề tế nhị là các khuynh hướng có tính chất cảm xúc. Cha biết rằng trong Giáo Hội hôm nay đã bừng dậy nhiều nhóm cầu nguyện. Một số nhóm gồm các tu sĩ, một số nhóm thì không. Các nhóm ấy có một lối tiếp cận mang tính cảm xúc mãnh liệt. Những cộng đoàn như thế cũng đã có trong Giáo Hội sơ khai về vấn đề này.

Đối với cầu nguyện ta không thể nào bỏ đi toàn bộ nội dung tình cảm, nhưng làm thế nào khía cạnh cảm xúc có thể hòa hợp thích đáng trong kinh nguyện của chúng ta? Nó đóng một vai trò tích cực. Nhiều năm trước đây vai trò của nó chỉ bé nhỏ hay đã bị dồn ép coi như một phản ứng đối với thứ đạo đức tình cảm (hay chủ nghĩa sùng mộ, pietism) hoặc đối với việc quá nhấn mạnh đến tâm lý. Ngày nay thì toàn diện con người phải diễn đạt chính mình trong toàn thể tính của họ bởi vì cả con người họ, tức con người thể xác và xã hội của họ, cầu nguyện.

Chúa Giêsu đã nêu gương cho ta. Người cầu nguyện với trọn cả con người mình. Khi Người cầu nguyện, ta thấy Người bộc lộ tất cả những tình cảm của mình: Người khóc, rúng động, hân hoan… Cộng thể cầu nguyện tại Valdocco và cả kinh nguyện cá nhân đã được đặc trưng bằng sự nồng ấm nhân loại.

Khuynh hướng cảm xúc này không mấy dễ biểu lộ trong các cộng thể có đa số hội viên lớn tuổi, đang khi đó trong những cộng thể gồm phần đa là những hội viện trẻ trung hơn, khuynh hướng này lại bộc phát cách rất tự nhiên và đôi khi đầy hứng khởi. Cha phải lo liệu sao để cho những khuynh hướng chỗ đứng thích đáng, nhưng không nhấn mạnh chúng tới trở thành duy tình cảm.

1.4 Các kinh nguyện

Để cứu vãn phẩm chất kinh nguyện của mình, ta cần một sự tái sinh thiêng liêng thật sự chứ không chỉ một sự tái cấu trúc suông mà thôi.

Cha phải thấy rằng Lời Chúa liên lỷ được qui chiếu đến như một giá trị tuyệt đối đối với mọi hình thức cầu nguyện, dù cá nhân, cộng đoàn hay phụng vụ. Điều này đúng đến nỗi “sống Lời Chúa” xuất hiện như lối đường phải theo trong mọi hình thức cầu nguyện.

  1. Sống Lời Chúa[310]

Sự kiện chúng ta không thành công đối với một số hình thức cầu nguyện, sự kiện chúng ta thấy những hình thức ấy khó khăn và ngay cả chúng ta cảm thấy chúng rỗng tuếch và hầu như vô ích; điều ấy có thể là vì tận căn chúng ta thiếu quen thuộc với Lời Chúa. Thiên Chúa nói với chúng ta và khi nói, Ngài trao ban chính mình cho ta. Lời Ngài thông truyền điều Ngài là và đạt tới thế giới nội tâm của chúng ta như một thách đố mà ta phải gánh vác và đáp trả.

Lời Chúa là thực, sống động và hiệu lực. Thánh Augustinô viết rằng Thiên Chúa không tạo ra các lời rồi rút lui đi mất; lời Ngài, một khi được Ngài tạo nên, tiếp tục ở trong Ngài. Kinh nghiệm mục vụ gắn kết chặt chẽ với việc lắng nghe Lời Chúa là lời có vô vàn ứng dụng thực tiễn. “Phúc cho những ai lắng nghe Lời Chúa”.

Khi phục vụ cộng thể, cha phải ý thức rõ về những thời khắc then chốt mà Lời Chúa được lắng nghe. Nhờ thế cha sẽ có thể cổ xúy chúng như những mục tiêu và những phương thế để cha thực thi trách vụ sinh động.

  • Trước tiên nhất thiết phải sẵn sàng lắng nghe Lời Chúa, đặc biệt nếu ta phải thông truyền lời ấy cho kẻ khác. Ngôn sứ không phải là kẻ nói nhiều, nhưng là người say mê lắng nghe.
  • Sau khi lắng nghe Lời Chúa, ta phải nắm giữ lấy, vui sướng vì Lời ấy, trở nên thân thiết với Lời và hấp thụ Lời. Lời sẽ liên lỷ mạc khải cho ta sự mới mẻ và làm ta ý thức rằng sẽ không bao giờ ngừng có được những trực giác mới mẻ về Lời Chúa.

Nếu một người thưởng nếm Lời và lắng nghe Lời với tất cả tâm tình trong một thái độ vâng phục, Lời sẽ thấm nhập vào tận tâm khảm của người đó. Chỉ khi đó Lời mới được trở nên cấu tố toàn diện cho sự hoán cải của người đó. Người ấy sẽ có được cảm thức về Thiên Chúa và một trực giác vào thực tại đời sống.

  • Cuối cùng Lời Chúa trở nên tác động trong các biến cố đời sống và trong công việc hằng ngày của ta. Ta mang nó lại, có thể nói, cho Thiên Chúa vì chính nhờ Ngài mà ta biết sử dụng tốt các tài năng để đạt được kết quả.

Không có gì trong những điều trên xa lạ với những người Salêdiêng hôm nay. Mọi kitô hữu được Giáo Hội mời gọi sống như thế. Nó không mấy khác biệt với sự kiện là Don Bosco đã tìm kiếm và thích nghi các việc đạo đức mà ngài đã thấy được đề xuất và qui định nơi các sách giáo lý địa phận hay nơi huấn quyền hay trong các sách về việc tôn sùng. Đây là việc đạo đức ghi dấu các ngày, tuần, tháng và năm trong các nhà gần theo một cách thức giống như phụng vụ vậy.

Cha không cần nghĩ rằng các điều trên sẽ đòi các hội viên một số lớn giờ giấc phụ trội đâu. Thời giờ họ dành cho Lời Chúa sẽ là thời giờ Hiến luật qui định như thời giờ của kinh nguyện, cộng thêm ít giai đoạn họ có thể chọn lựa cho mục đích này. Tuy nhiên tận căn đó không phải là vấn đề tìm thời giờ để dành cho Lời Chúa, mà là vấn đề có được một loại thái độ thiêng liêng vốn làm cho những hình thức cầu nguyện khác nhau thành khả thể và hiện thực.

  1. Những hình thức cầu nguyện Salêdiêng

Với chữ “hình thức” ta không nói đến một kiểu cơ cấu cầu nguyện đã được quyết định trước trên bình diện lý thuyết trong những khuôn khổ mà kinh nguyện cá nhân của ta bị buộc phải khít vào. Hình thức cầu nguyện phát triển cùng với thái độ của người cầu nguyện, như là một sự chuyển biến của ân sủng trong khi tiếp chạm với con người và hoàn cảnh.

Cha nên nhớ kỹ sự khác biệt giữa những yếu tốhình thức cầu nguyện. Yếu tố là thành phần nòng cốt của bất kỳ kinh nguyện Kitô hữu nào. Thí dụ, có một yếu tố cá nhân luôn thiết yếu hiện diện trong mọi cách cầu nguyện Kitô hữu. “Hình thức” là kinh nguyện xét trong toàn thể của nó và được đặc trưng hóa do sự trổi vượt của một số yếu tố. Ví dụ có việc cầu nguyện cá nhân trong đó sáng kiến của mỗi cá nhân chiếm phần chủ yếu. Ta không nên nghĩ các hình thức cầu nguyện tận căn đối kháng nhau, bởi vì như vậy chúng loại bỏ hay xao nhãng yếu tố không chủ trị nhưng vẫn là thiết yếu đối với chúng.[311]

Don Bosco là mẫu gương của lòng đạo đức đơn sơ, cụ thể và sâu xa. Ngài sống phụng vụ đời sống bằng việc hoàn toàn tận hiến mình để phục vụ giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi. Và ngài muốn các môn đệ ngài sống theo lối đường ấy.[312] Đường nét thiêng liêng này khiến các Tổng Tu Nghị của chúng ta ưa chuộng hơn những hình thức cầu nguyện đến với chúng ta cách tự phát nhất; nghĩa là những hình thức tương hợp với kinh nghiệm thiêng liêng của chúng ta nhất.

  1. Hình thức cầu nguyện cá nhân

Cha đã quen với chúng rồi: nguyện ngắm, kết hợp với Chúa, các việc tôn sùng, lòng sùng kính Thánh Thể và Mẹ Maria cùng các hình thức khác được miêu tả chi tiết trong các thủ bản đạo đức khác nhau được dùng trong các nơi chúng ta hoạt động. Chúng là thành phần của gia sản chúng ta.

Cha hãy giúp các hội viên quí trọng những hình thức này như là những diễn đạt một loại đạo đức vốn là thành phần của nhiệm cục cứu độ khi nó được sống theo ánh sáng của mầu nhiệm vượt qua; bởi lẽ mầu nhiệm vượt qua hàm ẩn giao ước, sự gặp gỡ và sự dâng hiến được diễn tả theo những hạn từ phù hợp với những nơi chốn và văn hoá khác nhau. Chúng ta, các Salêdiêng không xao nhãng những hình thức cầu nguyện đặc trưng này, bởi chúng ta có một đặc sủng truyền giáo và một sứ mệnh cho giới bình dân. Chúng ta kể ra một số hình thức cầu nguyện này mà xem ra hữu hiệu nhất cho cầu nguyện cá nhân cũng như hoà hợp với nền linh đạo của chúng ta, theo truyền thống và sự canh tân liên tục của chúng ta.

Truyền thống chúng ta được khẳng định rõ trong khoản Hiến luật 64 nói nguyện ngắm “đối với chúng ta là hình thức nòng cốt của cầu nguyện cá nhân.”[314] Chính Don Bosco cảm thấy tâm nguyện cần thiết cho ngài và ngài đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nó khi đề nghị các hội viên nên chuẩn bị nguyện ngắm từ tối hôm trước bằng cách bớt đi những hoạt động bên ngoài và nuôi dưỡng một tinh thần hồi tâm.[315] Cha Rinaldi quả quyết với chúng ta rằng đó là phong cách của Don Bosco: “Bất cứ khi nào tôi gặp ngài vào giờ đó, tôi thấy ngài, đôi tay chắp lại trong cầu nguyện và suy ngắm.”[316] Ngài coi đây như là nhu cầu nền tảng của Tu hội: “Trong việc làm cho Tu hội được thiết lập vững chắc, lòng đạo đức tương xứng là viên đá góc cho tòa nhà dòng tu; và trong lãnh vực lòng đạo đức có hai việc quan trọng tột bực: tĩnh tâm năm và nguyện ngắm hằng ngày.”[317]

Cha Rinaldi quả quyết: “Người Salêdiêng liều mình trở thành chỉ như người thợ tầm thường trong công việc của họ, trừ phi họ nguyện ngắm và nguyện ngắm sốt sắng.”[318]

Những người Salêdiêng chúng ta nguyện ngắm chung và ở một nơi thích hợp. Bắt đầu với những kinh dẫn nhập vắn gọn, sau “ít là nửa tiếng”[319] họ kết thúc nguyện ngắm với kinh dâng mình cho Mẹ Maria Phù Hộ các giáo hữu.

Hoa quả của nguyện ngắm giúp ta hiểu nó thiết yếu biết bao: “Nguyện ngắm nuôi dưỡng sự kết hiệp mật thiết của ta với Đức Kitô và với Thiên Chúa, gỡ chúng ta ra khỏi thói chiếu lệ, giữ lòng chúng ta được tự do và nuôi dưỡng việc tự hiến của chúng ta cho đồng loại. Đối với Don Bosco, đây là bảo đảm cho sự bền đỗ tươi vui trong ơn gọi.”[320]

Nguyện ngắm mang những lời và mầu nhiệm của Thiên Chúa vào lòng trí chúng ta hầu biến chúng thành những nguyên lý và kích thích tố thiêng liêng. Nguyện ngắm làm ta có thể cắt nghĩa các hoàn cảnh và sự kiện trong ánh sáng chân lý của Chúa. Dựa trên các chân lý được hấp thụ, nó khơi dậy các quyết định thực tiễn và cũng chuẩn bị con đường vươn tới chiêm niệm.

Như cha có thể thấy rõ, nguyện ngắm thật thiết yếu cho ý thức mục vụ, xây dựng và nuôi dưỡng nó; và đây là lý do khác nữa tại sao Don Bosco coi nguyện ngắm thật tối quan trọng.

  • Cầu nguyện và các thăng trầm thường nhật

Đây là một hình thức cầu nguyện có một vị trí đặc biệt trong gia sản thiêng liêng của chúng ta. Mọi kinh nguyện Kitô hữu chân chính đều ôm trọn toàn cuộc sống của người cầu nguyện. Cũng vậy, cuộc sống thường nhật của các hội viên, những sự việc họ bàn luận, những biến cố họ tiếp xúc, là một môi trường rất thực và rất ý nghĩa nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện của họ. Cha hãy nhớ lại các Salêdiêng thời xa xưa. Họ thường đọc danh sách gồm các thanh thiếu niên đã gây cho họ nhiều vấn đề trong những lần đi viếng Thánh thể hằng ngày.

Lối cầu nguyện này đến cách tự nhiên. Nó là phần của một hoàn cảnh biệt loại và nó rút lấy nội dung và dạng thái diễn dạt từ trạng huống ấy. Nó có thể thưa chuyện về nhiều đề tài khác nhau mà rồi trở thành một cơ hội để họ cầu xin ánh sáng, dâng lời ca tụng và tạ ơn. Cha có lẽ nghĩ rằng các câu chuyện thường nhật không đáng kể gì so với các biến cố xã hội và lịch sử lớn lao, nhưng qua cầu nguyện cha có thể phân định giá trị của chúng và ý thức sự kiện này là bất kỳ một trạng huống nào cũng có thể trở thành đề tài để cầu nguyện, nếu cha chuyển đổi nó thành một kinh nghiệm đối thần. Don Bosco nói: “Hãy làm đức tin của con phấn chấn lên, đó là cốt yếu để hiểu và chu toàn lòng đạo đức.”[321] Sống trên bình diện đối thần can dự tới việc hiểu thấu ý nghĩa cơ bản và cứu cánh của các sự việc xảy ra theo Thiên Chúa.

Nhưng cha phải nhắc nhớ các hội viên rằng lối cầu nguyện này đòi hỏi nhiều khổ chế, dầu có được lợi điểm là liên kết mật thiết với thực tại. Ta phải tránh lối tiếp cận quá cảm xúc trong hình thức cầu nguyện này. Cha phải giúp cộng thể của cha vượt xa hơn những dáng vẻ suông của các hoàn cảnh mà có thể là ngoạn mục, gây khó chịu hay thích thú. Họ phải có thể vượt xa những giải thích dễ dãi mà người ta thông thường mặc cho các biến cố. Cha phải giúp họ thắng vượt nhãn quan hẹp hòi về các sự vật do tính ích kỷ gây nên. Những con người qui kỷ thích phê bình mọi sự và không bao giờ chân nhận khuyết điểm của mình. Họ không rộng mở để tìm kiếm ý Chúa cách chân thành và vô vị lợi, cũng không sẵn sàng đón nhận những hệ quả của nó. Nếu thiếu tiến trình thanh luyện này, cầu nguyện trở thành sự tò mò và một thứ tản mạn vô mục đích.

  • Lòng tôn sùng Thánh Thể

Linh đạo của Valdocco tập trung quanh Thánh Thể. Nó đã biểu lộ ra theo nhiều cách, và được thay đổi cho hợp với tinh thần của thời đại.

Qua việc canh tân phụng vụ, lòng sùng kính Thánh Thể đã có được những chiều sâu ý nghĩa mới. Sự hiện diện thật sự của Chúa vẫn còn là giá trị nền tảng như trước kia, nhưng bây giờ được nhìn trong mối liên hệ cốt thiết với Hy tế Thánh Lễ. Thờ lạy Đức Kitô trong Thánh Thể không chỉ có nghĩa là “nhìn lên Chúa Giêsu”, “bầu bạn với Người”. Nó có nghĩa là dấn thân tiếp xúc với các mầu nhiệm cứu chuộc, với luận lý của thập giá, với hành vi tình yêu cao cả nhờ đó Đức Kitô hiến mình cho Chúa Cha hầu biến đổi những hoa trái quí báu của mầu nhiệm Vượt Qua thành cụ thể trong đời sống hằng ngày. Cha nên tham chiếu Hiến luật và Qui chế để nắm vững những chỉ dẫn hữu ích liên quan đến ý nghĩa của lòng sùng kính Thánh Thể và những cách nuôi dưỡng lòng sùng kính ấy.[322]

  • Lòng sùng kính Mẹ Maria

Lòng sùng kính Mẹ Maria đã mặc lấy nhiều hình thức thực tiễn trong cuộc sống của Don Bosco và Tu hội. Một danh sách các hình thức đó sẽ kể từ việc đọc kinh Kính mừng vào nhiều lúc khác nhau trong ngày cho tới ba kinh Kính mừng đọc trước khi đi ngủ; từ các thánh thi kính Đức Mẹ đến tuần tam nhật chuẩn bị các ngày lễ Mẹ, từ tuần 9 ngày kính Đức Mẹ Phù Hộ các giáo hữu đến phép lành tôn vinh Đức Mẹ; từ lần hạt mân côi đến các kinh khác trong cuốn “Bạn đường tuổi trẻ”.

Danh sách các việc tôn sùng Mẹ Maria sẽ rất dài và đa dạng, nhưng các việc đạo đức này luôn phải được nhìn trong nhiệm cục cứu rỗi có Đức Kitô là Đầu và Mẹ Người là Đức Maria.[323]

  1. Các hình thức cầu nguyện cộng thể
  • Cầu nguyện không thuộc phụng vụ

Vào thời Don Bosco, cầu nguyện không thuộc phụng vụ được nhấn mạnh rất nhiều. Ngày nay, ngoại trừ việc đọc sách thiêng liêng và một số kinh vắn gọn khác, như trước và sau bữa ăn, hay lời nguyện Đức Mẹ Phù Hộ các giáo hữu, chúng ta có thể nói là xét theo số lượng, cầu nguyện không thuộc phụng vụ không còn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hằng ngày của người Salêdiêng nữa.

Nếu các cộng thể có tinh thần sáng tạo, sẽ có nhiều cơ hội cho việc cầu nguyện không thuộc phụng vụ trong tĩnh tâm năm, vào những ngày lễ Salêdiêng hay vào dịp gặp mặt cộng thể dưới hình thức cầu nguyện chung hay là “các cuộc cử hành Lời Chúa”.

  • Cầu nguyện theo phụng vụ

Dù Vatican II khởi xướng việc canh tân phụng vụ đã được một số năm, thì cha biết rõ sự kiện là không phải tất cả các cuộc cử hành phụng vụ của chúng ta đều đã được canh tân. Việc này có nhiều lý do và không phải hết thảy đều kéo theo ý xấu.

Vì một lẽ, ta không luôn luôn hiểu đúng và thi hành đúng đắn việc canh tân phụng vụ. Một vài thay đổi đã gây ra một sự không chắc chắn về mối tương quan giữa con người và hoạt động phụng vụ, khi gây ra những căng thẳng và những vấn đề không thể tránh né trong cộng thể.

Cha có thể gặp những Salêdiêng suy nghĩ rằng một khi hoạt động phụng vụ xong rồi, thì cầu nguyện cộng thể chấm dứt; hay những người khác tiếp tục sống phụng vụ như thể yếu tính của việc canh tân là do một ý kiến thần học nhiều hơn là do Giáo Hội và Huấn quyền đòi hỏi. Thông thường trong những tình trạng không thoải mái này, các giám đốc gánh mũi chịu sào hơn cả.

Ngày nay tình trạng ấy xem ra sáng sủa hơn. Suy tư cần thiết để giải quyết các vấn đề mới phát sinh đã dẫn tới kết quả sau: Người ta hiểu rõ hơn là các hình thức cầu nguyện khác nhau liên hệ với nhau và làm giầu cho nhau. Những hình thức ấy tìm được nơi phụng vụ cội nguồn và sự thành tựu của mình.

Điều này cũng làm cho trách vụ đào luyện của cha là hoà hợp đức tin với đời sống nơi các hội viên của cha nhờ phương thế cầu nguyện nên dễ dàng hơn.

Mỗi cá nhân là một nhân tố thiết yếu của hoạt động phụng vụ. Chúng ta biết rằng khi cộng thể qui tụ lại, thì chính người đó cầu nguyện; chính người đó tham gia vào lời cầu nguyện phụng vụ; chính người đó sửa soạn và dõi theo kinh nguyện ấy. Bằng cách này, lời cầu nguyện phụng vụ qua con người đó thiết lập nên mối giao tiếp thân mật có tầm ảnh hưởng hỗ tương với những hình thức cầu nguyện khác. Hơn bất kỳ hình thức nào khác, phụng vụ chứa đựng khía cạnh suy niệm về Lời Chúa và về những đòi hỏi của Lời ấy trên chúng ta. Phụng vụ có được một yếu tố chiêm niệm mạnh mẽ và cảm thức về mầu nhiệm rất hiện tại. Phụng vụ hàm chứa một sự hoàn thành liên tục của mình nơi con người cầu nguyện và cổ xuý một sự lắng nghe trong thinh lặng và mau mắn trước hoạt động của Thiên Chúa trong lịch sử. Qua cầu nguyện đời sống, phụng vụ tiếp chạm với những biến cố thật sự của đời sống hằng ngày của chúng ta.

Nhờ sự liên kết này, mọi điều giúp cho con người trưởng thành trong hoạt động phụng vụ của mình đều ích lợi cho họ trong các cách diễn tả khác của cầu nguyện trong đời sống của họ. Và bất cứ điều gì giúp cho họ tăng trưởng trong các hình thức cầu nguyện ấy được hiểu và sống đúng đắn, đều cải thiện cầu nguyện phụng vụ. Khi cầu nguyện phụng vụ cũng như cầu nguyện không mang tính phụng vụ thay thế và đối kháng nhau, thì cả hai hình thức cầu nguyện đều chịu thiệt hại. Cha hãy nhớ rằng một nghị quyết của Tổng Tu Nghị Đặc Biệt về việc tái khám phá và tái lượng giá những giá trị này phát biểu long trọng như sau: “Chúng ta thật sự nhiệt liệt chấp nhận những trào lưu và những bước tiến mới của Giáo Hội trong lãnh vực phụng vụ; chúng ta thực sự và tích cực làm cho các điều ấy thành của mình.”[324]

Nhưng điều này hóa ra lại không đủ. Thật không quá đáng khi nói rằng nếu chính cha “không thấm nhiễm tinh thần và sức mạnh của phụng vụ,”[325] thì cộng thể của cha tất không bao giờ đi xa hơn đựơc mức khởi hành.

Cha đừng bỏ qua những loại trợ giúp khác nhau có sẵn về phụng vụ cùng những cơ hội để cập nhật trên bình diện thần học/ phụng vụ/ cử hành. Trên hết, cha đừng mãn nguyện chỉ với ‘việc cử hành phụng vụ’ mà thôi. Cha phải sống phụng vụ và giúp những người khác làm như vậy nữa.

  • Sống phụng vụ

Nghi thức là một biến cố cứu độ trong đó tham dự viên chính là Thiên Chúa và nó đưa ta vào mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô.

Vì được những lời nói và chứng từ của giám đốc hướng dẫn, các hội viên của cha sẽ hiểu được rằng các nghi thức phụng vụ có mối liên hệ độc đáo với hoạt động mục vụ. Họ sẽ hiểu sâu xa hơn trực giác của Don Bosco, người luôn theo nguyên tắc là có một tương quan thực tiễn giữa việc giáo dục toàn diện các học sinh và việc cử hành các bí tích.

Công việc mục vụ chủ yếu là khoa sư phạm được thực thi qua tiếp xúc cá nhân. Đây là vấn đề “tiếp nhận giới trẻ như ta tìm thấy chúng bất kể tình trạng tự do hay đức tin của chúng hiện ra sao”[326] và giúp họ tiếp xúc cá nhân với Đức Kitô, Chúa Phục Sinh.[327]

Chắc chắn có cả một lãnh vực hoạt động mục vụ được tiến hành ở bên ngoài phụng vụ, nhưng ta phải trình bày mọi sự theo một cách thức đến nỗi dẫn giới trẻ vượt qua ngưỡng cửa của dấu chỉ và đi vào mầu nhiệm, vốn cứu độ họ hơn bất kỳ kinh nghiệm nào khác.

Nếu điều đó sẽ xảy ra thì trước tiên nó phải xảy ra nơi các nhà giáo dục. Cha phải quen với những thái độ luôn đi kèm công việc giáo dục này qua việc tiếp xúc cá nhân, và mọi nỗ lực nhằm cho thấy rằng người ta phải biết và sống các thái độ ấy. Sau đây là những mục tiêu cha phải nhắm đến:

  1. Tri nhận Đức Kitô Phục sinh đang hiện diện qua việc sử dụng mọi yếu tố cụ thể của nghi thức:

- Người hiện diện thật sự qua dấu chỉ bánh và rượu:

- Người hiện diện qua dấu chỉ là con người chủ sự phụng vụ (một dấu chỉ rõ ràng biết bao của Chúa là người đó, cũng như cha, được mời gọi để “chủ sự trong đức ái”!);

- Người hiện diện và thông giao qua dấu chỉ lời;

- Người hiện diện tích cực qua các bí tích là những hành động cá nhân của Chúa Phục Sinh;

- Người hiện diện trong Giáo Hội qua dấu chỉ cộng đoàn: “Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”[328]

  1. Cử hành nghi thức như buổi lễ và làm nó thành sống động trong đời sống hằng ngày. Khi cộng thể Salêdiêng đảm nhận chỗ đứng chính đáng của mình trong biến cố phụng vụ, như chính Giáo Hội, chứ không chỉ trong vai trò khán giả, thì cộng thể “không luyến tiếc quá khứ, nhưng hướng đến điều vĩnh cửu”, như có người đã viết như thế. Đây là hành vi phụng vụ thực sự; cộng thể nhớ Thiên Chúa và tình yêu Ngài. Trạng từ phụng vụ là “hôm nay, hodie”. Tình yêu mà nhờ đó Thiên Chúa đã tuyển chọn, thánh hóa và sai Don Bosco đi, hiện vẫn được thông ban cho các con cái ngài hôm nay.
  2. Làm cho các dấu chỉ bí tích thành chân chính. Cấu trúc của phụng vụ là cấu trúc làm bằng các dấu chỉ. Lời nói, cử chỉ và sự thinh lặng là ba yếu tố tạo nên nghi lễ. Chúng liên kết chặt chẽ đến độ thánh Augustinô nói đến “các cử chỉ nghe thấy được” và “những lời hữu hình”. Thinh lặng là bầu khí bao quanh lời nói và cử chỉ hầu những người tham dự có thể hấp thụ chúng và làm chúng thành có nghĩa cho chính mình.

Nếu cần, cha có trách vụ khôi phục lại sự chân chính cho các dấu chỉ này. Làm thế nào cha thực hiện điều này?

- Trước hết, bằng cách bảo đảm rằng chúng phải được thực hiện cách tốt đẹp và sinh động trong các cử hành phụng vụ. Chúng nảy sinh từ một “cảm thức linh thánh”, bởi vì chúng khai mở đến mầu nhiệm và có thể diễn tả tặng phẩm là ân sủng;

- Bằng cách giúp người khác hiểu và kính trọng ngôn ngữ biểu tượng của chúng, theo các chuẩn mực phụng vụ (các hành vi phụng vụ, y phục …);

- Bằng cách dẫn đưa cộng đoàn cầu nguyện tới hoán cải liên tục, để các dấu chỉ trở nên chân chính trên bình diện nội tâm, nghĩa là chân thật, bởi chúng tương ứng với đời sống thực. Bằng không, sẽ có nguy cơ đưa vào trong bí tích một yếu tố sai lầm (Thánh Tôma nói: “introducit mendacium”) và Thánh Thể có thể trở thành vô nghĩa – ít là đối với người khước từ hoán cải.

Và như thế những cuộc cử hành phụng vụ sẽ hữu hiệu theo nghĩa là chúng dẫn đưa cộng đoàn cầu nguyện sống động ấy vào trong mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Chúng không phải chỉ là một dụng cụ tôn giáo dễ chịu, một lễ nghi suông mà thôi. Chúng sẽ là một nghi thức có sức biến đổi. Tiến trình lan tỏa sức mạnh này vào đời sống con người là một tiến trình chậm chạp, nhưng rốt cuộc sẽ xảy ra.

Trong ánh sáng của những điều vừa nêu trên đây, trong thực tế cha phải chú ý đặc biệt đến những điều sau:

  1. Vị trí trung tâm dành cho việc cử hành Thánh Thể[329]

Don Bosco là một nhân chứng kỳ diệu về phép Thánh Thể và cho thấy sự phong phú của Thánh Thể một cách ngoại thường. “Khi ngài nói về Thánh Thể, mặt ngài sáng lên, mọi thính giả đều cảm thấy được tiếp xúc với chân lý là sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu.”[330]

Theo một nghĩa cá vị, tiếp nhận Đức Kitô có nghĩa là không chỉ chịu lấy Mình Thánh Người song là chính Người. "Nó có nghĩa là chúng ta cam kết khuôn rập não trạng của ta theo Người, để suy nghĩ như Người về cuộc đời (các mối phúc), về con người (giới luật mới), về Thiên Chúa (Chúa Cha). Nó có nghĩa là đón nhận điều Người muốn (ý Chúa Cha), những kẻ Người muốn (mọi người) và cách thức Người muốn (dù là cho đến chết)."[331]

Theo quan điểm cộng thể, tiếp nhận Đức Kitô có nghĩa là chấp nhận Người là "dấu chỉ và nguyên nhân của sự hiệp nhất, là Đấng cổ xúy sự hiệp nhất và mọi sự nó đòi hỏi; và kết quả của việc chúng ta tiếp nhận là chúng ta tận hiến năng lực cho trách vụ thiết lập sự hiệp thông với nhau."[332] Từ sự thông hiệp với Đức Kitô Thánh Thể và với nhau nảy sinh khả thể tính và sự hiệu lực của tình yêu mục tử, động lực tông đồ của cộng thể Salêdiêng và của mỗi phần tử.[333] "Tất cả những khía cạnh này được diễn tả tuyệt đẹp trong Thánh Lễ đồng tế."[334]

Hơn nữa, cha phải ý thức, để các hội viên của cha cũng ý thức điều đó, rằng có một mối liên kết chặt chẽ biết bao giữa việc cử hành Thánh Thể với những hy sinh đặc biệt mà đời thánh hiến tông đồ chúng ta đòi hỏi. Vào lúc tuyên khấn, nhờ Giáo Hội, chúng ta đã được hiến dâng cho Thiên Chúa trong sự kết hiệp mật thiết với Hy tế Thánh Thể.[335]

  1. Cử hành bí tích Hòa Giải[336]

Đời thánh hiến của chúng ta có một hướng chiều lưỡng diện: nó kích thích chúng ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến anh em mình. Hoán cải liên tục là nét biệt loại của đời tu và đào luyện, khi chúng ta cố gắng thắng vượt tính ích kỷ và tăng trưởng trong tình yêu. Trong viễn cảnh của cuộc đấu tranh và tăng trưởng này, bí tích Hòa Giải là bất khả thế vì nó làm cho nỗ lực của từng người trong việc sám hối đạt được kết quả cách thiêng liêng và cổ xúy rất nhiều việc quay về Chúa Cha giàu lòng thương xót và xây dựng tình huynh đệ Kitô hữu.[337]

Trong vai trò của cha là người sinh động thiêng liêng, cha phải làm hết sức có thể để đảm bảo rằng bí tích Hòa Giải được khôi phục lại chỗ đứng trung tâm chính đáng của mình và ban cho bí tích ấy tầm quan trọng vốn luôn có được trong đời sống Salêdiêng.

Đa số các hội viên vui sướng tiếp nhận những thay đổi do Công đồng Vaticanô II thực hiện, nhưng họ đã rớt lại sau trong việc thực thi chúng bởi họ không cảm thấy được chuẩn bị trước những đòi hỏi được đặt ra cho họ. Cha cũng phải giúp các hội viên khám phá và hấp thụ sự giàu có do cuộc canh tân này của Giáo Hội mang lại trên lãnh vực này nữa, bằng cách, nếu cần, mời những thuyết trình viên có thẩm quyền nói chuyện với họ.

Thật thiết thân trong tác vụ của cha là đảm bảo rằng trong cộng thể:

  • Hiểu biết về tư tưởng và hành động của Don Bosco đối với tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xưng tội cá nhân như đã được Giáo Hội tái khẳng định rõ ràng. Cha hãy nhớ rằng việc xưng tội "sùng mộ" như ta vẫn thường gọi luôn luôn là một trong những phương tiện xây dựng sự thánh thiện trong Giáo Hội.[338]

Mọi hội viên đều phải có thể đến với các cha giải tội, ưu tiên vẫn là các Salêdiêng. Các ngài được mời đến tùy dịp hay đều đặn từ những cộng thể xung quanh. Và cha hãy mở rộng trước những cố gắng được thực hiện trong Giáo Hội miễn là chúng được thử nghiệm và chân thực để mang lại chiều sâu và ý nghĩa lớn lao hơn cho bí tích này.

  • Có những buổi cộng thể cử hành bí tích Hòa Giải vào những thời buổi thích hợp, và cá nhân xưng tội trong những dịp ấy. Giáo Hội khuyến khích những buổi cử hành này bởi vì chúng có đầy đủ cơ cấu phụng vụ và chúng mang một chiều kích Giáo Hội rõ ràng. Khoản Hiến luật 62 về bí tích Hòa Giải ngầm gợi nhắc đến những buổi cử hành này. Việc dọn mình chết lành hàng tháng và những ngày tĩnh tâm quí là những dịp thích hợp nhất theo Qui chế 49 cho các cuộc cử hành này. Việc này sẽ mang lại cho cộng thể cơ hội để diễn tả cộng thể chân thành khao khát được thanh tẩy qua bí tích này mà “không chỉ kết hiệp chúng ta mật thiết hơn với Thiên Chúa, nhưng còn cổ xúy tình huynh đệ và thanh luyện những ý hướng tông đồ của chúng ta."[339]
  • Năng chuyên chăm đến với bí tích này và chuẩn bị bí tích này bằng việc xét mình hằng ngày.[340] Hiến luật của chúng ta nói đến thường xuyên lãnh nhận bí tích này.[341] Khi nói cho các linh mục, Công đồng Vaticanô II nói về "việc thường xuyên lãnh nhận bí tích Sám Hối."[342] Sắc lệnh SCRIS khích lệ các tu sĩ nam nữ đến với bí tích này “thường xuyên, nghĩa là hai lần một tháng."[343]

Những tài liệu này cho thấy sự quan tâm của Giáo Hội. Một đàng Giáo Hội muốn các phần tử của mình có một cảm thức sống động về tội và cần phải đền bù tội lỗi theo một cách hết sức kính trọng và thiêng liêng có thể được. Đàng khác, Giáo Hội muốn bảo vệ sự tự do lương tâm, mà ta không thể đặt lằn mức thời gian mặc dù lương tâm cần thiết phải được soi sáng và kích thích.

  • sự hiểu biết giữa giám đốc và các cha giải tội, đặc biệt trong các cộng thể đào luyện hầu bảo đảm tính liên tục. Không ai sẽ xác tín hơn cha rằng một cha giải tội được chuẩn bị chu đáo cho nhiệm vụ này với một kinh nghiệm Salêdiêng phong phú đóng một vai trò chủ chốt trong tiến trình đào luyện. Nhưng có những cha giải tội tốt mà thôi thì không đủ. Công việc của các ngài phải được thực thi phù hợp theo những tiêu chuẩn đào luyện của Giáo Hội và Tu hội, hòa hợp với việc áp dụng thực tiễn những tiêu chuẩn này trong cộng thể địa phương dưới trách nhiệm của giám đốc.

Để đảm bảo tính hiệp nhất trong sức đẩy đào luyện của cộng thể và để bảo đảm được sự nhất trí trên những điểm nền tảng, cha có bổn phận gặp gỡ các cha giải tội vào đầu năm và bất cứ lúc nào cha thấy thuận lợi. Điều ấy sẽ cho cha cơ hội để cùng họ nhất trí về việc giải thích trên bình diện lý thuyết và trên thực tế các nguyên tắc và chuẩn mực đã được thiết định.[344] Dĩ nhiên những cuộc gặp gỡ ấy phải được đặc trưng hóa bằng sự kín mật chân thực. Không được nêu ra ngay cả cách gián tiếp những gì đã được nghe trong tòa giải tội.

  1. Phụng vụ các giờ kinh[345]

Bất kỳ khi nào có thể cha phải chuộng việc cộng thể cử hành phụng vụ giờ kinh hơn là việc cử hành cá nhân.[346] Khi qui lại để đọc thần vụ, cộng thể biểu hiện bản chất chân thật của Giáo Hội cầu nguyện mà cộng thể là một dấu chỉ kỳ diệu.[347]

Đây cũng là dịp tốt giúp các hội viên đạt được một não trạng Kinh Thánh. Tiếp xúc liên tục và thường xuyên với các Thánh vịnh là một trợ lực cho việc hấp thụ được các nguyên lý của lịch sử cứu độ. Điều này rất quan trọng cho linh đạo của chúng ta. Nhưng ở đây, cha cũng không được chỉ bằng lòng với việc thực hành theo chữ viết của luật lệ mà thôi; cha còn phải vào trong tinh thần của nó nữa.

Khi tóm kết lại toàn bộ phần nói về việc cầu nguyện này, dường như rằng việc cầu nguyện tốt đẹp hay không tốt đẹp xét cho cùng là tùy vào hội viên sống thế nào hay không sống tinh thần đối thần trong đời sống và trong những cam kết của họ, vào đức ái huynh đệ của họ sống động phong phú như thế nào, vào đời sống họ được nổi bật nhờ sự chối bỏ chính mình và chủ tâm bao nhiêu.

Khi thiếu những đường nét thiêng liêng này, không thời giờ và nơi chốn hoặc nhóm nào có thể bù lại cho chúng ta. Nếu có một thái độ đức tin và tình yêu bền vững,[348] các hội viên sẽ lo liệu để tránh được việc tham dự thuần túy hình thức và máy móc một cách tương đối dễ dàng.[349] Để tới được mục đích này, khoa sư phạm về cầu nguyện cũng giả định một nền đào luyện vững chắc về đời sống thánh hiến và kinh nghiệm về một đời sống cộng thể phong phú và sâu xa.[350] Đó cũng là hai lãnh vực phục vụ quan trọng khác mà cha phải sinh động. Nếu ta không hoàn toàn cam kết yêu mến Thiên Chúa và anh em một cách thực tiễn, ngày qua ngày, thì hồng ân cầu nguyện sẽ biến mất và ngược lại cũng hoàn toàn đúng vậy.

  • MỘT ĐỜI SỐNG CỘNG THỂ SÂU XA VÀ PHONG PHÚ

Chúng ta sẽ xem xét chi tiết một vài khía cạnh. Các Tổng Tu Nghị và các giáo huấn của các bề trên chứa đựng những thông tin và những chỉ dẫn thực tiễn về đề tài này. Hoạt động sinh động và cai quản của cha giúp cộng thể tăng trưởng theo một vài cách thức:

  • Cộng thể phải lớn lên trong một bầu khí thông giao và hiệp thông thực sự. Nếu thiếu điều này, người ta sẽ cảm nghiệm quyền bính, các phương pháp, những phương thế và các quyết định như một cái gì ngoại tại đối với đời sống và vì vậy sẽ dễ dàng bị chống đối. Hoạt động của cha sẽ vô ích.
  • Cộng thể phải lớn lên trong một bầu khí của đồng trách nhiệm thực sự: "Hãy nhớ rằng người ta không giả định chính giám đốc phải làm mọi việc đâu; nhưng đúng hơn phải thấy rằng những người khác đang làm việc và bảo đảm rằng mỗi người đang thực thi những bổn phận của mình."[351]
  • Cộng thể phải lớn lên trong bầu khí liên đới và bổ sung. Cộng thể phải trân trọng cả sự bình đẳng lẫn sự khác biệt của ơn gọi Salêdiêng. Cộng thể phải giúp các hội viên nhận ra giá trị hỗ tương của mỗi người (linh mục và sư huynh, người trẻ và người già, người mạnh khỏe và kẻ đau ốm). Đồng thời bầu khí này khích lệ mỗi người bỏ đi những khiếm khuyết vốn làm giảm thiểu thiện ích chung.
  • Cộng thể cần lớn lên trong một bầu khí đầy đức tin. Bằng cách này cộng thể sẽ có thể làm chứng cho sự kiện rằng chính Thánh Thần là Đấng kêu gọi chúng ta và tụ họp chúng ta lại trong tình yêu Thiên Chúa bằng một đoàn sủng vốn can dự tới lòng ưu ái đặc biệt dành cho giới trẻ. Sự kiện này ở tận cội rễ ý nghĩa của việc chúng ta thông giao, hiệp thông, đồng trách nhiệm, liên đới và bổ túc cho nhau và liên lỷ thúc đẩy chúng ta làm cho những giá trị này nên sống động.

2.1. Một bầu khí thông giao và hiệp thông

Dĩ nhiên cha thâm tín rằng bổn phận thứ nhất của cha là tiên vàn chú trọng đến những giá trị cấu thành ơn gọi Salêdiêng. Nhưng nếu các hội viên phải ý thức và thông giao những giá trị này cách hữu hiệu, thì cần có một bầu khí thích hợp. Họ phải học để sống trong cộng thể và như một cộng thể. Kiến tạo những điều kiện trong đó có thể triển nở đời sống cộng thể là điều cần thiết.

Bất cứ điều gì giúp chúng ta tăng trưởng trong một tinh thần nhân bản, đều đảm bảo cho đức ái và tin tưởng, cho phép có những cuộc gặp gỡ xây dựng, chỉ đường dẫn lối cho sự cam kết tu trì, xây dựng sự hiệp nhất huynh đệ và cống hiến một cơ hội để diễn tả tình yêu chân chính.[352]

Nhưng cũng có những lý do khác để nhấn mạnh đến đời sống cộng thể. Cộng thể có sứ mệnh rao giảng Tin Mừng qua giáo dục và phát triển nhân bản. Không có cách nào để cộng thể có thể chu toàn sứ mệnh của mình trừ phi chính cộng thể được phúc âm hóa.

Khi chu toàn việc phục vụ của cha là cai quản và sinh động, cha cũng phải cổ võ sự thông giao và hiệp thông, và dùng những phương thế thích hợp để làm điều ấy.

  1. Sự thông giao

Nếu trong cộng thể của cha, thiếu sự thông giao,[353] nếu khó khăn lắm để có được kiểu giao tiếp đơn sơ và thẳng thắn vốn làm cho việc trao đổi thông tin và bình luận các biến cố hàng ngày nên dễ dàng, thì đấy không phải là một loại môi trường trong đó đối thoại và san sẻ quyền bính triển nở được. Các phần tử của cộng thể sẽ bất ổn và như người bên ngoài. Một cộng thể tốt đẹp chắc chắn là kết quả của một sự sinh động tốt đẹp, nhưng cộng thể tự nó có vai trò phải đảm trách để cho việc này có thể xảy ra.

Cha phải nhận diện những nguyên nhân gây cản trở sự thông giao và tạo ra sự cô lập, phòng thủ, và thù hằn, hầu giới hạn chúng. Những nguyên nhân thông thường nhất dường như là giao tiếp nhân bản bị giới hạn, do từ một vài cơ cấu và thời khóa biểu mà ra; những biểu lộ sự kính trọng dành cho một vài hội viên vì những địa vị họ nắm giữ; thiếu trân trọng sự đóng góp của nhiều hội viên so với uy thế mà một số ít hội viên ưu đãi được hưởng vì sự đóng góp lớn lao của họ; có thể là chính giám đốc ở giữa số ít những người này.

Trong bài huấn đức thứ ba trong Tổng Tu Nghị đầu tiên, khi bàn về kỷ luật, Don Bosco đã khuyến khích các "giám đốc phải biết cách để các người khác thực thi các bổn phận của họ."[354] Mỗi ngày cha kinh nghiệm sự kiện là các hội viên làm việc và cộng tác càng vui vẻ tự ý nếu họ cảm thấy rằng họ gần gũi với mọi tin tức liên quan đến trách vụ của họ và biết được cộng thể kính trọng công việc của họ.

  1. Sự hiệp thông

Nhưng có một khía cạnh sâu xa hơn của cuộc đối thoại trong cộng thể mà chúng ta có thể gọi là ‘sự hiệp thông’. Từ ngữ này qui chiếu đến những yếu tố chạm nhiều hơn đến cá nhân các hội viên và đời sống của cộng thể trong chiều sâu. Nó là bản tổng hợp của ba thái độ nền tảng: tham gia, cảm thức thuộc về và cung điệu cảm xúc hay bầu khí của nhóm.

  • Sự tham gia của các hội viên là một trong những sức mạnh chính của một cộng thể. Nó bắt nguồn từ sự cam kết có tính hữu vị và tâm lý đối với bất kỳ điều gì liên quan đến cộng thể và sự hoàn thành của cộng thể. Từ đây nó qui chiếu đến những mục tiêu mà cộng thể đặt ra cho chính mình, dưới diện những công việc nội bộ hay sứ mạng của cộng thể; về những phương thế cộng thể muốn dùng để đạt được những mục tiêu này; và về các trách vụ được phân phối cho các phần tử khác nhau. Kinh nghiệm dạy rằng càng cung cấp cho các hội viên những cơ hội tham gia thực sự thì cộng thể sẽ càng được hiệp nhất hữu hiệu hơn.

Mặc dầu một vài hội viên không đồng ý với những ý kiến của người khác, và với những quyết định sau cùng của giám đốc, thì họ thực tế sẽ vui vẻ hơn để chấp nhận những quyết định ấy nếu họ đã có cơ hội tham gia và diễn tả những ý kiến của họ suốt tiến trình đi đến quyết định. Cũng như thế, nơi nào có sự tham gia thì các hội viên ít biểu lộ phản kháng hơn trước những thay đổi, tỏ ra cần mẫn hơn trong việc thực hiện những trách vụ được giao phó và chứng tỏ sự hữu hiệu và thỏa mãn hơn trong công việc của họ.

  • Như thế nảy sinh cảm thức thuộc về hay đồng nhất với cộng thể. Cá nhân hội viên cảm thấy rằng họ là phần tử sống động của cộng thể đó. Họ thấy rằng những lợi ích, những lý tưởng và những khát vọng của cộng thể là của chính họ. Đây là một kinh nghiệm về một sự cam kết chung được ta sống; nó hàm ẩn sự quan tâm đến điều làm cho những hội viên khác và cộng thể xét như một toàn thể đều quan tâm.

Cảm thức này có thể có nơi các hội viên khác nhau với những mức độ khác biệt. Nó dựa trên những xem xét có giá trị khách quan, nhưng nó cũng có một nội dung cảm xúc mạnh mẽ theo cả hai nghĩa cá nhân và tập thể. Vai trò của cha là không thể thay thế được về khía cạnh này.

Có một vài sự việc mà giám đốc không ủy nhiệm cho những người khác, cũng không bàn với họ trong các buổi họp cộng thể. Cha Rinaldi viết: "Khi làm giám đốc, Don Bosco muốn mọi người tử tế với mọi người khác. Nhưng ngài dành vai trò làm cha cho mình ngài mà thôi."[355]

  • Cuối cùng, trong mỗi cộng thể có một bầu khí hay tinh thần nào đó khó mà diễn tả, nhưng rất dễ nhận ra ngay cả do những người không mấy sống động đối với những sự việc như thế. Bầu khí này có những liên hệ với cảm thức về ‘sự tham gia’ và ‘cảm thức thuộc về’. Nó lệ thuộc vào những khía cạnh này và đồng thời tác động mạnh trên những khía cạnh đó. Thông thường cha đã phải ghi nhận rằng thái độ của một hội viên theo một mức độ đáng kể được xác định do cách thức họ cảm nhận những phản ứng của cộng thể đối với họ!

Cũng có những yếu tố mà đôi khi chúng ta coi nhẹ, nhưng lại ảnh hưởng đến bầu khí của cộng thể; chẳng hạn, khung cảnh thể lý, kể cả sự bố trí và tiện dụng của vật chất và trang thiết bị, sự sắp xếp chỗ ngồi, sự sáng sủa, sự thoáng mát và nhà cửa sạch sẽ.

2.2. Bầu khí của đồng trách nhiệm chân thật

Theo nhãn quan về cơ cấu, Hiến luật miêu tả những cơ quan tham gia với giám đốc trong việc điều hành thông thường[356] của cộng thể và những chức vụ khác chia sẻ trách nhiệm điều phối và sinh động trong những lãnh vực khác nhau.[357] Viễn cảnh chúng ta đang xét đến ở đây là việc tạo nên một bầu khí làm cho những cơ quan này hữu dụng và hiệu quả. Vì là "trung tâm của cộng thể,"[358] cha cần tất cả các hội viên để làm cho nó hoạt động. Vậy, cha phải biết làm thế nào xin các hội viên cộng tác với sự nhân hậu và cương quyết vốn là tiêu biểu của cộng thể chúng ta. Các cộng thể chúng ta được tổ chức theo một cách thức đến nỗi mỗi hội viên làm điều họ được sai đến đó để làm, và giám đốc làm công việc của giám đốc qua "phân phối công việc, trách vụ và trách nhiệm." Cha có một vai trò mà không ai khác có thể thay thế được. Giám đốc "phải biết làm thế nào để xin những người khác chu toàn công việc của họ. Giám đốc hãy tỉnh thức và sắp xếp thích hợp, nhưng chính ngài đừng bao giờ làm mọi sự. Nếu ngài không tìm được những cá nhân có nhiều khả năng để làm các việc, thì hãy để những người có các tài năng tầm thường làm công việc ấy. Nhưng ngài đừng bao giờ tự mình làm những việc như thế bởi vì cơn chướng là muốn thấy các việc ấy được làm tốt hơn."[359]

Trong những lời này có cả một khoa khôn ngoan và một cảm thức về sự kính trọng mọi người cộng tác. Nhưng mặc nhiên cũng có một nhu cầu là sự cộng tác của giám đốc vào sự thành công của sứ mệnh nằm ở trên một bình diện khác với việc chỉ đơn thuần hành động bên cạnh và cùng với những người còn lại.

  1. Đồng trách nhiệm như sự chăm lo đến ‘trái tim nguyện xá’ của mỗi hội viên

"Giám đốc phải giữ mình khỏi mọi sự cam kết cản trở ngài chu toàn cái bổn phận nền tảng đối với hội viên."[360] Đây còn hơn chỉ là một nguyên tắc thực tiễn. Nó là một điều kiện tiên quyết để giám đốc có thể chu toàn các bổn phận chính yếu của mình. Trong những hoàn cảnh khác nhau và cho nhiều giám đốc khác nhau, Don Bosco khuyên mỗi ngày phải đi quanh nhà. Ngài đảm bảo họ sẽ thu lượm được những phúc lợi bất ngờ từ việc thực hành đơn giản này. Sự hiện diện của giám đốc giữa các hội viên là một dấu chỉ của tình huynh đệ và tình liên đới. Nó là một sự xác nhận về những quyết định thực tiễn được thực hiện hàng ngày. Nó là một hình thức của cộng thể tham dự vào công việc của từng lãnh vực qua sự đồng cảm và nâng đỡ luân lý; nó là một cách thức để hiểu các vấn đề và những tình trạng khách quan hầu can thiệp cách hữu hiệu. Một lời khích lệ và ca ngợi của cha, một câu chào hỏi thông thường, trực giác về một nhu cầu kín đáo, một sự thăm hỏi các hội viên cao niên và ốm yếu, khả năng lạc quan của cha, việc cha nhắc nhở các hội viên bất chấp tuổi tác của họ, về những động cơ đức tin đều là những cách thức tuyệt hảo để giúp các hội viên lớn lên trong tình huynh đệ và liên đới. Và mọi điều này giúp cha chăm sóc đến ‘trái tim nguyện xá’ của mỗi hội viên.[361] Trong thực tế, điều này có nghĩa là giúp mỗi người trung thành và sáng tạo.

"Trung thành làm việc" không phải là chuyện đơn giản. Nhưng người ta phải đáp trả lại thách đố này phù hợp với điều kiện bất khả thay thế được Tổng Tu Nghị Đặc Biệt đề ra: "Để cho một hoạt động thật sự là Salêdiêng":

  • Nó phải phục vụ giới trẻ, đặc biệt những ai thiếu thốn nhất;
  • Nó phải hoàn toàn mang tính cách mục vụ trong cảnh giới;
  • Nó phải được thấm nhuần tinh thần đã khởi hứng cho hoạt động của Don Bosco tại Nguyện xá Valdocco.”[362]

Sự hiện diện của cha trở thành bất khả thế nếu những nguyên lý nền tảng Salêdiêng liên quan đến sự phục vụ, đến trách vụ và phong thái hoạt động của chúng ta không bị biến mất. Theo nghĩa này, cha phải là hiện thân của ‘lương tâm chân thật và có tính chất phê phán’ của cộng thể đối với tinh thần Salêdiêng. Don Bosco diễn tả những đòi hỏi khác nhau này bằng một câu đơn giản được tìm thấy trong những ghi chú của ngài về Hệ Thống Dự Phòng: "Nhà giáo dục là người hoàn toàn hiến mình cho lợi ích của các học sinh của mình." Và vì thế giám đốc phải giúp các hội viên:

  • Không được quên đi động lực tôn giáo phải soi sáng cho việc phục vụ của họ, bất chấp họ có trách vụ nào trong lãnh vực giáo dục và phát triển nhân bản (Don Bosco thường dùng từ "tận hiến"); và
  • Đừng giảm thiểu chiều rộng và chiều sâu của sức thúc đẩy tu sĩ trong công việc của họ khi họ hiến sức lực cho các khoa học nhân văn một cách thức xứng hợp (Don Bosco nói là ‘tận hiến hoàn toàn.’)[363]

Đối với tính sáng tạo của các hội viên, cha hãy đảm bảo rằng cha trân trọng giá trị tài năng của từng người và cho mỗi người nhiều cảnh giới để diễn tả chính mình và phát triển những ân điển đặc thù của họ. Don Caviglia viết: "Tôi không sợ mâu thuẫn khi nói rằng trong khi đòi hỏi một kỷ luật tu sĩ và Kitô hữu, Don Bosco lại kính trọng tới mức cao nhất tương hợp với kỷ luật như thế, những ước ao và kế hoạch của các môn đệ mình; có thể nói như thế, ngài để cho mỗi người nhiều khoảng không để hít thở."[364] Theo điều được vạch ra trong Hiến luật chúng ta[365] và theo phong thái của Don Bosco, "việc sử dụng trí tưởng tượng có sư phạm, lòng can đảm, sự tinh khôn thánh thiện và tinh thần táo bạo" là những biểu lộ chân chính của ‘trái tim nguyện xá.’[366]

Đây không chỉ là vấn đề có những cơ cấu thích hợp để làm cho những người trẻ hiếu động cảm thấy "thoải mái". Trên hết, đây là vấn đề phát triển những con người mà theo ơn gọi của họ và thời khắc hiện tại của lịch sử, họ biết làm thế nào để giữ cho mình hợp với Don Bosco và với thời đại.

Đây là một phần của công việc đào luyện liên tục mà can dự đến cha như một người sinh động.

  1. b) Đồng trách nhiệm như một đảm bảo cho những cơ cấu và tổ chức vận hành thích đáng và sinh hiệu quả mục vụ

Giám đốc là điểm qui chiếu chung dưới diện cơ cấu và tổ chức. Chính với phong thái phục vụ đặc thù của mình mà ngài trở thành một người đảm bảo cho việc vận hành trôi chảy và sự phong phú mục vụ của họ.[367]

2.3. Bầu khí liên đới và bổ sung

  1. Tình liên đới và những đòi hỏi của nó

Cha đừng bao giờ nhọc mệt cổ xúy nơi mỗi hội viên một cách thức nhìn xem các sự vật mà nhấn mạnh đến "cái chúng ta" hơn là "cái tôi", đến "cái của chúng ta" hơn là "của tôi", đến điều có châm ngôn là "Tình yêu Chúa Kitô là động lực thúc bách tôi" thay vì châm ngôn "tôi không quan tâm đến chuyện đó." Một sự tăng trưởng như thế sẽ đưa đến một cảm thức thuộc về cộng thể, và cá nhân chủ nghĩa sẽ bị giảm thiểu nếu không biến mất hoàn toàn. Cá nhân chủ nghĩa là trở ngại lớn nhất cho sự tăng trưởng tinh thần huynh đệ.

Tình hiền phụ thiêng liêng của cha phải có khả năng đem lại sự hiệp nhất, hủy đi một tinh thần riêng biệt và tách biệt. Được cộng thể trợ giúp, cha phải bắt tay vào trách vụ này qua những phương thế do truyền thống chúng ta đặt cho cha tùy ý sử dụng:

  • Phát huy những tài năng cá nhân của mỗi người;
  • Vun trồng một sự rộng mở thân tình và được soi sáng mà có thể làm cho cha trân trọng công trình Thiên Chúa trong đời sống của các anh em của cha;
  • Cổ xúy cá nhân cộng tác tốt đẹp bao có thể vào sứ mạng chung;
  • Khích lệ mọi người đồng trách nhiệm;
  • Đặt đúng chỗ những phương thế nhân loại trong việc gia tăng tinh thần huynh đệ;
  • Đảm trách việc định kích thước lại cộng thể về số hội viên và loại hoạt động tông đồ để cổ xúy những tương quan liên vị thân mật hơn;
  • Nhấn mạnh đến tính bổ sung của ơn gọi chúng ta.[368]
  1. Giá trị của sự bổ sung

Tính chất bổ sung của những vai trò thiết yếu mà người Salêdiêng linh mục và sư huynh có trong cộng thể đòi hỏi phải hiểu biết và trân trọng sự bình đẳng và khác biệt của họ. Cha có trách vụ hành động theo các nguyên tắc luôn cổ xúy sự bổ sung này:

  • Hiểu biết và lượng giá đầy đủ về sự bình đẳng và khác biệt

Các học giả phải tiếp tục khảo sát mối tương quan độc đáo trong đời sống tu sĩ Salêdiêng giữa chức linh mục thừa tác và bậc sống thánh hiến giáo dân.[369] Nhưng mỗi người chúng ta đã có một trực giác chân thật về sự bổ sung mang ý nghĩa gì trên thực tế, đấy là điều quan trọng sinh tử bởi vì đó là cách sống và hoạt động tông đồ của chúng ta có nguồn gốc trong chính Chúa Thánh Thần. Lối đường được các Tổng Tu Nghị chúng ta dõi theo phải trở thành lối đường cộng thể của cha đảm nhận xuyên qua tác vụ của cha. Trong thực tế, cha phải kiên trì và thanh thản hướng dẫn ‘sự phân định của cộng thể’ về đề tài này.

Mục tiêu tức thời thật rõ ràng: "Để người ta có thể chấp nhận sự bình đẳng và sự khác biệt gắn liền với căn tính của người Salêdiêng linh mục và sư huynh như một trong những sự giầu có của cộng thể Salêdiêng và trở thành một thực tại của đời sống thường nhật, thì mỗi Salêdiêng phải chấp nhận những sự kiện này tận bên trong và tỏ lộ ra bên ngoài qua một vài thái độ căn bản: một sự thâm tín cơ bản về sự bình đẳng nền tảng và những khác biệt căn bản của họ; tinh thần gia đình; đồng trách nhiệm huynh đệ; vui vẻ nhận biết sự cần thiết của nhóm này đối với nhóm kia; sự bổ sung và tình liên đới quảng đại; sự thừa nhận chính đáng mỗi nhóm có trách nhiệm và sự tự lập thích đáng dù tương đối mà thôi."[370] Cha phải cổ xúy một sự thay đổi não trạng và cõi lòng thật sự, khi nhấn mạnh rằng các linh mục và sư huynh phải rộng mở sâu xa đối với nhau. Ngu dốt làm phương hại thật sự cho đoàn sủng chúng ta. Những người Salêdiêng không thể còn trung thành với dự phóng nguyên thủy và phát triển diện mạo đặc trưng của mình trừ phi các linh mục và sư huynh rộng mở với nhau trong sự trao đổi hỗ tương các ân điển biệt loại của họ.[371]

Trước tiên, cha phải đảm bảo rằng ai nấy đều biết đến bản văn của Tổng Tu Nghị 21 về người sư huynh hầu ý nghĩa phong phú của căn tính Salêdiêng sư huynh vốn chạm đến chính yếu tính của Tu hội được biết đến.[372] Cha cũng sẽ phải có biện pháp giúp đỡ các hội viên trân trọng cả sự bình đẳng lẫn khác biệt của các sư huynh và linh mục.

  • Bằng cách tỏ ra rằng có một bổn phận về tính đồng trách nhiệm thiêng liêng tới một mức độ gia sản thiêng liêng của người Salêdiêng linh mục và người Salêdiêng sư huynh làm phong phú lẫn nhau, và sự thiếu nhiệt tình của một phía có những âm hưởng tiêu cực trên cả hai.[373]
  • Bằng cách cho thấy các linh mục và sư huynh tham gia vào cùng một việc tông đồ như thế nào. Don Bosco muốn cộng thể của ngài vốn phải thực hiện một sứ mệnh phức tạp và đa diện được tạo thành bởi cả linh mục lẫn sư huynh.[374] Chúng ta xác tín rằng "Da mihi animas" của ngài nối kết chặt chẽ bất khả phân hai khía cạnh đó là sự thăng tiến nhân bản và rao giảng Tin Mừng, với sự nhấn mạnh hơn đến khía cạnh tôn giáo.[375]

Trong sứ mạng này, phẩm chất trần thế của người Salêdiêng sư huynh mặc lấy ý nghĩa đầy đủ của nó. Ở điểm này chúng ta cần người sư huynh. Để chu toàn sứ mệnh của mình, Tu hội đúng nghĩa và nhất là các Salêdiêng linh mục cần phải có một khóe nhìn vượt xa hơn hoạt động giáo lý và tư tế theo nghĩa hẹp của những hạn từ này.[376] Sức đẩy tông đồ của chúng ta thì rất thực tiễn, hoàn toàn khác biệt và phức tạp.

  • Một loại hiểu biết đặc biệt trong việc chăm sóc các Salêdiêng sư huynh

Cha phải vun trồng một thái độ thông cảm như một diễn đạt về tình hiền phụ của cha.

Không ai khác có thể thế chỗ của cha trong việc này. Cha hãy chuyên cần nghiên cứu ơn gọi của các sư huynh hầu hiểu được những động cơ nằm dưới việc chọn lựa để nên một người tu sĩ giáo dân, hiểu được khoa linh đạo nhờ đó ơn gọi này được sinh động và khoa tâm lý làm đặc trưng nó. Mối quan tâm của cha sẽ cổ xúy người sư huynh phát triển những năng khiếu trần thế biệt loại mà làm họ nên một cấu tố thiết yếu của sứ mệnh chúng ta. Trong các hoạt động cha phải có khả năng cho thấy rằng cha đã hiểu và cha muốn minh chứng cách thực tiễn sự kính trọng lớn lao mà Don Bosco dành cho các sư huynh cũng như tình yêu vĩ đại ngài ấp ủ họ.

Đặc biệt những nhắc nhở thực tiễn sau đây thật quan trọng:

  • Cha hãy nhớ rằng người sư huynh cần đối thoại với một ai đó biết những vấn đề của họ mang cả hai tính chất thiêng liêng và trần thế. Họ không đòi giám đốc của mình phải thành thạo trong những vấn đề kỹ thuật; nhưng họ có lý mong chờ cha phải có một loại hiểu biết toàn diện về tình trạng mà có thể đưa tới một cuộc đối thoại hữu ích.
  • Cha hãy thâm tín rằng người sư huynh muốn cha thăm họ đang khi làm việc để cá nhân cha sẽ biết được những hoạt động họ dấn thân vào, biết được những vấn đề, những nhu cầu và hoạch định của họ. Cha đừng sợ ‘khuấy rối’ họ hay làm mất giờ của họ. Giám đốc thăm hỏi, chú ý đến các sự việc, khích lệ và khen thưởng họ sẽ làm cho họ tín nhiệm và mang lại những ích lợi lớn lao.
  • Cha hãy lợi dụng mọi cơ hội để trình bày ơn gọi sư huynh cho giới trẻ, cho dân chúng nói chung, cho những vị chức quyền dân sự và giáo quyền. Cha hãy cho thấy những đường nét đó và hoàn thành chúng sẽ mang lại thanh danh cho nhà và Tu hội.
  • Cha đừng quên rằng để chu toàn những trách nhiệm của mình, người Salêdiêng sư huynh có thể cần phải tiếp xúc thường xuyên với thế giới kỹ thuật, thương mại, công việc, nghệ thuật, thể thao hoặc với thế giới giáo dục về loại trách nhiệm biệt loại của họ trên bình diện giáo dục và tông đồ. Những tiếp xúc này thiết thân với sứ mệnh của họ. Hơn nữa, chúng là những dụng cụ sẽ mang lại cho họ cơ hội thủ đắc kinh nghiệm, tính nhạy bén và ngôn ngữ của người đời và như thế, là phương tiện họ cần thiết để chu toàn vai trò tông đồ của họ. Đàng khác, những giao tiếp này cũng có thể là dịp thử thách đối với họ.

Cha Rinaldi nói rằng giám đốc nên bàn luận với những người liên hệ trong những tình huống như thế với cách thức người cha trao đổi với ‘những người con đã lập gia đình’ của mình: ngài nhận xét họ với một sự âu lo nào đó và cũng với niềm tin tưởng, và khi cần ngài giúp họ đạt được sự thanh thản, sự an toàn và cảm thức về sự quân bình.

  • Cha hãy nhớ rằng những nét trần thế của người sư huynh cùng với kho tàng kinh nghiệm và khả năng của họ là giấy thông hành cho phép họ đi vào những môi trường rất khác biệt và rất trần thế. Do những phẩm tính trần thế họ có thể tiếp cận một số người mà có lẽ đã không bao giờ tín nhiệm vào người khác. Vì vậy, những đặc tính trần thế này là một dụng cụ quý báu cho việc tông đồ và nên được tích cực khích lệ và cổ xúy.
  • Cha hãy cổ võ văn hóa tôn giáo và kiến thức trần thế của các sư huynh. Cha hãy khích lệ mỗi hội viên thăng tiến tới mức họ có thể và ngay cả phải trả giá bằng sự hy sinh chăng nữa, để họ có thể phục vụ giới trẻ tốt đẹp hơn và làm cộng thể phong phú. Cha hãy duyệt lại việc đào luyện họ đã có và nếu cha khám phá ra bất kỳ những lỗ hổng lớn nào, cha hãy làm hết sức để giúp họ lấp chúng lại.[377] Bằng cách này cha sẽ làm phần của mình trong việc thưc thi việc phục vụ của cha là đào luyện liên tục, là trách vụ hàng đầu trong Tu hội của những người thực thi thừa tác vụ đào luyện, bởi vì họ được gọi đảm đương vai trò đó.
  • VIỆC THỰC THI CÁC LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM

   Là một người sinh động, giám đốc có một trong những nhiệm vụ hàng đầu là giúp các hội viên hiểu biết ý nghĩa Phúc Âm của việc tuyên khấn tu trì.

   Hiến luật mô tả bổn phận theo Đức Kitô cách quảng đại và vô điều kiện theo phong thái và tinh thần đặc thù của chúng ta. Nó phác họa cho chúng ta những nét chủ yếu của ơn gọi chúng ta và cống hiến cho chúng ta một lối sống.[378] Khi trở thành tu sĩ, chúng ta đã thực hiện một sự chọn lựa quảng đại, khó khăn nhưng hoàn toàn ý thức.

   Hiến luật cung cấp những nhắc nhớ mà chúng ta cần để có thể canh tân sự cam kết lớn lao và hấp dẫn mà chúng ta tự do ràng buộc với Đức Kitô.[379] Cha phải có khả năng khám phá và giúp kẻ khác khám phá mối liên hệ chân thật giữa các hoàn cảnh khác nhau trong đó chúng ta sống với dự phĩng tu trì Salêdiêng như được chứa đựng trong Hiến luật.[380]

3.1. Đặt sự vâng phục Salêdiêng trong bối cảnh riêng của nó.

  • Đặt sự vâng phục Salêdiêng trước tiên trong một bối cảnh đời tu

Đức vâng phục có tính cách tôn giáo khi nó liên hệ đến mối tương quan với Thiên Chúa. Giá trị cao cả của vâng phục hệ tại ở mối tương quan này: “Người tu sĩ vâng phục những con người không phải vì điều nơi chính họ, nhưng bởi vì họ có thể giúp người tu sĩ theo Đức Kitô và tỏ cho người tu sĩ cụ thể thánh ý Thiên Chúa là gì.”[381]

   Vì kết hiệp mật thiết với Đức Kitô bằng lời khấn vâng phục, người Salêdiêng làm sống lại sự vâng phục của Đức Kitô trong Tu hội và trong Hội Thánh và cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa Cha. Đó là một chương trình mà chúng ta không trực tiếp tri nhận được, nhưng nhờ mau mắn vâng nghe Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể nhận thức được nó trong các biến cố hằng ngày qua các Tin Mừng, Hiến luật và bề trên cộng thể.[382]

  • Đặt vâng phục trong bối cảnh Salêdiêng

   Vâng phục và quyền bính Salêdiêng tạo thành chuyện trong gia đình,[383] và được gợi hứng bởi sự thanh thản tín nhiệm lẫn nhau.[384]

   Lý tưởng là không bao giờ cha phải áp đặt quyền bính của cha. Ít nhất, như Hiến luật nói, “hãy dè dặt sử dụng quyền bính.”[385] Ở đây, “dè dặt” là “ít khi”, nhưng cũng có nghĩa là “được suy nghĩ kỹ càng” với một lý trí được đức tin và tình yêu hướng dẫn.

   Kết quả là hội viên sẽ cảm thấy buộc phải phát triển sự trưởng thành cần thiết để đảm nhận trách nhiệm đối với những cam kết của mình,[386] và sẽ tránh được hai thái cực là vâng phục thụ động và không khoan nhượng của quyền bính.

3.2. Chứng tá về ý nghĩa đức thanh khiết Salêdiêng

   Don Bosco đã chọn sống sự độc thân Tin Mừng như lời đáp trả lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình và cũng như một phương thế để thực thi sứ mệnh của mình như một người cha và người mục tử của giới trẻ, một sứ mệnh mà ngài cảm thấy được kêu gọi tới do ơn gọi linh mục của mình. Trao tặng chính mình cho Hội Thánh và nhất là cho giới trẻ làm ngài nên sáng tạo và thâu lượm được kết quả trong các công việc và các dự định. Nó là nguồn lạc quan và vui tươi trong lao nhọc tông đồ và làm cho nhiệt tình của ngài không vơi cạn. Ngài hiểu đức trong sạch không chỉ như một thói quen nhân đức, nhưng như một đường lối thực tiễn yêu mến Thiên Chúa và như một phong cách sống can dự đến và chứa đựng trong chính mình tất cả những nhân đức khác. Vì thế, ngài đặt thanh khiết ở ngay tâm điểm của sứ điệp giáo dục của mình.[387]

Cha phải chú ý cách riêng ba khía cạnh này:

  • Khía cạnh của đức trong sạch được coi như là một nhân đức toàn diện trong mức độ nhiều giá trị khác qui chiếu tới nó. Những giá trị đó là sự chân tình và những mối giao tiếp thanh thản, loại tình cảm chân thật và hữu vị được biểu lộ ra ngay cả khi không được đáp trả; lối diễn đạt hữu hình và có thể nhận biết của đức ái Kitô hữu dưới hình thức là lòng mến thương. Đây quả là những giá trị rất tích cực có nền tảng vững chắc trong tình yêu vô biên của Thiên Chúa.
  • Khía cạnh về mối tương giao giữa đức thanh khiết thánh hiến với cộng thể.

Cha hãy thường xuyên nhớ rằng chúng nâng đỡ hỗ tương cho nhau.

  • Đức thanh khiết rất khó khăn nếu không có cộng thể. Một bầu khí cộng thể giúp các hội viên sống đời độc thân Tin Mừng cách vui tươi, cổ võ tình bạn chân chính và sâu xa, giúp hết thảy hội viên trưởng thành và là một trợ lực lớn lao trong những lúc khó khăn.[388] Trong mức độ cha giúp cộng thể xây dựng chính mình cách vững chắc, cha sẽ nhờ đó cổ xúy các hội viên tăng trưởng một đức thanh khiết chói sáng.
  • Cũng thế, thật khó khăn để tạo nên một cộng thể chân thực nếu thiếu vắng yếu tố thanh khiết. Thanh khiết của chúng ta là nền tảng cho đời sống hiệp thông của chúng ta. Nó giúp chúng ta phát triển ý thức Kitô hữu về mối tương quan cá vị, nó làm cho chúng ta có thể hiến mình cách tự do, và nó giúp làm cho cộng thể trở thành một gia đình nơi đó sự thanh thản, thông cảm và tình thân ái ngự trị.[389] Điều mà thanh khiết và cộng thể có chung với nhau, chính là hiến thân mình cho Thiên Chúa nơi anh em mình. Và như thế sự tăng trưởng của một bên kéo theo sự tăng trưởng của bên kia. Vì vậy, không khó khăn chi để hiểu rằng thiếu trưởng thành tình cảm là phương hại đến tinh thần gia đình và việc hiến mình trong sự độc thân tu trì.[390]

   Mối liên hệ giữa độc thân và cộng thể là một trong những cơ cấu quý báu mà chúng ta những người Salêdiêng có được trong đời sống tu trì.[391] Giám đốc không nên quên rằng bên cạnh những khủng hoảng được nối kết với sự phát triển nhân vị, ngày nay chúng ta đối diện với một ‘khủng hoảng là sự chán chường’ đang gia tăng.

   Chỉ có một sự hiểu biết các khía cạnh tích cực của việc theo Đức Kitô như là “một đường lối Kitô hữu sâu xa để yêu Thiên Chúa và đồng loại”[392] mới có thể cống hiến những lý do đầy đủ cho một cảm thức về cái mới mẻ và niềm vui.

  • Khía cạnh tỉnh thức. Cha phải khôn ngoan và chăm chỉ giúp mọi người để có được một thái độ tự nhiên, thanh thản trong sáng và không mờ ám đối với đức thanh khiết.

   Ý thức được những giới hạn của bản thân, hành động cách tế nhị và trách nhiệm, sẽ giúp các hội viên hiểu một sự cam kết sống đời độc thân thánh hiến thật sự có nghĩa là gì.[393] “Thanh khiết không phải là một cái gì chiếm được một lần là xong rồi.”[394] Nó chỉ có thể là thực sự và chiến thắng trong bối cảnh của một đời sống sống thân mật với Chúa.

   Đức thanh khiết được giữ cho sinh động nhờ liên lỷ đối thoại cầu nguyện, nhờ đọc Kinh Thánh, nhờ lãnh nhận Thánh Thể và một tiến trình liên tục thanh luyện trong Bí tích Giao Hòa. Các phương thức hữu hiệu và cần thiết khác để gìn giữ đức thanh khiết được chuyển giao cho chúng ta qua truyền thống Salêdiêng là: lòng sùng kính con thảo đối với Đức Mẹ; cởi mở và tin tưởng vào vị linh hướng, cộng thể sống tình yêu huynh đệ; và thực hành khổ chế, làm việc và tiết độ.[395]

3.3. Định giá đầy đủ những yếu tố tin mừng tiêu biểu của đức khó nghèo Salêdiêng

   Đối với chúng ta, khó nghèo không chỉ thuần túy là một vấn đề xã hội. Cách thức Phúc Âm trình bày khó nghèo buộc chúng ta phải xét nó theo mối tương quan cốt yếu của nó với mầu nhiệm Đức Kitô. Chính trong mối tương quan này chúng ta tìm thấy sự biện minh cho lời quả quyết của Tổng Tu Nghị Đặc Biệt: “Đối diện với những vấn đề phức tạp chúng ta phải giải đáp, chúng ta hoàn toàn xác tín về nhu cầu phải đổi thay, nhưng chúng ta cũng hoàn toàn ý thức rằng điều ấy sẽ là kết quả của một não trạng mới, của sự sẵn sàng nhận ra ‘những dấu chỉ thời đại’, và sự trung thành với Phúc Âm và tinh thần Don Bosco.”[396] Qua chứng tá và lời nói, cha nhằm biến lời của Don Bosco về khó nghèo thành sự thực: “Các con hãy có đức khó nghèo trong lòng.” Để có thể kiện cường thái độ tinh thần này, cha phải biết làm thế nào giải thích đời sống hàng ngày, một đời sống có các nguyên tắc là sự khắc khổ và hy sinh, như một diễn tả về đức khó nghèo Phúc Âm. Hiến luật chúng ta nói về người Salêdiêng: “Nếu tình trạng khó nghèo có thể tạo nên cho họ những bất tiện và đau khổ, họ hãy vui mừng là vì có thể chia sẻ được với những người nghèo những chúc lành của Chúa đã hứa.”[397] Cha cũng phải coi như là những diễn đạt của khó nghèo: sự trung thành học hỏi và làm việc, kể cả việc tay chân như là phương tiện để tự kiếm sống; hoàn toàn sẵn sàng để chu toàn sứ mệnh Salêdiêng cho giới trẻ (“Ước muốn sống an nhàn và dễ dãi là mối đe dọa trực tiếp đến sự trung thành và lòng quảng đại tông đồ của họ;”)[398] chia sẻ quảng đại và vui vẻ; hiểu biết người nghèo và giới lao động cũng như cố gắng cảm thông với họ, tạo nên mối tương quan cởi mở và bằng hữu với họ, tham gia đấu tranh để giải phóng họ;[399] phục vụ các nhu cầu của xã hội loài người như một ưu tiên.[400]

3.4. Mối liên hệ giữa các lời khuyên Phúc Âm với sứ mệnh chúng ta.

   Đúng là chúng ta dần dần hiểu biết giá trị Phúc Âm của việc tuyên khấn tu trì chúng ta qua lời cầu nguyện và sự hiệp thông huynh đệ với các anh em chúng ta; nhưng kinh nghiệm của chúng ta trong việc tông đồ cũng giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của nó.

   Hiệp thông huynh đệ và việc thực thi các lời khuyên Phúc Âm được sống trong bối cảnh và hòa hợp với những đòi hỏi của công việc tông đồ cần phải hoàn thành, làm giầu cho chính công việc tông đồ. Các yếu tố này có ảnh hưởng lẫn nhau. Giữa chúng có một sự hòa hợp hỗ tương.[401]

   Tất cả những điều này có nghĩa là cha phải có một kinh nghiệm thiêng liêng về sự kiện này. Cha cần ân điển phân định sự thật. Cha cần các ân điển khôn ngoan và tiên tri hầu có thể cảm nhận chân lý và thông truyền chân lý theo một cách thức mà đến nỗi các hội viên được Chúa trao phó cho cha có thể liên lỉ nhóm lên trong họ nhiệt tình đức ái.[402]

 

 

 

 

CHƯƠNG 5:

SINH ĐỘNG VÀ CAI QUẢN CỘNG THỂ TÔNG ĐỒ SALÊDIÊNG

  

 

Đức ái mà cha được mời gọi để chủ sự và là người sinh động hàng đầu trở thành “đức ái mục tử” Salêdiêng vì phần rỗi giới trẻ.

   Đời sống của mọi người Salêdiêng và cộng thể Salêdiêng giống như đời sống Don Bosco, trở thành “vừa tu sĩ vừa tông đồ cách bất khả phân.”[403] Mỗi chiều kích này bao gồm và ảnh hưởng hỗ tương đến chiều kích kia.

Và bởi vì Hệ Thống Dự Phòng diễn đạt đầy đủ nhất tính thống nhất của tất cả những khía cạnh này trong đời sống Don Bosco, nên cổ xúy và tái thực hiện Hệ Thống ấy là lối đường các hội viên phải theo nếu họ là “nhà giáo dục đức tin trong mọi lúc.”[404]

   Ta phải thắng vượt những khó khăn liên quan đến sứ mệnh hoặc trong Tu hội hay ngoài Tu hội. Hoạt động mục vụ của chúng ta phải được điều phối cách có trách nhiệm với những người xây dựng Hội Thánh theo nhiều cách khác nhau, và với những người trong xã hội làm việc cho cùng những mục tiêu đó, ngay cả với một mức độ hạn chế. Điều này giúp chúng ta hoàn thành sứ mệnh cách hữu hiệu hơn. Bằng cách này chúng ta ý thức về căn tính của mình và giúp nhau rộng mở trước những ân điển ta có, hầu chúng ta có thể cùng nhau làm việc xây dựng Hội Thánh.

  • DON BOSCO MỘT NGƯỜI CÓ MỘT NHÂN CÁCH HỊA HỢP

   Bất kỳ ai biết về đời sống Don Bosco đều ấn tượng vì nhân cách hòa hợp tốt đẹp của ngài. Chúng ta, các Salêdiêng “chiêm ngắm nơi ngài sự hòa hợp sáng chói của ân sủng và bản tính. . . Ngài sâu xa là một con người và sâu xa là người của Thiên Chúa. Hai khía cạnh này hòa hợp với nhau trong một kế hoạch (đời sống) làm cho đời sống ngài thành thống nhất: làm việc cho giới trẻ.”[405]

   Đây chắc chắn là một trong những nét nổi bật của ngài, một nét được sự khởi hứng và ân sủng của Thiên Chúa làm cho mạnh hơn. Thật vậy, đó thật thiết thân với phong thái ngài để cổ võ sự hòa hợp và cộng tác giữa mọi người, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các cơ chế, và sự thống nhất của các mục tiêu giáo dục (học hành, sức khỏe, sự thánh thiện) để phục vụ nhân vị và những nhu cầu khác nhau của họ (lương thực, văn hóa, đức tin). Chính cách thức trong đó ngài thiết lập mối tương giao với Thiên Chúa, Đấng kêu gọi và sai ngài đến giúp đỡ giới trẻ, cho ta một trực giác vào tính chất thiêng liêng của ngài. Từ giấc mơ chín tuổi, ngài nhìn xem Thiên Chúa là một người Cha hằng hiện diện với ngài. Sự kiện là ngài cảm thấy được kêu gọi để làm việc vì phần rỗi các linh hồn thúc đẩy ngài ưa dùng tước hiệu ‘Đấng Cứu Độ’ khi cầu nguyện với Thiên Chúa.[406] Điều mới mẻ về Don Bosco chính là cách thức đặc biệt của ngài nhìn lên Thiên Chúa là Cha và Đấng Cứu Chuộc đồng thời trong Thiên Chúa thấy chính mình là người tôi tớ trong Kinh Thánh, vốn không thể khước từ đảm nhận sứ mệnh của mình. Thái độ nội tâm liên lỷ của ngài là đây. Ngài thường diễn tả nó trong hình thức cầu nguyện đơn sơ và trực tiếp, trong những ao ước của ngài, trong hướng ngài hoạt động, trong việc hiến thân cho công cuộc của mình, trong sự đón nhận khiêm tốn mọi khó khăn, nhọc mệt và trong cách thức ngài đối diện với chúng, trong tính cụ thể (hiện thực) của các phán đoán cũng như các dự phóng của ngài và trong sự lạc quan thanh thản của ngài. Ngài diễn tả và giải thích cho Đaminh Savio về lối đường độc đáo này của mình vào năm 1854.[407] Đây là cách thức ngài thống nhất trong lối sống của chính mình “sự hiện diện mãnh liệt của Đấng kêu gọi và niềm vui được là dụng cụ của Ngài” mà những tài liệu nhằm canh tân của chúng ta nói đến.

  • HỆ THỐNG DỰ PHỊNG, BẢN TỔNG HỢP V SỰ THỂ HIỆN ƠN GỌI SALÊDIÊNG

   Hệ Thống Dự Phòng diễn đạt ý nghĩa nhất các khía cạnh khác nhau của toàn đời sống cá nhân và tông đồ của Don Bosco. Điều này quá đúng đến nỗi cha Caviglia cân bằng hai vế: Hệ Thống Dự Phòng là Don Bosco. Việc đào luyện các Salêdiêng tiên khởi hệ tại chính ở việc học sống và thực hành Hệ Thống Dự Phòng và điều này cũng là truyền thống trong việc đào luyện các thế hệ tiếp theo. Cha Albera dựa trên truyền thống xa xưa khi viết: “Hệ Thống Dự Phòng là hiến chương, Magna Carta, của Tu hội chúng ta.” Cha Rinaldi thường xuyên nhắc lại cho các hội viên trẻ: “Một người Salêdiêng hoặc là người Salêdiêng chân chính hoặc không là gì hết; hoặc là người Salêdiêng của Don Bosco hoặc không là chi cả; nếu chúng ta học đòi Don Bosco và đem Hệ Thống của ngài ra thực hành, chúng ta sẽ thực sự là con cái ngài; bằng không, chúng ta chẳng là gì cả, công việc của chúng ta sẽ vô ích và chúng ta sẽ đi trệch đường.”[408]

   Khi xét mình trong Tổng Tu Nghị 21, Tu hội khảo sát những lý do khiến cho “những kinh nghiệm tiêu biểu về Hệ Thống Dự Phòng bị mờ nhạt, nếu không phải là biến mất hoàn toàn (ít nhất là ở một số miền).”[409] Sau khi liệt kê một loạt những nguyên nhân văn hóa mà chắc chắn có ảnh hưởng, tài liệu đi đến kết luận này: “Một nguyên do triệt để hơn cả có lẽ là sự suy thoái về căn tính và sức sống tu trì của người Salêdiêng mà không thể không can dự đến Hệ Thống Dự Phòng, vì thấy rằng trong đó, Don Bosco “cô đọng lại cho các con cái ngài tất cả khoa linh đạo và hoạt động tông đồ của ngài.”[410]

   Đối với chúng ta, bản tổng hợp về sứ mệnh và sức sống tu trì có nghĩa là Hệ Thống Dự Phòng.

Điều đó cũng đã xảy ra trong trường hợp của Don Bosco, và ngài hiểu điều gì đang xảy ra. Cha Ceria thực sự đúng khi viết: “Để diễn tả cách vắn gọn, Hệ Thống của Don Bosco đem lại những học sinh tốt bởi vì trước tiên nó đem lại những nhà giáo dục tốt lành.”[411] “Vì thế người Salêdiêng của Don Bosco không thể hiểu đúng ý nghĩa của sứ mệnh mình mà không suy tư nghiêm chỉnh Hệ Thống giáo dục mục vụ mà Don Bosco để lại cho chúng ta như một gia sản quý báu.”[412]

   Tình trạng thúc Don Bosco viết thư cho cha Costamagna liên quan đến Hệ Thống Dự Phòng.[413] Các Salêdiêng tiên khởi ở Achentina thấy rất khó khăn áp dụng Hệ Thống Giáo Dục Dự Phòng. Chính Don Bosco can thiệp bằng gởi một lá thư cho những người liên hệ hầu làm minh tỏ các vấn đề và đặt vấn đề thẳng thắn. Theo một ghi chú trong Epistolario,[414] lá thư này cho thấy rõ ràng Hệ Thống Dự Phòng quan trọng biết bao trong trí Don Bosco và như thế nào các Salêdiêng ở những nơi xa xôi đảm bảo cho người cha tốt lành của họ bằng những phản ứng của mình rằng họ đã hiểu đúng điều ngài nhấn mạnh. Ghi chú viết: “Sự phong phú thiêng liêng và vật chất sau này của tỉnh dòng Achentina được qui gán cho những hiệu quả của lá thư này. Không chỉ giám tỉnh song cả những người khác viết thư cho Don Bosco để cám ơn ngài, sau khi đã chép lại lá thư ấy. Một vài Salêdiêng cảm thấy có tội vì đã không thực thi Hệ Thống Dự Phòng; họ thấy mình đặc biệt khó giữ bác ái khoan dung và kiên nhẫn, nên đã buộc mình khấn hứa thực thi hệ thống ấy; họ có thói quen canh tân lại lời khấn này mỗi tháng vào ngày dọn mình chết lành.” Đó là lời khấn thứ tư của người Salêdiêng khi Don Bosco vẫn còn sống!

   Ngày nay nữa như một ân huệ đặc biệt, Hệ Thống Dự Phòng sẽ thống nhất và mang lại ý nghĩa cho đời sống và hành động của các hội viên của cha, nếu Hệ Thống thực sự được đem ra thực hành: “Nó có thể trở thành một trong những sự đổi mới mà các Salêdiêng là những người cổ xúy đặc trưng của chúng trong cuộc gặp gỡ giữa Giáo Hội và giới trẻ.”[415]

2.1. Tái sinh động Hệ Thống Dự Phòng để chu toàn sứ mệnh của chúng ta

   Đôi khi các giám đốc tra hỏi với một sự nhấn mạnh nào đó: “chúng tôi có nhiệm vụ phải làm gì?”

   Họ hình như yêu cầu những giải pháp rõ ràng cho những vấn đề tức thời; nhưng không thể cung cấp cho họ bởi vì chúng ta đang bàn đến Tu hội trên bình diện thế giới lớn rộng; nơi đó chúng ta chỉ có thể cống hiến những hướng dẫn tổng quát. Cha phải đảm bảo rằng chính mình hiểu rõ những khó khăn và mức độ chúng tác động đến hoàn cảnh địa phương. Cha phải thâm tín rằng ở đó là những lý do vững chắc để có được một kế hoạch chương trình mục vụ và giáo dục trên cả hai bình diện tỉnh và địa phương hầu cha có thể thông giao cách thuyết phục sự thâm tín này cho những người không có nó. Cha phải biết ta phải miêu tả được những giá trị nào trong kế hoạch này cũng như những tiêu chuẩn phải hướng dẫn chương trình mục vụ hầu nó sẽ phù hợp với những nhu cầu thực sự. Cha phải ao ước mãnh liệt là phải làm thành của mình những hỗ trợ mà nhà Trung Ương hay ban cố vấn tỉnh cũng như các ban ngành của tỉnh dòng đã cung cấp sẵn.

Đâu là những khó khăn lớn ta kinh nghiệm?

Khó khăn thứ nhất nảy sinh ra do chính bản chất của kế hoạch mục vụ này. Nó là một sơ đồ bỏ ngỏ, được phác họa để đáp ứng những vấn đề “theo những nhu cầu thời đại”. Thật dễ hiểu, tính chất uyển chuyển của kế hoạch ấy cũng là một nguồn khó khăn, bất khả tránh né. Nó cũng là lối đường đối với Don Bosco. Hệ Thống Dự Phòng là kết quả của 45 năm ngài ở giữa những người trẻ. Đó là kết quả do ngài suy tư trên nhiều sáng kiến và dự phóng vốn được bắt đầu và trương rộng liên lỷ do những hoàn cảnh tôn giáo và con người đương thời cũng như những yếu tố bên trong và bên ngoài, giữa năm 1841 và 1888.

Từ thời đó trở đi, kế hoạch mà Don Bosco coi như kinh nghiệm của ngài phải được chuyển giao[416] và được những người khác làm sống lại[417] một đàng sẽ liên lỷ phải kính trọng những giá trị thường hằng của nó và đàng khác, sẽ phải làm cho nó giầu thêm do tiếp xúc thực tiễn với những điều kiện và kinh nghiệm của người trẻ: do đó những giá trị này mặc lấy một màu sắc địa phương và hình thành nên một dự phóng hợp thời đại.[418]

Vì thế đó là một kế hoạch liên lỷ đang hình thành. Theo một nghĩa nó thay đổi bởi vì những người trẻ thay đổi dưới diện tuổi tác, hoàn cảnh, thời đại, nơi chốn và văn hóa. Nhưng nó là một kế hoạch có thể đáp ứng những người trẻ và cứu độ chúng, cho dù bất kể chúng là gì và ở đâu. Phẩm chất của hệ thống cũng đòi hỏi chúng ta nỗ lực nhiều, theo nghĩa rằng sự giao tiếp có hiệu quả với giới trẻ được xây dựng chầm chậm và đòi phải “làm việc không mệt mỏi” như Don Bosco không ngừng lập lại. Nỗ lực lớn lao này là sự thiết yếu đầu tiên, lớn lao nhất và khó khăn nhất trong việc áp dụng đầy đủ Hệ Thống Dự Phòng.

Chính trong ý nghĩa và viễn cảnh này mà cha phải là một người hướng dẫn mục vụ.

Một cách chuyên biệt hơn nó có nghĩa rằng cha phải “gìn giữ và canh tân lòng trung thành của các hội viên đối với những nguyên lý của Hệ Thống Dự Phòng.”[419] Những yếu tố mà cha phải canh tân là những đặc tính thuộc về trạng huống; chúng phải đi kèm với những yếu tố thường hằng mà cha luôn luôn gìn giữ.

Thực tế là di sản này của chúng ta nay đang ở trong tình trạng mới vốn kéo theo những nguy hiểm và những viễn cảnh mới. Nó đòi phải nghiêm chỉnh suy tư và cố gắng canh tân thực sự.

Cha không khó để cá nhân hóa những yếu tố thay đổi bởi vì hằng ngày cha tiếp xúc với chúng. Một số yếu tố ở trong chính Tu hội, chẳng hạn sự bành trướng có tầm vóc thế giới của Tu hội vào những bối cảnh lịch sử và địa dư khác nhau; những sự hiện diện khác nhau đòi hỏi, vai trò mới mà người Salêdiêng được mời gọi đảm nhận trong một cộng đoàn giáo dục và khoảng cách ngày càng tăng với những cội nguồn chúng ta theo thời gian và văn hóa.

Những yếu tố khác ở bên ngoài Tu hội, nhưng cũng ảnh hưởng đến sự cam kết giáo dục của Tu hội. Giữa những yếu tố này là tình trạng mới của giới trẻ tân tiến, là sự hiện hữu của nhiều cơ quan giáo dục, là sự tiến hóa đang tiếp tục trong những cơ chế này mà đòi hỏi đa nguyên, sự tự do và sự tham gia; và sau cùng sự tăng trưởng của khoa sự phạm như một khoa học có nhiều kế hoạch giáo dục khác nhau cùng lúc.[420]

2.2. Một chiến lược để tái sinh động

Các hội viên của cha gặp phải những khó khăn này và những khó khăn khác; một số có lẽ mang tính chất địa phương, và vì thế được cảm nghiệm sâu sắc hơn. Những khó khăn như thế rất là thực, trước tiên bởi vì tới một mức nào đó chúng mang dấu vết của văn hóa và hoàn cảnh thực tiễn mà từ đó chúng phát sinh, nhưng cũng bởi vì chính những người trẻ (mặc dầu đôi khi với một cách thức lộn xộn, thô kệch và gây lúng túng)[421] đặt ra một loạt vấn đề vốn không thể để người Salêdiêng yên, bởi lẽ họ biết rằng họ không có quyền coi thường những vấn đề như thế chỉ để họ sẽ không phải thay đổi hay chính mình bị thay đổi.

  1. Đâu là những thái độ và nguyên lý mà các hội viên cần để tái sinh động kế hoạch giáo dục của Don Bosco?

Trước tiên họ phải thực sự muốn một kế hoạch và họ phải quyết định triển khai kế hoạch của họ. Họ cần phải chia sẻ ý thức rằng có kế hoạch thì mới đem lại lợi ích lớn. Nhờ một kế hoạch như thế, họ có thể xác định họ đang nhắm đến điều gì trong công tác giáo dục của họ. Họ trao ban cho nó tính liên tục và giải phóng nó khỏi mối nguy hiểm là sự ương bướng dễ dãi; họ làm cho kế hoạch ấy thành có thể đối với những người có liên hệ để cùng cộng tác trong một khung là cùng chia sẻ những mục tiêu. Họ tăng cường nơi mình cảm thức thuộc về, và họ đồng ý để thừa hưởng cùng những nguyên tắc hầu đánh giá những hoạt động và các biến cố.

Trong thực tế ta có thể làm được việc tái sinh động ấy nhờ có những tiêu chuẩn rõ ràng và chân chính. Cộng thể của cha phải đặt việc hoạch định dựa trên những kinh nghiệm và những nhu cầu thực sự của giới trẻ.[422] Cộng thể phải ý thức về mối liên hệ giữa những nhu cầu này, lời Thiên Chúa và tiếng gọi của mình.[423] Cộng thể không được coi nhẹ thực tại và phải cụ thể chú ý đến những dấu chỉ thời đại.[424] Cộng thể rộng mở trước những giá trị tích cực,[425] nhưng cũng phải tỉnh thức.[426] Khi bị những tình huống khác nhau thách đố, cộng thể phải lợi dụng đầy đủ thứ sáng tạo vốn là hoa quả của đức ái mục tử và cảm thức mục vụ;[427] cộng thể phải thỉnh thoảng xem xét bước tiến của mình cách có hệ thống.

Những tiêu chuẩn này, xét như toàn thể, nảy sinh nhiều cách thức sống sứ mệnh Salêdiêng khác nhau. Dầu sao ta liên lỷ kính trọng những nguyên lý cơ bản của sự thống nhất đối với những người mà chúng ta làm việc cho, những mục tiêu của chúng ta và những phương pháp đặc biệt mà phong thái hoạt động mục vụ của chúng ta đòi hỏi.

Chúng ta vẫn phải xét ba khía cạnh khác có tầm quan trọng sư phạm và được nhấn mạnh trong các tài liệu về sự canh tân của chúng ta: đời sống bí tích và phụng vụ, lòng sùng kính Đức Mẹ và sự cam kết của chúng ta cho huấn giáo. Chúng ta cũng sẽ khảo sát một số những chỉ dẫn có tính chất phương pháp vốn gắn liền với phong thái giáo dục của chúng ta: môi trường, chiều kích ơn gọi, việc hộ trực, khía cạnh nhóm và sự tham gia cộng thể.

  1. Ba khía cạnh

Ba khía cạnh được nói đến ở trên nhấn mạnh đến sự kiện là kế hoạch giáo dục của chúng ta rõ ràng là một kế hoạch Kitô hữu mà khiến giới trẻ tăng trưởng tới mức độ cao nhất có thể được, nghĩa là, tới sự thánh hóa chúng. Chúng ta đang qui chiếu đến một loại tăng trưởng hài hòa vốn lưu tâm đến nhân vị với những vấn đề của hoàn cảnh trong đó họ sống; sự tăng trưởng này có tính cách tiệm tiến, và bao gồm sự phát triển nhân bản cũng như thiêng liêng nơi mỗi cá nhân theo những đường lối khác nhau và trong một bầu khí tự do hữu vị.

Là giám đốc, “do bởi việc thụ phong linh mục và kinh nghiệm mục vụ của cha,”[428] cha được kỳ vọng có thể giúp các hội viên của cha tránh được nguy hiểm là họ để cho khía cạnh nghiệp vụ của đời sống thống trị khía cạnh mục vụ, Tất cả chúng ta biết về những cộng thể chỉ nhấn mạnh đến một chiều kích trong sự cam kết của họ. Sự quân bình thì rất quan trọng, dù nó rất tế nhị và không dễ đạt đến.

Biết cách đạt được sự quân bình này là một nghệ thuật và một ân sủng được thông ban qua kinh nghiệm đời sống thực sự và giao tiếp cá nhân. Thừa tác vụ của cha đòi cha phải hoàn thành việc ấy bởi cha là người “hướng dẫn công cuộc giáo dục và sự phát triển nhân bản.”[429]

  • Đời sống bí tích và phụng vụ

"Tổng Tu Nghị 21 hãy khảo cứu xem trong thực hành, nền giáo dục Salêdiêng Don Bosco vẫn còn dựa trên các bí tích hay không, và Tổng Tu Nghị này hãy đưa ra những hướng dẫn cần thiết để bảo đảm cho lòng trung thành của chúng ta trong vấn đề cốt yếu như thế”. Đây là cách thức các hội viên nói lên một số quan tâm của mình trong những lược đồ tiền Tổng Tu Nghị.

Cha biết rất rõ rằng đối với Don Bosco mục tiêu của giai đoạn đầu tiên trong tiến trình giáo dục là cho các thanh thiếu niên gặp gỡ Đức Kitô, Nhà Giáo Dục, qua các bí tích. Các bí tích không được tách khỏi, song cắm sâu vào việc giáo dục cách sinh động. Có một sự đồng ý liên tục về loại tiếp cận này; bù lại các bí tích làm cho công việc giáo dục được dễ dàng và hữu hiệu hơn.

Sự kiện là ngày nay trình bày và đạt được cùng một sự tham dự đó vào các bí tích thì khó khăn hơn không có nghĩa rằng chúng ta ngừng cống hiến cơ hội ấy. Lối tiếp cận sư phạm của chúng ta dĩ nhiên phải là một lối tiếp cận nhân ái và thân tình, nhưng ta phải thực hiện lối tiếp cận ấy. Don Bosco khuyên chúng ta thế này: “Con hãy khích lệ, con hãy làm cho việc lãnh nhận các bí tích nên dễ dàng; con hãy tỏ cho thấy vẻ đẹp và sự vĩ đại của đạo giáo, hãy làm thế nào đến nỗi các thanh thiếu niên được tự phát kéo đến với các bí tích, nhưng không ép buộc chúng.”[430]

Năm phụng vụ là một cơ hội ngoại thường để tăng trưởng đạo giáo. Cha đừng xao nhãng sử dụng nó. Một cộng thể trẻ trung không thể sống mà không có bầu khí lễ lạc. Những lễ trọng của Kitô giáo là biển chỉ đường trong đời sống cộng thể. Một sự chuẩn bị về phương diện giáo lý và thiêng liêng phải dẫn đến các lễ ấy.

Việc cử hành thực sự phải hàm ẩn việc xin mọi người can dự vào những hoạt động phụng vụ, giải trí và văn hóa. Ta cần tạo nên một khoa sư phạm mới mẻ và toàn diện: khoa sư phạm của ngày lễ.

  • Lòng tôn sùng Đức Mẹ

Đức Mẹ đào luyện Don Bosco về phương diện thiêng liêng và theo cách này chuẩn bị ngài cho sứ mệnh đối với giới trẻ. “Chúa Thánh Thần đã làm trỗi dậy Don Bosco, qua sự can thiệp từ mẫu của Mẹ Maria, để cứu rỗi giới trẻ, thành phần quý báu đầy hứa hẹn nhưng cũng là thành phần mỏng dòn của xã hội.”[431]

Kinh nghiệm cá nhân của Don Bosco nâng đỡ niềm thâm tín của ngài về giá trị giáo dục của lòng sùng kính Đức Mẹ và vai trò quan trọng Mẹ đảm nhận trong sự tăng trưởng đời sống ân sủng của một linh hồn. Kinh nghiệm của chính mình phải làm cho cha có thể hình thành nên cùng một niềm xác tín này. Đức Maria là “Mẹ của ân sủng” và đi kèm với sự phát triển của đời sống ân sủng ngay từ lúc khởi đầu; Mẹ phù hộ các Kitô hữu và dõi theo người trẻ được tháp nhập vào trong Giáo Hội; Mẹ có uy quyền để là một lý tưởng và một khuôn mẫu Tin Mừng; Đức Maria là một người mẹ và giới trẻ thấy cần Mẹ chở che và trợ giúp trong cuộc chiến đấu chống lại tội lỗi. Những nghiên cứu hiện đại về thần học làm ta dễ hiểu hơn vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu rỗi, trong đời sống Giáo Hội, trong mầu nhiệm cá nhân của Đức Kitô cũng như trong đời sống chúng ta và các người trẻ.

  • Chúng ta ưu tiên cam kết cho huấn giáo

Nhờ việc loan báo mầu nhiệm Kitô giáo, qua những trực giác sâu xa hơn về đức tin mà ta dần dần phải có trong sự tăng trưởng trong Thần khí, qua sự học hỏi chín chắn về những tình trạng hiện đại và những chủ nghĩa của nền văn hóa hiện đại, cha cùng các hội viên và các thanh thiếu niên phải đạt được một sự lãnh nhận các bí tích cách ý thức và tham dự cách thâm tín hơn vào mầu nhiệm của Đức Maria, hầu trở nên một với Đức Kitô.

Để đạt được mục đích này, cha được mời gọi để:

- “Hiến mọi nỗ lực cho hoạt động huấn giáo;

- Hướng dẫn các cộng đoàn giáo dục và mục vụ đạt tới một sự hiểu biết sâu xa hơn về sứ điệp cứu độ qua huấn giáo, được tổ chức một cách hệ thống chứ không phải chỉ thỉnh thoảng mà thôi;

- Chú ý đặc biệt đến phương tiện mà dần dần đưa đến việc cổ võ một sự trưởng thành Kitô hữu đầy đủ và những cam kết ngày một hơn vào xã hội dân sự và cộng đoàn Giáo Hội.”[432]

  1. Một vài chỉ dẫn mang tính phương pháp luận

Kinh nghiệm và suy tư khiến Don Bosco nhấn mạnh môi trường như phương thế và khung cảnh giáo dục, và chiều kích ơn gọi như yếu tố thống nhất hóa trong nhãn quan toàn diện về giáo dục, bởi vì nó cung cấp những động lực cho tất cả mọi chọn lựa khác mà người ta phải làm trong bối cảnh của môi trường đó.

  • Một môi trường tươi sáng và mãnh liệt của sự tham gia và của những mối tương quan huynh đệ, bằng hữu và chân thành.[433]

“Hệ Thống Giáo Dục Dự Phòng đòi hỏi một môi trường tươi vui là sự tham gia mãnh liệt và những mối tương quan huynh đệ, bằng hữu và chân thành.”[434]

Don Bosco có một nhân cách hấp dẫn và một uy lực đối với các thanh thiếu niên của ngài đến nỗi ngài có thể ràng buộc chúng với chính mình bằng điều này mà thôi. Tuy nhiên, ngài liên lỉ quan tâm tạo nên một môi trường giáo dục thích hợp.

Ngài lợi dụng nhiều chi tiết bé nhỏ đến nỗi chúng giúp tạo nên một bầu khí. Ngài quan tâm đến mọi sự, từ phong thái trang hoàng những phòng khác nhau đến sự khôn ngoan tin tưởng những thiếu niên thật sự là những gương mẫu; từ những áp-phích mà giúp cho thanh thiếu niên từ từ hiểu chính mình hơn và có được một hình ảnh về chính mình tốt hơn cho đến cách thức cộng thể cầu nguyện; từ những phương pháp dạy giáo lý đến những loại thể thao mà chúng dấn thân vào; từ sự kiểm soát ở bình diện ganh đua trong hoạt động giải trí cho đến nỗ lực bỏ đi mọi hình thức hời hợt và xao nhãng bổn phận.

Vì cha chịu trách nhiệm cổ võ sự hiệp nhất, nên trách vụ chính yếu của cha là đảm bảo tạo nên được một môi trường giáo dục thực sự. Đây là một vài mục tiêu mà như một giám đốc cha phải nỗ lực vươn đến.

  • Nên bỏ đi những lối tiếp cận nệ hình thức

Điều gây hại nhất cho những tương giao giáo dục là tính hời hợt và quá hình thức. Giáo dục trở thành không thể được khi nó liên kết với những thái độ và hành vi bên ngoài mà có tính chất bàn giấy quan liêu; khi “những bộ luật lạnh lùng thay cho đức ái,”[435] theo lối nói của Don Bosco; khi việc tuân giữ bên ngoài là tất cả những gì nhà giáo dục quan tâm đến. Trong những trường hợp này, thiếu vắng những mối tương giao hữu vị thực sự, việc chia sẻ những quan tâm chung, và những chương trình được cùng nhau hoạch định và không thể có được cái gia đình Don Bosco muốn.

  • Phải có một sự thông truyền các giá trị và chân lý

Một môi trường giáo dục tốt kéo theo sự hiện diện của những khuôn mẫu về những thái độ mà chứng từ về chúng đảm bảo giá trị của kế hoạch đời sống được cống hiến và đảm bảo sự thành công của những cam kết được thực hiện.

  • Phải có một tương quan với thế giới

Một phương pháp giáo dục nhấn mạnh đến môi trường như một yếu tố chủ chốt sẽ nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thế giới trong đó chúng ta sống và cổ xúy phải kính trọng nó, phê phán nó cách tích cực và cam kết làm cho nó nên tốt hơn. Đồng thời phương pháp đó cũng nhắm sử dụng năng lực bên trong và những phương thế thích hợp để chống lại và ngăn cản sự biến dạng và thao túng. Nhà giáo dục cố gắng tạo ra quanh mình một khu vực hấp dẫn trên phương diện giáo dục[436] mà khiến những người mà họ làm việc cho tiến về một nẻo đường chung. Theo phong thái Salêdiêng điều quan trọng không phải là tách biệt nhưng là đem lại với nhau “trong một kinh nghiệm năng động độc đáo các nhà giáo dục (như cá nhân và cộng thể) lẫn các học sinh, các chương trình và các phương pháp.”[437] Chúng ta có thể nói rằng chúng có nguồn gốc chung trong giấc mơ 9 tuổi và chúng cùng sống và phát triển với nhau.

  • Phải lập những nhóm trẻ

“Cổ xuý việc hình thành những nhóm trẻ là một chiều kích bất khả thế của lối tiếp cận dự phòng và nổi tiếng của Don Bosco đối với giáo dục.”[438] Chính ngài viết về điều này trong một thư luân lưu cho các Salêdiêng: “Trong mọi nhà mỗi hội viên phải làm hết sức để cổ võ những nhóm tông đồ nhỏ. . . Đừng ai sợ nói về những nhóm đó, khuyên gia nhập các nhóm đó, cổ võ chúng và giải thích các mục đích của chúng… cha tin rằng những nhóm như thế có thể được gọi là chìa khoá cho lòng đạo đức, bảo vệ cho luân lý và nâng đỡ cho những ơn gọi linh mục và tu sĩ.”[439]

Cách thức ấy tương ứng với ước ao của Don Bosco mong mỏi chúng ta tỏ ra quan tâm đến nhóm trẻ này lệ thuộc vào thời đại và hoàn cảnh đổi thay; những nhóm ấy Don Bosco rất tin tưởng. Ngày nay, người ta không yêu cầu sao chép một cách vật chất (máy móc) một công thức đặc thù nào. Chúng ta phải triển khai một trực giác thực tiễn và [thật sự] hiện thực vào trong lối bước giáo dục và mục vụ của ngài, và theo kịp những ứng dụng mới mẻ các nguyên lý của ngài[440] theo loại công việc mà chúng ta dấn thân vào.

Một khi cha đã nắm được những nét chính của môi trường giáo dục mà Don Bosco tạo nên, cha có thể hiểu sâu hơn về nó bằng cách tra hỏi xem tại sao ngài lại muốn nó cách đặc biệt như vậy.

Đối với Don Bosco môi trường là một sức mạnh giáo dục. Cha hãy gọi đó là “sân chơi”, nếu cha thích, hay “hội lành” (một nhóm do thanh thiếu niên sáng lập cho các thanh thiếu niên) hay “lễ hội gia đình”.

Đối với ngài, nó có nghĩa là nhận biết rằng người trẻ và các nhà giáo dục cần phải ở với nhau và cùng nhau sống một tiến trình giáo dục. Kinh nghiệm dạy cho ngài rằng thanh thiếu niên dễ dàng hơn chọn được nhiều thái độ và mẫu sống, nếu được thông truyền trong một bầu khí tự phát của cuộc sống hằng ngày. Trong bối cảnh này, ta dễ dàng hiểu được tầm quan trọng của “hộ trực” – sự hiện diện thân tình.[441]

“Hộ trực” có nghĩa là ở với trẻ. Nó là sự hiện diện chia sẻ, tham gia và tỏ ra quan tâm. Nó là một loại liên đới thiên về giới trẻ, có thể nói như thế: “Ở đây, giữa các con, cha cảm thấy thoải mái, thật sự đời cha là ở với các con.”[442] Đó là một sự hiện diện cứu độ nhằm thông truyền những ơn ích của Thần khí qua sự tín nhiệm và tình bạn.

Môi trường ấy cũng đáp ứng nhu cầu của Don Bosco là cần có những hỗ trợ về cơ cấu cho hệ thống của ngài. Môi trường cung cấp những kế hoạch và những kinh nghiệm thực tế, mà nâng đỡ hoạt động giáo dục trong những chọn lựa khác nhau của nó. Có những cơ cấu và những giá trị giáo dục, vốn đi kèm với tiến trình làm cho chín muồi dần dần, trong mối tương quan hài hòa với nhau, vì giúp cho mỗi người tiến lên theo nhịp bước tự nhiên của họ.

Một lối tiếp cận giáo dục lành mạnh đòi hỏi rằng những người được giáo dục dần dần đào sâu động cơ cho thái độ bên ngoài của họ qua những kinh nghiệm cá nhân sâu xa.[443] Bằng không, khi một người trẻ rời bỏ môi trường đặc thù trong đó người ấy được giáo dục, thì họ liều bỏ qua một bên những giá trị mà môi trường ấy nhấn mạnh.

  • Chiều kích ơn gọi

Don Bosco thâm tín rằng “không đáng là gì khi dùng quá nhiều năng lực hay tiền bạc để săn sóc một ơn gọi.”[444]

Chính cùng một xác tín này phải thúc đẩy cha khi hướng dẫn nỗ lực giáo dục toàn diện. Đặc biệt trong tiến trình hoạch định và lượng giá, cha phải giúp cộng thể đạt được một tầm nhìn toàn diện và thực tế cho cam kết giáo dục và mục vụ của cộng thể.

Hiến Luật và những công báo của Tổng Tu Nghị Đặc Biệt và Tổng Tu Nghị 21 thường quay lại với đề tài này. Tất cả vạch ra rằng thật không phải là Salêdiêng chút nào khi ta không công bố toàn bộ sứ điệp Kitô hữu vì một sự sợ hãi sai lạc rằng giới trẻ sẽ bị ảnh hưởng quá nhiều trong việc thực hiện điều phải là những quyết định tự do.

Khoản Hiến luật 18 cung cấp một đại cương về một con đường ta có thể theo và trình bày cho người khác: chúng ta cống hiến cho chúng lương thực nuôi xác, huấn nghệ và cả lương thực nuôi lý trí. Chúng ta giúp chúng rộng mở trước chân lý và kiến tạo sự tự do của chính mình. Chúng ta giúp chúng thưởng nếm những giá trị chân thật sẽ đem chúng đến sự thánh thiện Kitô giáo.[445]

Khi một người trẻ có khoé nhìn toàn diện về thực tại, thì những quyết định biệt loại mà họ phải làm có một ý nghĩa đối với người ấy; và họ có thể đạt được một hiểu biết và trân trọng ơn gọi của mình như một con đường họ sẽ theo trong cuộc sống.

  • Cha cũng phải minh nhiên cổ võ các ơn gọi. Đây là một phần toàn diện trong trách vụ của mỗi người Salêdiêng. Hiến luật buộc chúng ta phải tìm kiếm các ơn gọi và giúp thanh thịếu niên và người trẻ tăng trưởng trong ơn gọi của họ.[446]

Don Albera coi làm việc cho các ơn gọi (trong bối cảnh thời đó, ngài nói về ơn gọi linh mục và tu sĩ) là một trong những mục đích của Tu hội chúng ta. “Viên đá góc, trên đó công cuộc của chúng ta dựa vào là các Nguyện xá, hoạt động truyền giáo và làm việc cho ơn gọi: đây là ba mục tiêu mà Đấng Sáng Lập đáng kính thiết định cho những công cuộc của ngài.”[447]

Đây là bổn phận dứt khoát của giám đốc. Don Albera tiếp tục nói: “Trong một vài nhà, người ta quên rằng Don Bosco muốn mọi nhà phải là một vườn ươm mầm ơn gọi cho các địa phận và cho các Tu hội. Theo lối suy nghĩ của ngài, mọi giám đốc đều được giả định thiết yếu là một người vun trồng ơn gọi cách cẩn thận và hữu hiệu. Don Rua trong ký ức lâu bền cũng đồng quan điểm ấy. Mỗi lần, một giám đốc nào đó đến bàn luận với ngài về một điều gì, ngài luôn hỏi xem giám đốc ấy có chuẩn bị một số đông những ơn gọi mới hay không.”[448]

Cuốn Cẩm nang do Don Albera viết có một số điểm rất ý nghĩa về đề tài này. Ngài triển khai từng đề tài trong một chương riêng, nhưng ngài dành hai chương về đề tài ơn gọi tu sĩ. Những trang này vẫn đáng cho chúng ta đọc lại. Chúng chứa đựng ba ý tưởng chính:

- Nuôi dưỡng ơn gọi là vấn đề sinh tử đối với chúng ta;[449]

- Đào luyện những ơn gọi này lệ thuộc rất nhiều vào đời sống gương mẫu và đức ái của các hội viên;[450]

- Giám đốc đừng tìm những lời bào chữa để được miễn khỏi bổn phận rất quan trọng này.[451] Don Albera viết: “Giám đốc hãy hiểu biết sứ mệnh mình cách đúng đắn và hãy nhớ rằng ngài không thể được gọi là người con đích thực của Don Bosco nếu… ngài không bằng mọi cách cố gắng cổ võ số ơn gọi nhiều bao nhiêu có thể trong cánh đồng được Chúa Quan Phòng ấn định cho ngài.”[452]

Chúng ta có một thống kê lý thú mà Don Bosco đã xin các Salêdiêng sưu tập vào năm 1883, năm năm trước khi ngài qua đời. Hơn 2000 thanh thiếu niên đã từng được đào luyện trong nhà Salêdiêng, đã đạt được đến chức linh mục trong các địa phận riêng của họ; ấy là chưa kể đến những người ở lại với ngài để làm việc trong gia đình tu sĩ của ngài.[453] Don Bosco không bao giờ mệt mỏi nói về ơn gọi, dầu ngài làm điều ấy cách rất tế nhị: “Ngài tránh bất kỳ kiểu diễn đạt nào có thể làm người ta hiểu sai như một sự cưỡng chế hay áp lực một ơn gọi trên bất kỳ ai.”[454]

Hơn hết mọi người, ngài không chú ý đến công việc hay phí tổn liên hệ: “Không có gì gọi là tốn nhiều năng lực hay phí tiền trong việc chăm lo ơn gọi. Ta hãy coi số tiền ấy được sử dụng chính đáng.”[455]

Trong bộ Hồi sử, cha sẽ tìm được ba bài “huấn từ tối”[456] cho thấy một cách cụ thể phải nói cho thanh thiếu niên về ơn gọi như thế nào. Những hướng dẫn cụ thể của Tổng Tu Nghị 19 vẫn có thể ứng dụng được trong lãnh vực này.

Tổng Tu Nghị vừa qua của chúng ta cũng yêu cầu chúng ta có một biện pháp trong việc cổ võ những ơn gọi:

- Chúng ta được yêu cầu phải thay đổi từ việc nhấn mạnh đến tìm kiếm và chọn lựa ơn gọi tới việc nhấn mạnh đến phân định và hướng dẫn ơn gọi. Toàn thể tiến trình giáo dục được nhìn xem trong ánh sáng của hướng dẫn ơn gọi và những đòi hỏi của nó. Nhiều việc phải làm để đem lại sự thay đổi này rơi xuống trên vai của giám đốc. Cha phải cổ võ loại nhạy cảm này như là thiết thân với trách nhiệm toàn diện của cha là một người hướng dẫn.[457]

- Chúng ta được yêu cầu phải theo một kế hoạch cộng thể hơn là một tiếp cận tùy dịp và cá nhân. Giữa những lý do khác, đã có quá nhiều một khuynh hướng làm việc cách cá nhân để có được niềm vui là có thể nói: “Người Salêdiêng đó là ơn gọi của tôi”; “Tôi có trách nhiệm về ơn gọi đó.” Đúng hơn, chúng ta phải cùng nhau làm việc để đưa ra những lựa chọn mục vụ, những lối tiếp cận, chương trình và phương pháp giáo dục mà làm thành một sự hướng dẫn ơn gọi thực sự có hệ thống.

- Chúng ta phải vượt xa những cơ cấu (mà có thể sẽ được giữ rất kỹ, nếu được canh tân) và thành công trong việc khiến cho cá nhân và cộng thể nhạy cảm.

Những người chịu trách nhiệm sinh động ơn gọi, còn hơn là những người được ủy nhiệm để làm một số việc, phải là những người sinh động của cộng thể chúng ta và cung cấp cho họ thông tin trong khi liên hệ với những tổ chức của Giáo Hội.[458]

Đây là một điểm chủ yếu. Vấn đề hướng dẫn ơn gọi không bao giờ được mất đi khỏi cộng thể của cha. Cha phải xác định với chính mình một kế hoạch mà sẽ giúp cha hòa hợp công việc của mình với những cơ quan của Giáo Hội địa phương và với những sáng kiến của họ.[459]

  1. Những trách nhiệm của giám đốc

Cha có một số trách nhiệm đặc biệt liên quan đến những mối quan tâm sinh tử này, bởi vì chúng thuộc về chính yếu tính của sứ mệnh chúng ta và liên kết với ơn gọi Salêdiêng đúng thực của chúng ta. Những quan tâm và những giá trị này, dĩ nhiên theo một cách thức tỉ lệ cũng thuộc về cộng thể Salêdiêng thế giới và cộng thể tỉnh. Những cộng thể này phải vạch ra những hướng dẫn mục vụ, những mục tiêu và những đích nhắm giáo dục để đảm bảo được tính thống nhất thực hành và cung cấp một nền tảng cho tiến trình lên kế hoạch và lượng giá những công cuộc và hoạt động tông đồ đa dạng.

Nhưng cộng thể địa phương và người lãnh đạo nó cũng can dự vào; cộng thể phải trình bày chính xác rõ ràng kế hoạch mục vụ thống nhất và có tổ chức cũng như hàng năm duyệt xét lại.

Nhà Trung ương đã chuẩn bị những sự hỗ trợ hữu ích cho mục đích này đối với các tỉnh dòng và một số tỉnh dòng lại đã chuẩn bị những hỗ trợ cho các cộng thể địa phương.

Cộng thể của cha phải cùng nhau làm việc và chia sẻ trách nhiệm để trình bày xác đáng một kế hoạch như thế. Đâu là những điểm chính mà cha phải ghi nhớ, và yêu cầu cộng thể phải tập trung vào trong việc này. Công việc này phải được thực thi và các Salêdiêng phải làm việc này. Nó đòi hiểu biết, nhiệt tâm Salêdiêng và kiên nhẫn.

- Phải học hỏi lại kinh nghiệm giáo dục và mục vụ của Don Bosco như được tổng hợp trong Hệ Thống Dự Phòng. Như vậy:

+ Ta phải học hỏi, hiểu biết và thực hành hệ thống ấy cách cụ thể;

+ Ta phải trình bày nó một cách hệ thống như là suy tư có tính sư phạm cho những cộng sự viên giáo dân chúng ta. Ta phải nhập thể nó trong chính đời sống của cộng đoàn giáo dục;

+ Nó phải được so sánh khi bàn luận và đối thoại với những hệ thống giáo dục khác, đặc biệt nếu chúng được sử dụng trong những nơi chốn chúng ta làm việc.

- Sau khi đạt được mục tiêu đầu tiên này, cha sẽ phải trình bày chính xác rõ ràng một kế hoạch giáo dục. Kế hoạch này hòa hợp những trực giác của Don Bosco với những nhu cầu biệt loại của thanh thiếu niên mà chúng ta làm việc cho. Dầu những hoàn cảnh địa phương là gì đi chăng nữa, kế hoạch này phải là một tài liệu Salêdiêng chân thật theo quan điểm giáo dục, được dựa trên huấn giáo, việc đào luyện đức tin, sự tham gia cộng thể và nhóm trẻ.

- Kế hoạch này phải được triển khai trong những nét chuyên biệt và những áp dụng của nó trong một bầu khí của sự tham gia. Đây không phải là vì những lý do chiến lược, nhưng để nó sẽ thật sự đáp ứng được những nhu cầu thực sự, như một dấu chỉ về Giáo Hội và bởi vì tính chất bổ sung của những đặc sủng khác nhau đang bắt đầu hoạt động. Trong cộng đoàn giáo dục, cộng thể Salêdiêng là hạt nhân sinh động, và trách vụ này thật là đa dạng. Nó phải qui tụ toàn cộng đoàn lại và làm cho cộng đoàn ý thức về những mục tiêu giáo dục, phải hướng dẫn tiến trình lên kế hoạch theo một kiểu cách đến nỗi những mục tiêu này trở thành hữu hiệu. Cộng thể phải khơi động lên những nguồn mạch và những động lực ẩn trong tâm hồn của những nhà giáo dục; nó phải giúp họ triển khai một khoa linh đạo đem họ tới gần Đức Kitô, Nhà Giáo Dục, và truyền đạt cho họ những lý do của Tin Mừng để đến gần những người trẻ. Cộng thể ấy phải làm việc cùng với họ để tìm ra những câu trả lời cho những vấn đề giáo dục và văn hóa.

Loại sinh động này kéo theo một sự chuẩn bị và một vai trò hoàn toàn khác với tương quan thầy-trò. Nó đòi hỏi những người dấn thân vào trách vụ sinh động có được một nghệ thuật giáo dục trên lý thuyết cũng như thực hành. Nó đòi phải suy tư và học hỏi cũng như khả năng trình bày hệ thống của chúng ta cách rõ ràng và so sánh nó với những hệ thống khác. Về phía những người sinh động, nó đòi hỏi khả năng làm thư giãn những căng thẳng nảy sinh không thể tránh né được.

Trách vụ sinh động này thuộc về cộng thể Salêdiêng, chứ không chỉ thuộc về giám đốc hay hiệu trưởng hoặc giám học; nhưng giám đốc đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình khó nhọc này. Trong khi đồng lao cộng khổ với và như những người khác, ngài phải đóng góp cách có thẩm quyền vào việc trình bày rõ ràng kế hoạch mục vụ, đảm bảo rằng mọi yếu tố của tiến trình giáo dục đều có ý nghĩa mục vụ chân thật và đời sống của các hội viên giữ được yếu tố thống nhất hóa của nó.

Cha có trách nhiệm thông truyền sự thống nhất đời sống này trong lời nói và hành động. Cha sẽ không hiến đức ái mục tử chỉ cho bất kỳ một loại công việc nào hay chỉ thừa nhận một lối hành động nào mà thôi. Cha phải tỏ cho thấy làm việc theo tâm hồn linh mục, sacerdotalis animus, mà Công Đồng Vaticanô II nói đến có nghĩa là gì.[460] Điều thống nhất đời sống của cha là một cảm thức tông đồ và một sự kết hợp thiêng liêng và ý thức với Đức Kitô, Đấng được Cha sai đến, trong cả khi thực thi công việc tông đồ lẫn trong chốn thẳm sâu của tâm hồn cha.[461] Don Albera ý thức rõ là nối kết hai nhu cầu này lại cách hài hoà thật khó khăn biết bao. Ngài cảnh giác các hội viên: “Thật là một tệ hại nếu… do việc giải thích sai lạc những ý hướng của Đấng Sáng Lập, một hội viên phải kết luận rằng để là môn đệ của Don Bosco, có một đam mê đối với người trẻ, một sở thích đối với trường học và một đời sống ồn ào giữa đám thanh thiếu niên là đủ rồi, mà chẳng cần phải chuyên tâm đối với việc thánh hóa bản thân.”[462]

  • ĐỒNG TRÁCH NHIỆM VÀ VIỆC ĐIỀU PHỐI MỤC VỤ TRONG MỘT CỘNG THỂ RỘNG MỞ VÀ Ý THỨC VỀ MỐI TƯƠNG QUAN CỦA CỘNG THỂ TRÊN NHỮNG BÌNH DIỆN KHC NHAU

Chúng ta sống và làm việc như thành phần của Giáo hội, và vì thế, chúng ta hoạt động cách đồng trách nhiệm với tất cả mọi người, xây dựng Giáo hội theo những đường lối khác nhau. Trong Tu hội, chúng ta cộng tác với Tỉnh dòng và với trung tâm ở Rôma ; chúng ta làm việc liên đới với những nhóm khác nhau của Gia Đình Salêdiêng, với Giáo Hội phổ quát và địa phương, với tất cả những người thiện chí, ngay cả cách phiến diện thôi, cố gắng đạt tới cùng những mục tiêu mà chúng ta đang nỗ lực vươn đến. Ta có thể xét hoạt động mục vụ của cộng thể cha ở những bình diện khác nhau:

- Đó là hoạt động của cộng thể Salêdiêng, xét như là một nhóm thực thi một sứ mệnh: “Đời sống cộng thể Salêdiêng được thiết lập để hoàn thành một vai trò tông đồ trong Giáo hội, như một sự nới rộng của đức ái vốn hiệp nhất các hội viên với nhau và với Đức Kitô”;[463]

- Nó là hoạt động được thực thi trong một cộng đoàn giáo dục và mục vụ vốn lưu tâm đến sự hiện diện của các cộng sự viên giáo dân, đặc biệt những người thuộc Gia Đình Salêdiêng;[464]

- Nó là hoạt động của Giáo Hội,[465] không phải theo nghĩa chung chung, nhưng theo nghĩa loại biệt. Cộng thể của cha đồng lao cộng tác với những cơ quan tông đồ và giáo dục khác nhau;[466]

- Nó là hoạt động phục vụ cho Giáo Hội phổ quát, mặc dầu được tháp nhập vào bối cảnh của cộng thể địa phương;

- Nó là hoạt động truyền giáo trong bối cảnh của Giáo Hội phổ quát.

Những mối tương quan này và những dạng thái tiến hành là khung cảnh cho chúng ta hiệp thông huynh đệ và hoạt động tông đồ được hữu hiệu. Chúng cũng là tình trạng, trong đó, cho chúng ta ngày càng hiểu biết hơn về căn tính của mình và cũng là môi trường, trong đó, nó tăng trưởng. Hiển nhiên, cha không thể chịu trách nhiệm đối với những chi tiết của tất cả những tương quan này, nhưng qua công việc sinh động, cha phải đảm bảo rằng chúng được sắp xếp thích đáng và hữu hiệu. Như một chuyện thực tế, những người và những nhóm khác nhau này, trong khi chia sẻ với chúng ta những hồng ân nhân bản và siêu nhiên, nhận ra giá trị của điều chúng ta phải cho và khiến chúng ta chia sẻ giá trị đó với họ.

3.1. Các cộng thể thế giới, tỉnh và địa phương

“Giống như Giáo Hội phổ quát được biểu lộ trong sự đa nguyên của từng Giáo Hội khác nhau và những nhóm cơ bản, thì cũng vậy Tu hội Salêdiêng được tạo nên do những cộng thể tỉnh, rồi đến lượt mình, cộng thể tỉnh lại được lập nên do các cộng thể địa phương. Chúng mang lại khung cảnh cụ thể và cách thức thực tiễn, trong đó, ta thực thi sứ mệnh Salêdiêng.”[467] Cộng thể tỉnh đảm nhận lấy tầm quan trọng đặc biệt của mình khi “cộng thể ấy tạo thành một cấu trúc tổ chức Salêdiêng tương ứng tốt nhất với Giáo Hội địa phương.”[468] Đặc sủng chúng ta, sứ mệnh và tinh thần Salêdiêng, sự trao đổi kinh nghiệm và những ích lợi, tính liên đới ở mọi lãnh vực và sự phục vụ mục vụ chúng ta dành cho Giáo Hội cổ võ và nuôi dưỡng sự hiệp nhất giữa hai thực thể này.

Những yếu tố của tính hiệp nhất mà các cộng thể tỉnh và thế giới cung cấp cho cộng thể địa phương là tặng phẩm làm cho “môi trường cụ thể và cách thức thực tiễn, trong đó, chúng ta thực thi sứ mệnh Salêdiêng” thành có thể có được và sinh trái trăng.[469]

Đàng khác, sự phát triển của đặc sủng chúng ta, như được sống trên cấp địa phương theo những phương cách khác nhau mà chúng ta phục vụ những nhu cầu của giới trẻ trong một miền địa dư đặc thù, cho thấy sự giầu có của đặc sủng ấy; cũng như đem lại một sự hiểu biết sâu xa hơn về ý nghĩa và sự hữu ích của đặc sủng ấy. Sự hiểu biết này trở thành có tính chất cá nhân và cộng thể. Nó đào sâu cảm thức của chúng ta về căn tính cũng như cảm thức thuộc về của chúng ta.

Vì vậy, cha có thể hiểu rõ việc phổ biến thông tin Salêdiêng thật hữu ích. Cha ý thức rằng người ta phải quan tâm đến những thông tin ấy và truyền lan đi. Đôi khi thông tin gây ra vui tươi, khi khác tạo ra u buồn. Thỉnh thoảng nó đòi hỏi chúng ta liên đới, đôi khi nó mang lại bài học thực tiễn.

Đây là một tiến trình thông giao qua đó, cộng thể của cha được làm giầu nhờ điều đến từ cộng thể thế giới và tỉnh; và ngược lại. Chuyển động này phát sinh từ việc qui tụ lại những năng lực sống động “trong một sự quân bình không dễ đạt được.”[470] Do đấy đòi hỏi cha kiên tâm chú ý và nỗ lực liên lỉ để kích thích, thay đổi, sửa sai và khởi xướng.

Cha hãy làm mọi nỗ lực để giúp cộng thể cha rộng mở đối với bất kỳ điều gì thuộc về Tu hội rộng lớn, thuộc về Tỉnh dòng và địa phương.

  1. Rộng mở trên bình diện thế giới, có nghĩa là chấp nhận những trách nhiệm vốn bắt nguồn trong cộng thể đó về tinh thần, chứng tá và sự phục vụ mà Tu hội cống hiến cho Giáo Hội phổ quát.[471]
  2. Rộng mở trên bình diện tỉnh có những ý nghĩa khác nhau:
  • Nó có nghĩa là làm cho việc thông giao và dòng thông tin luân chuyển thuận lợi;
  • Nó có nghĩa là làm cho việc tham gia vào tông đồ nên dễ dàng nhờ lòng trung thành sâu xa, và sự sẵn sàng của cá nhân;
  • Nó có nghĩa là kiện cường mối giây hiệp nhất trong khi đồng thời kính trọng thẩm quyền và óc sáng tạo của cộng thể địa phương;
  • Nó có nghĩa là cổ võ tình liên đới hoặc là thuộc bình diện tài chính hay sự phân phối nhân sự hợp lý hơn.[472]
  1. c. Rộng mở trên bình diện địa phương thì cần thiết để có thể tránh được sự phân cực và ta chấp nhận nguyên tắc bổ sung. Cộng thể của cha phải rộng mở đủ để xem xét thích đáng đến những khác biệt giữa ơn gọi linh mục và sư huynh,[473] đến những tài năng và nhân cách của mỗi hội viên,[474] đến giai đoạn đặc thù của đời sống mà họ đang trải qua và vốn liếng kinh nghiệm họ thủ đắc được trong cuộc sống tu sĩ và hoạt động tông đồ (người trẻ và người già),[475] và đến những trách nhiệm cộng thể. Cộng thể sẽ tỏ ra quan tâm cách đặc biệt đối với những hội viên trẻ, người ốm đau và người thiếu thốn, chẳng hạn như người già cả và yếu đau,[476] đối với các hội viên đang kinh nghiệm các vấn đề. Cộng thể phải điều phối cơ cấu nội tại và tổ chức của mình theo một cách nào để làm cho chúng trở nên hữu hiệu và tiện ích đối với sứ mệnh.

Những lãnh vực giáo dục và mục vụ là thiết thân với cộng thể. Vì lợi ích của sự bổ sung và sự tản quyền đòi buộc rằng những lãnh vực này phải được thiết đặt cụ thể. Chúng phải có thể hoạt động cách nào thật là đúng lúc (đáp ứng được những nhu cầu xác đáng và tỉ mỉ), hữu hiệu (có kiến thức thực nghiệm về môi trường giáo dục) và có thẩm quyền (không giải quyết vấn đề cách mặc chăng hay chớ hoặc hão huyền). Cha phải hết sức làm cho việc thành lập các nhóm hoạt động này được thuận lợi; cha phải phối hợp các nhóm ấy lại, bảo đảm rằng họ chia sẻ thông tin và mục tiêu tông đồ cho nhau theo ánh sáng của kế hoạch cộng thể toàn diện. Đây không chỉ là một trách vụ quản trị thông thường. Nó thực là một nghệ thuật mục vụ.

Cha phải đảm bảo rằng mọi người hiểu rõ và áp dụng nguyên tắc hỗ tương. Điều này có nghĩa rằng, dòng thông giao từ trung tâm ra ngoại biên được phản ánh lại trong một dòng chảy tương tự từ ngoại biên vào trung tâm.

Cha cũng phải hướng mối quan tâm mục vụ của cha tới những cơ quan trong đó có giáo dân tham gia, chẳng hạn như cộng đoàn giáo dục và hội nghị cộng đoàn mục vụ. Quan trọng là khoé nhìn một chiều không được ưu thắng trong những cơ quan này, nhưng tốt hơn là giữa họ sáng tỏ một viễn cảnh mục vụ chung, thêm vào sức thúc đẩy phúc âm hóa của toàn cộng thể Salêdiêng. Có hai nguyên tắc điều khiển những cơ cấu này và đảm bảo sự phong phú của chúng: uy tín và sự hòa hợp giữa điều gì là chuyên môn với điều gì là tu sĩ.

  • Nguyên tắc về uy tín

Trong thế giới tân tiến mà ngày càng phổ biến là người ta phải có bằng cấp cao và được chuyên môn thì việc có uy tín trở nên tuyệt đối cần thiết.

Nếu cha muốn công việc của mình mang lại những kết quả tích cực, cha phải được chuẩn bị cần thiết để đối phó với những tình huống và thực tại phức tạp.

Giám đốc phải cổ võ và làm cho những người có liên hệ dễ dàng tham dự những khóa học hỏi và cập nhật.

  • Nguyên tắc về sự hòa hợp giữa điều gì là chuyên môn với điều gì là tu sĩ

“Những cơ cấu của chúng ta nhắm là mục vụ tự bản chất. Chúng hiện hữu để giúp cộng thể và công cuộc của nó thành men Kitô hữu… Chúng ta không được tổ chức công cuộc của mình trên nền tảng là sự chia cách giữa điều linh thánh và trần tục. Nhưng đang khi chấp nhận sự kiện là điều linh thánh và trần tục khác biệt nhau, chúng ta cố gắng cho thấy tại sao tất cả công việc đáng làm thì đều liên kết và hiệp nhất trong Đức Kitô.”[477] Đấy là một vấn đề về sự quân bình và cha phải cổ võ nó cách rất thực tiễn trong đời sống và việc tông đồ cộng thể. Cha phải đảm bảo rằng những cơ cấu trần thế và sự khởi hứng của Phúc Âm được hòa hợp trong việc hoàn thành sứ mệnh cộng thể.

Mọi điều làm cản trở sự thông truyền các giá trị này từ trung ương thế giới đến những tỉnh và đến từng cộng thể và ngược lại, cũng đều cản trở sự hiệp thông của chúng ta, kinh nghiệm về ơn gọi và sự hữu hiệu của sứ mệnh chúng ta.

Chẳng hạn, cha hãy xem xét những bổn phận sinh động và lãnh đạo mà Hiến luật ký thác cho Bề Trên Cả, cho các giám tỉnh, các giám đốc, các ban cố vấn của các ngài, cho những cơ quan mục vụ và kỹ thuật khác. Cha hãy nghĩ đến sự thông giao trong Tu hội về chất liệu được chứa đựng trong Hiến luật, các công báo của các Tổng Tu Nghị, các thư của Bề Trên Cả, các tài liệu được các ban ngành trung ương soạn thảo; cha hãy nghĩ đến những kinh nghiệm và những gương sáng được xuất bản trong những ấn phẩm khác nhau của tập san Salêdiêng – Bolettino Salesiano – những thư tin tức và những thư tang chế. Cha hãy nghĩ đến những tài liệu của Giáo Hội và nội dung phong phú của chúng được cống hiến vào những lúc thích hợp và chúng có thể làm cho chúng ta thực hiện những sự chọn lựa hữu hiệu trong công việc mà chúng ta đảm trách.[478]

Tất cả những yếu tố này cổ võ sự rộng mở, sự hiệp thông và làm cho tác vụ có hiệu quả. Cha phải ghi nhớ những yếu tố này và nhắc nhở chúng cho người khác, vì chúng giúp ta xây dựng một tinh thần đối thoại, cộng tác và sự trung thành vốn đem lại cho ta một cảm thức về căn tính của mình. Hoạt động của cộng thể cha dầu được cắm chặt vào Giáo Hội địa phương, vẫn mang rất nhiều tính cách phổ quát theo những đường lối sau đây:

  • Ta thi hành nó theo một cách thức “được vạch ra để đặt chúng ta hoàn toàn phục vụ Giáo Hội phổ quát;”[479]
  • Ta định vị nó trong sứ mệnh và lối tiếp cận mục vụ của cộng thể vốn là một và siêu vượt những biên giới của các địa phận khác nhau;
  • Nó là phổ quát nhờ sự kiện là nó chuyển giao một kinh nghiệm được thực thi trên bình diện Giáo Hội.

3.2. Sự điều phối trong Gia Đình Salêdiêng

Tổng Tu Nghị Đặc Biệt cống hiến một số suy tư hữu ích về Gia Đình Salêdiêng này, một điều khá mới trong truyền thống chúng ta:

“Vấn đề này có cội rễ trong một sự kiện lịch sử. Để chu toàn sứ mệnh của mình là cứu giới trẻ nghèo và bị bỏ rơi, Don Bosco tìm cách qui tụ rộng lớn những lực lượng tông đồ được liên kết với nhau bằng sự hiệp nhất của một gia đình.”[480] “Rõ ràng là ‘Gia Đình Salêdiêng’ không phải là một cái gì lạ thường, tưởng tượng hay không tưởng. Nó là một sự kiện cụ thể, một thực tại thiêng liêng. Nó có lịch sử riêng, có chân lý sâu xa của mình; và nó tạo nên những đòi hỏi nghiêm chỉnh mà ta phải đáp ứng vì trung thành với Don Bosco và sứ mệnh của chúng ta trong thế giới ngày nay.”[481]

Mệnh lệnh của Thiên Chúa, đi đôi với tình trạng trong đó Don Bosco tìm được giới trẻ, đã khiến ngài nhìn ra những nhóm khác nhau có cùng những mục tiêu, tinh thần, hệ thống giáo dục/mục vụ. Như vậy, Gia Đình Salêdiêng được khai sinh như một lời đáp trả lại những đòi hỏi của ơn gọi ngài và những nhu cầu của giới trẻ thời ngài.

Ngày nay, “các Salêdiêng không thể suy nghĩ đầy đủ lại về ơn gọi của mình trong Giáo Hội mà không quy chiếu đến những người cùng với họ tham gia vào việc thực thi ý muốn của Đấng Sáng Lập. Vì vậy, họ đang tìm cách kết hiệp hơn với mọi người, đang khi bảo tồn sự đa dạng chân chính của mỗi người.”[482]

Nói cách khác, sự canh tân phải nhắm hướng đến việc trương rộng một ý thức rằng có một gia đình. Sự đóng góp đặc biệt mà toàn gia đình làm cho giới trẻ là “một sự hòa hợp những ơn gọi khác nhau để tỏ cho thấy sự giầu có trong đoàn sủng của Đấng Sáng Lập” và trình bày cho giới trẻ với những khuôn mẫu đời sống đa dạng khác nhau vốn khởi hứng họ “sống Tin Mừng” trong thế giới rộng lớn và phức tạp này.[483]

  1. Những người Salêdiêng cần Gia Đình Salêdiêng
  • Trên bình diện Giáo Hội, khi trải qua một tiến trình canh tân hầu vẫn trung thành với Don Bosco, Gia đình Salêdiêng cống hiến cho người Salêdiêng một cơ hội tốt đẹp để tư duy lại và thực vậy, khám phá lại bản tính ơn gọi loại biệt của họ là những người rao giảng Tin Mừng, và để phát triển một sự trân trọng mới mẻ đối với những điều thật sự là Salêdiêng.[484]
  • Trên bình diện trường ốc, sự tiếp chạm giữa các người Salêdiêng có can dự vào những trường kỹ thuật và nghề nghiệp và các thành viên của Gia Đình Salêdiêng cũng can dự vào những trường kỹ thuật và nghề nghiệp và những thành viên của Gia Đình Salêdiêng làm việc trong các xí nghiệp và xưởng thợ, thật vô giá, bởi vì những người sau có thể chuyển giao kinh nghiệm đời sống thật sự.[485]
  • Trên bình diện cộng đoàn giáo dục chúng ta cần Gia Đình Salêdiêng không chỉ vì những lý do nêu ra ở trên, nhưng là còn để đảm bảo cho sự hữu hiệu của chúng ta khi giao tiếp với các cộng sự viên nói chung. Tất cả những cộng sự viên của chúng ta đóng góp phần mình, vì được đặt định là những người phải làm việc sát cánh với chúng ta vốn do ơn gọi được mời gọi chu toàn công việc của Don Bosco.[486] Nhưng đặc biệt nó là trách vụ của Gia Đình Salêdiêng để giúp họ thấy thoải mái và hiểu được những yêu cầu của hệ thống Salêdiêng. Điều này nhằm làm cho hệ thống được ứng dụng trọn vẹn hơn và mang lại hiệu năng tông đồ lớn lao hơn.[487]
  1. Gia Đình Salêdiêng cần những người Salêdiêng

Theo Don Bosco nghĩ, các Salêdiêng chúng ta có trách nhiệm đặc biệt lãnh đạo Gia Đình Salêdiêng. Chúng ta phải mang lại sự bền vững và sự sinh động cùng cổ võ sự hiệp nhất.[488]

Khi Tổng Tu Nghị 21 lượng giá xem trách nhiệm này được đảm trách tốt đẹp thế nào, thì lộ ra nhiều lỗ hổng và thiếu sót. Một lý do cho những thất bại dường như là nguời ta không hiểu biết rõ ràng ơn gọi loại biệt của từng nhóm và vì thế, nảy sinh một nguy cơ liên lỷ là hoán đổi hoặc thay thế những vai trò thích đáng của mỗi nhóm. Một lý lẽ khác mà Tổng Tu Nghị ấy khám phá là chúng ta thất bại trong việc tiếp chạm liên lỷ và thực nghiệm với xã hội trong đó những người trẻ sinh sống và vì thế chúng ta thất bại trong việc ý thức rằng họ có thể thành công hơn trong việc tìm được chỗ đứng trong môi trường của họ với sự cộng tác của giáo dân. Hơn nữa, một số kha khá những dự định dường như đã thất bại bởi vì chúng không được hoạch định cách tốt đẹp ở mức độ trách nhiệm thích hợp hoặc bị bỏ mặc cho cá nhân giải thích không được thông suốt và theo nhiệt tâm của mình, đặc biệt trong những sáng kiến địa phương.

Tuy nhiên, lý do dứt khoát nhất liên quan đến việc đào luyện các cộng sự viên giáo dân; việc đào luyện ấy hoặc là sai lầm hoặc là hoàn toàn thiếu sót.[489]

Như vậy, “trách nhiệm lãnh đạo rơi xuống trên cha, trên cộng thể cha và trên mỗi hội viên theo địa vị đặc biệt của họ trong việc gìn giữ căn tính Salêdiêng và mục vụ của cộng đoàn giáo dục.”[490]

Qui chế 30 và 31 tóm lại những cách thức ta phải toàn trách vụ này. Khi thực hiện, chúng ta phải liên lỷ hỗ trợ đặc biệt những nhóm khác nhau của Gia Đình Salêdiêng. Đây sẽ là một dấu chỉ về sự gắn bó với ơn gọi chúng ta và trung thành đối với phong trào tông đồ thiêng liêng đã được Don Bosco khởi xướng.[491]

Cụ thể, nếu cha muốn hữu hiệu, việc phục vụ của cha phải có một vài đường nét và phẩm chất:

  • Cha phải có hệ thống. Đừng bỏ mặc những hoạt động của Gia Đình Salêdiêng cho may rủi, nhưng hãy gom chúng trong việc cộng thể lên kế hoạch phù hợp với những người chịu trách nhiệm trực tiếp. Nhất là cha hãy ghi nhớ điều Quy chế[492] và Hiến luật[493] cùng Công báo của Tổng Tu Nghị Đặc Biệt và 21 nói về sự cộng tác mật thiết với những người làm việc sánh vai bên chúng ta.[494]
  • Cha phải hòa hợp trách nhiệm dành cho Gia Đình Salêdiêng với chương trình của cộng thể về những hoạt động, định rõ những ngày tháng và những sáng kiến sao cho bao có thể phù hợp với những người liên hệ.
  • Cha phải coi xem để cống hiến[495] việc đào luyện trong sự nhất trí với những người lãnh đạo của các nhóm khác nhau.[496]
  • Cha phải kính trọng lãnh vực uy tín của những vị lãnh đạo và ban cố vấn của mỗi nhóm kể cả của cộng tác viên và cựu học sinh, vì sự tự lập được dành cho họ trong những điều lệ của chính họ.[497]
  • Cha hãy có một thái độ niềm nở. Cha hãy giúp cộng thể luôn cởi mở, nhất là đối với các phần tử trong Gia Đình Salêdiêng.[498] Có những cách thức nhờ đó cha có thể cổ võ sự cởi mở này mà không chút phương hại đến đời sống chung, nhưng còn đem lại lợi ích nữa:

+ Bằng việc tạo nên những dịp cùng nhau chia sẻ, cầu nguyện, vui vẻ và huynh đệ;

+ Bằng việc mời các công tác viên, cựu học sinh và ngay cả những người khác đến các buổi họp của các hội đồng Salêdiêng hoặc của hội nghị cộng thể địa phương,[499] vào những dịp thích hợp, để nghe và ngay cả xin ý kiến họ và cống hiến cho họ sự hợp tác của cha.

+ Bằng việc cho các cộng tác viên và cựu học sinh nơi chốn văn phòng thích hợp và tương xứng và những phòng họp trong cộng thể.

  • Cha hãy phát triển một cảm thức về sự thông hiệp. Ở cấp địa phương, cha là người cha và trung tâm hiệp nhất của Gia Đình Salêdiêng vốn được dựa trên sự thông hiệp có giám đốc là hạt nhân trung tâm và là người thứ nhất chịu trách nhiệm về sức thúc đẩy mục vụ.[500]
  • Cha phải đem đến một thứ bổ sung thực tiễn. Nhờ Gia Đình Salêdiêng trợ giúp, cha cùng cộng thể có thể đương đầu với một vài loại công cuộc và hoạt động cần thiết cho ngày hôm nay, nhưng không thích hợp cho tu sĩ hay linh mục. Những hoạt động như vậy có thể thuộc vùng lân cận, những tổ chức giáo dục, thuộc những đơn vị chăm sóc sức khỏe, trong những nghiệp đoàn lao động hoặc có thể trong những hoạt động dân sự, kinh tế hoặc văn hóa.
  • Cha hãy cam kết làm việc cho ơn gọi vì Gia Đình Salêdiêng và liên kết với Gia Đình ấy. Công cuộc giáo dục và mục vụ Salêdiêng đạt đến tột đỉnh nơi việc tông đồ cho ơn gọi; việc này phải hiệp nhất toàn thể Gia Đình Salêdiêng.[501] Trong khi cổ võ mọi thứ ơn gọi trong Giáo Hội, chúng ta phải nhấn mạnh đến những ơn gọi cho Gia Đình Salêdiêng. Điều này có tầm quan trọng lớn lao đặc biệt đối với những công cuộc bao hàm các trường học, các Nguyện xá và trung tâm trẻ. – Những vườn ươm tự nhiên của các ơn gọi giáo dân, linh mục và tu sĩ. Một khía cạnh đặc biệt cho sự cam kết này là chăm lo đến những cựu học sinh và cộng tác viên trẻ, hai nguồn chính cho tiềm năng của các ơn gọi.
  • Hãy tỏ ra quan tâm đến những người hợp lực với phong trào Salêdiêng rộng lớn hơn. Có một “Gia Đình Salêdiêng” theo nghĩa rộng[502] vốn cho phép chúng ta nói về một “phong trào Salêdiêng” rộng lớn, được nối kết trong 6 vòng tròn đồng tâm:
  1. SDB và FMA;
  2. Những tu hội khác;
  3. Những phần tử của các tu hội đời (Chí nguyện viên Don Bosco và các nhóm khác);
  4. Những giáo dân có cam kết: các cộng tác viên; cựu học sinh cam kết làm việc tông đồ;
  5. Những cộng sự viên giáo dân;
  6. Những người mà chúng ta thực thi sứ mệnh của mình cho họ bằng nhiều cách khác nhau: học sinh, các người trong các giáo xứ, ân nhân, bạn hữu, những phong trào giới trẻ….

Trong phạm vi của mình, một nhà và một cộng thể Salêdiêng có một sự hiện diện Salêdiêng lớn rộng tương tự với những phong trào lớn của Giáo Hội, vốn là đặc trưng của thời đại chúng ta.[503]

Những chân trời rộng lớn này không chút xa lạ với tinh thần của Đấng Sáng lập chúng ta. Kế hoạch hành động của ngài thực sự gồm chứa cái không tưởng về một xã hội được Kitô hóa đầy đủ như phần trong tầm nhìn rộng lớn của ngài về mục vụ.

“Lòng trung thành năng động đối với Don Bosco qua việc chia sẻ và cộng tác sẽ trải rộng ảnh hưởng của trực giác mục vụ và tình hiền phụ của Don Bosco. Điều này sẽ tỏa chiếu sáng chói hơn bởi vì mọi sự tăng trưởng về tình cha, sự hiệp nhất và sự cam kết về phía những người tự coi mình là con cái của ngài, thêm vào cho tầm vóc của ngài. Tình cha này sẽ đảm nhận lấy những chiều kích Giáo Hội.”[504]

3.3 Một cộng thể thuộc Giáo Hội

Cảm thức tích cực về Giáo Hội, sensus Ecclesiae, là một phần của truyền thống sống động của Salêdiêng đến nỗi nó được coi là một cấu tố của tinh thần Don Bosco.[505] Giáo Hội đón nhận đoàn sủng chúng ta từ Chúa Thánh Thần, thừa nhận sự hiện diện của nó, cẩn thận nuôi dưỡng nó trong vai trò của mình là trở thành ngày một hơn cái nôi cho sự hiện diện của Đức Kitô giữa con người và trở thành một thân thể sống động hài hòa được tất cả những chức năng khác nhau.[506]

Sự nâng đỡ mà chúng ta nhận được từ Giáo Hội làm chúng ta có thể biết và lượng giá những tình trạng rất đa dạng. Bằng cách này các cộng thể chúng ta có thể dùng các tài năng của mình để giải quyết những vấn đề tức thời được bày ra cho họ, và để đáp ứng những nhu cầu ta nhìn thấy trong cái “lăng kính” rộng lớn là kinh nghiệm và sự khôn ngoan của Giáo Hội.[507]

Chúng ta có một đoàn sủng phải được chuyển dịch thành một kế hoạch hành động thực tiễn.

Theo nghĩa này chúng ta thấy sự lượng giá của Giáo Hội về những nền văn hóa khác nhau trong đó Giáo Hội nhập thể thật rất hữu ích. Giáo Hội cố gắng thấu hiểu, làm phong phú và biến đổi những nền văn hóa này cho tới khi chúng đạt được một cảm thức là thường xuyên nhạy cảm trước hành động của Thiên Chúa.[508]

Giám đốc lưu ý đến những lợi ích này. Sự kiện ngài ý thức rằng Giáo Hội là trung tâm hiệp nhất và sinh động trong đời sống của cộng thể dẫn ngài tới một cảm thức về sự tôn kính, vâng phục, kính trọng, tri ân sâu xa và cộng tác.

Trong bức tranh tổng quát này, các cộng thể tu sĩ và cá nhân người tu sĩ được tháp nhập vào lối tiếp cận mục vụ của Giáo Hội địa phương theo những cách khác nhau, như những người được Thần khí kêu gọi để thực thi một sứ mệnh đặc thù theo đoàn sủng loại biệt của họ.[509]

Vì thế cảm thức về Giáo Hội, sensus Ecclesiae, là một yếu tố quyết định cho sự cam kết tông đồ của Tu hội. Cha phải coi Giáo Hội địa phương như đang cấu thành nền văn hóa rõ ràng,[510] “là tổ quốc, có thể nói như vậy, của một ơn gọi.”[511]

Chính trong Giáo Hội địa phương mà cộng thể của cha diễn tả và thực thi sự cam kết tông đồ của mình. Thực tế là Giáo Hội địa phương “có một chức năng đặc biệt là dẫn đưa sự giầu có nhân bản của các dân tộc tới Thiên Chúa, và làm chúng phục vụ như một sự diễn tả đặc biệt về ơn cứu chuộc.”[512]

Tổng Tu Nghị Đặc Biệt đặt các hội viên trên một đường nẻo vốn giúp họ tìm ra chỗ đứng của mình trong bối cảnh toàn diện của đời sống Giáo Hội. Nó thúc đẩy họ tránh hai nguy hiểm: một não trạng cô lập và một sự tự lập bị hiểu lệch lạc; hay nói cách khác là sợ làm việc với những người khác và một thứ tự mãn thiển cận vốn hàm ẩn một bên là thiếu tự tín và bên kia là chủ nghĩa địa phương hẹp hòi.

Giáo Hội và Tu hội chia sẻ cùng những mục tiêu. Giáo Hội được Thần khí Đức Chúa hướng dẫn, khảo sát kỹ càng bản chất và sứ mệnh của mình. Cùng Thánh Thần ấy khuấy động nơi tâm hồn của những tu sĩ và tín hữu ước vọng sống và làm việc trong sự hiệp thông với Giáo Hội. Cha hãy vui mừng đón nhận sự kiện này với một ý thức trách nhiệm. Chúng ta hòa hợp với Thần khí và theo phong thái của Đấng Sáng Lập thánh thiện của chúng ta khi chúng ta sống hiệp thông với Giáo Hội và diễn tả ngay cả trong Hiến luật của mình cái nhu cầu là cảm thấy nên một với Giáo Hội lữ hành.[513] Thật đáng công cho chúng ta để tích cực bao có thể trong các cơ quan khác nhau của Giáo Hội hầu chia sẻ “những trực giác chân chính và tinh thần táo bạo” vốn thiết thân với đoàn sủng và lịch sử chúng ta xét như một Tu hội.”[514]

Trong khi thực thi công việc mục vụ, cha luôn luôn nên tìm cách phù hợp với những chỉ dẫn đến từ Giám Mục. Khi các tu sĩ cầu nguyện cho Giám Mục của mình, họ đang giúp các ngài phân định điều gì là hữu hiệu nhất xét về mục vụ; cầu nguyện kiểu này khiến chúng ta kính trọng và coi trọng những hồng ân Thiên Chúa; chúng được phổ biến khắp địa phận và được sử dụng vì thiện ích chung.

Cộng tác được phát sinh từ loại đức tin này. Nhưng cha phải phân biệt giữa thứ cộng tác thông thường hay tùy dịp mà không đòi hỏi quá nhiều thời gian và rơi vào trách nhiệm trực tiếp của cha và những loại công tác khác tách con người ra khỏi công việc của nhà bởi vì chúng đòi dấn thân nhiều hơn. Loại cộng tác này đòi hỏi phải có thẩm quyền của Giám tỉnh, bởi vì nó đòi phải thay đổi trong việc tổ chức công việc của cộng thể và có lẽ làm giảm thiểu sự hữu hiệu hiện thời.

Trong bối cảnh của Giáo Hội phổ quát, Tu hội chúng ta cũng thực thi một hoạt động truyền giáo. Nơi các Giáo Hội địa phương ấy vốn vẫn đang trong thời kỳ khởi đầu, chúng ta tham gia theo một đường lối được biệt loại hóa qua tinh thần ưu ái dành cho giới trẻ. Trách vụ truyền giáo của chúng ta thường được diễn tả như sau theo ấn bản Hiến luật cũ: “Chúng ta phải đồng cảm lớn lao nhất đối với tất cả những người trẻ chưa nhận được ánh sáng Tin Mừng cùng với gia đình và những người đồng hương của họ; như vậy, các hội viên hãy nhiệt thành hiến mình cho các cuộc truyền giáo ở hải ngoại.”[515]

Chúng ta phải truyền sức sống mới vào “lý tưởng của Don Bosco, người muốn Tu hội phải liên lỷ quan tâm đến công cuộc truyền giáo, đến nỗi tạo nên thiết thn trong bản tính và nhãn giới của mình.”[516]

Tu hội là truyền giáo theo nghĩa rằng có một mối liên hệ đặc biệt giữa phong thái hoạt động mục vụ mà nhờ đó chúng ta làm việc cho giới trẻ cách chung chung và đường lối chúng ta phải đi tới những Giáo Hội trẻ và các dân tộc chưa được loan báo Tin Mừng.[517] Một số nguyên tắc và đường lối hoạt động Salêdiêng hoàn toàn tự nhiên phù hợp với cảnh vực truyền giáo, nghĩa là, sự liên kết giữa việc rao giảng Tin Mừng và sự phát triển nhân bản, sự ưu ái chú tâm đến những thiếu niên nghèo, tinh thần thích ứng và sáng tạo, sự cam kết cho huấn giáo và lòng sùng mộ bình dân, sự trân trọng những giá trị được tìm thấy trong nền văn hóa của Giáo Hội địa phương, những mối tương quan nhân bản nồng ấm và thân mật trong tinh thần lạc quan.

Những việc truyền giáo hải ngoại đều là “bối cảnh ưa thích hơn để thực thi sứ mệnh Salêdiêng” và “tinh thần mà nhờ đó sứ mệnh được thực thi.”[518]

3.4 Sự điều phối trong tổ chức hoạt động mục vụ

Ở điểm này nảy sinh một vấn đề liên quan đặc biệt đến cha, nghĩa là, nhu cầu phải có sự điều phối hệ thống hơn về công việc của các Salêdiêng tại một khu vực đặc thù, trong bối cảnh của hoạt động mục vụ chung của địa phận.[519]

Dĩ nhiên, hoạt động này xảy ra dưới sự lãnh đạo của Đức Giám Mục và việc chúng ta can dự vào được Giám tỉnh hướng dẫn, ít nhất theo lối nói chung chung. Hiện nay phong trào thiêng liêng Salêdiêng đóng góp vững vàng vào hoạt động mục vụ chung tới nỗi các phần tử trong Gia Đình Salêdiêng, xét như những người cổ xúy tinh thần và sứ mệnh Salêdiêng, thì trung thành với ơn gọi của họ; tới nỗi họ ý thức rằng đoàn sủng mà họ đang gánh vác là một quà tặng cho Giáo Hội, đặc biệt dưới diện tăng thêm số các thừa tác vụ và việc phục vụ vốn cổ võ cho hạnh phúc của giới trẻ và người bình dân; tới nỗi họ được nối kết trong việc chia sẻ cho nhau những sự giàu có của ơn gọi và kết giao với việc tìm kiếm các linh hồn mà Thánh Thần đã đặt dưới sự hoạt động (aegis) của Don Bosco và con cái ngài.

Cha không được bao giờ nhọc mệt trong việc làm thức tỉnh lại ước muốn hiệp nhất mà Don Bosco đã có và khích lệ các hội viên lẫn cộng thể tìm được những chỉ dẫn chung.[520] Chúng sẽ có thể giúp họ can dự vào Giáo Hội địa phương theo một cách thức thật sự là Salêdiêng.

Hay vắng mặt không làm ích cho ai cả. Cha phải giúp các hội viên ý thức hơn nữa về những cơ cấu mục vụ mới này. Sự đóng góp của chúng ta có thể giúp làm cho chúng hoạt động cách sinh động và liên tục. Vì thế cha hãy giúp các hội viên hiểu rằng thời gian mà giám đốc và cộng thể danh cho công việc này không phải là thời gian phí phạm vô ích. Không có cơ cấu nào hoàn hảo và có sức thuyết phục hoàn toàn, khi nó mới xuất hiện. Giáo Hội địa phương cần mọi người trợ giúp để làm cho các cơ quan tập đoàn thành có hiệu quả và hữu hiệu hơn, trong công việc của Nước Chúa.

Tuy nhiên, chúng ta phải thâm tín rằng sự tham gia của chúng ta không chỉ có nghĩa là cho, nhưng còn là nhận.

“Hoạt động được hòa điệu của toàn cộng đoàn Kitô hữu trong việc nuôi dưỡng tất cả các ơn gọi khác nhau làm cho việc tông đồ ơn gọi hữu hiệu hơn.”[521]

Những sự hiện diện tông đồ mới phải được ta hoạch định: “Các Giám Mục và các bề trên Tu hội qua đối thoại phải tìm cách phân định điều Thần khí muốn và nghiên cứu những cách thức giải đáp các vấn đề bằng cách thiết lập nên những sự hiện diện tông đồ mới.”[522]

Ở đây chúng ta lại bắt gặp một khía cạnh “là tái phát động tinh thần sáng kiến”[523] được Tổng Tu Nghị 21 nhấn mạnh nhiều. Người ta khai triển một sự canh tân thích đáng[524] về sự thờ phượng qua tinh thần táo bạo và sự tỉnh thức chung và người ta khám phá ra những hình thức cầu nguyện mới;[525] đang khi cùng lúc sửa chữa và thay đổi những lạm dụng.

Ở đây có một số những sáng kiến khả dĩ mà người Salêdiêng có thể được can dự vào hầu hiện diện tích cực hơn trong Giáo hội địa phương:

  1. Những tổ chức đời tu trong địa phận

Những giao tiếp mà Don Bosco có được với những vị bản quyền địa phương trong khi bảo vệ được sự tự do để có những quyết định riêng của mình, tạo cho ta một ý tưởng về cách thức chúng ta ngày nay phải hành động.

Cha và cộng thể của cha phải vui vẻ hiến thời giờ và năng lực cần thiết để tạo được những giao tiếp quan trọng này.

Phong cách của Don Bosco là bảo trì những mối liên hệ tốt đẹp với mọi người, nhất là với các tu hội khác. Giữa những lời khuyên dành cho các vị truyền giáo đầu tiên, có lời khuyên như sau: “yêu mến, kính trọng các dòng tu khác, và hãy luôn nói tốt về họ. bằng cách này các con được mọi người kính trọng và sẽ làm ích nhiều cho Tu hội.”[526] Trong Hiến luật canh tân, chúng ta đọc thấy: “Chúng ta phải kính trọng hết thảy mọi gia đình tu sĩ khác.”[527]

Kính trọng và nói tốt về những dòng tu khác ngày nay còn hàm chứa nhiều ứng dụng thực tiễn và có tính cách giáo hội hơn nữa. Thực tế có những hiệp hội và những phiên họp của các tu sĩ ở các cấp địa phương, quốc gia và quốc tế. Tài liệu Mutuae Relationes không chỉ chính thức nhìn nhận sự hiện hữu của các hiệp hội ấy, nhưng còn gán cho chúng một tầm quan trọng lớn lao: “Những hiệp hội các tu sĩ ở cấp địa phận thật hữu ích và nên được khích lệ; chúng là những cơ quan cổ xuý sự phát triển và canh tân của các dòng tu; chúng là những cơ quan thảo luận những vấn đề hỗ tương của các Giám Mục và các bề trên và điều phối những hoạt động của các gia đình tu sĩ với hoạt động mục vụ của địa phận dưới sự hướng dẫn của các Đức Giám Mục.”[528] Đây là cách thức mới để diễn tả đức ái phải có giữa các gia đình tu sĩ và giữa các tu sĩ với Giáo Hội địa phương. Giáo Hội “là trung tâm sinh động hóa của tất cả mọi lực lượng được can dự vào công việc cứu độ,”[529] mà Don Bosco đã mong muốn rất nhiều.

  1. Phục vụ trong những cơ cấu không phải là Salêdiêng

Những tài liệu canh tân của chúng ta chứa đựng một yếu tố mới[530] về những mục đích tông đồ của cộng thể chúng ta mà cha phải nghiêm chỉnh chú tâm đến: việc chọn lựa hoạt động tông đồ của chúng ta phải luôn mang lấy tính chất Giáo Hội và hướng về giới trẻ.[531]

Nó có tính chất Giáo Hội bởi vì là một trong những cách thức trợ giúp những người trẻ của Giáo hội địa phương hay trong một khu vực đặc thù phải thực sự trở nên thiết thân với những cơ cấu và tổ chức hiện hành. Những tổ chức này cống hiến một thách đố liên lỷ và có một cơ hội hỗ tương để làm giàu cho tất cả mọi người có liên hệ tích cực.

Loại phục vụ này sẽ không tạo nên một ấn tượng về sự đào thoát, nhưng sẽ được coi như đang hòa hợp việc hoạt động tông đồ của chúng ta, nếu nó phát triển nơi các hội viên một ý thức về Giáo Hội và thuộc về Tu hội Salêdiêng có ý nghĩa sâu xa hơn là gì.

Sự chọn lựa hoạt động tông đồ của chúng ta nhắm đến giới trẻ và sáng tạo bởi vì ơn cứu độ của những người trẻ khiến chúng ta thừa nhận thái độ của vị Mục Tử nhân lành và đi tìm kiếm những người đang xa lạc, trong khi sử dụng những phương thế thích hợp nhất và không chờ đợi người trẻ phải đi bước trước.[532]

  1. Những phục vụ đáp ứng những nhu cầu cụ thể

Thật tốt đẹp khi các hội viên lại được đảm bảo rằng nhờ điều mà ta có thể gọi là công cuộc truyền thống của họ, họ thực sự phục vụ Giáo Hội địa phương.

Họ phải ý thức điều này. Có lẽ cần thiết phải thay đổi cách thức điều hành một số hoạt động, phải cổ xuý một số sáng kiến mới, hay phải công tác mật thiết hơn với những tổ chức khác, nhưng tuyệt nhiên điều này không làm giảm thiểu giá trị của loại phục vụ truyền thống này.

Một thái độ gương mẫu của Don Bosco

Don Bosco yêu mến Giáo Hội biết bao, điều ấy, ta không thể nghi ngờ: “Cha sẽ làm việc cho Giáo Hội mãi tới hơi thở cuối cùng. Và cha muốn các Salêdiêng sẽ phải hành động như thế.”[533]

Ngài làm cho những lý lẽ vì tình yêu ấy thành rõ ràng: “Tu hội cốt yếu thuộc về Giáo Hội;”[534] “Vinh quang của Giáo Hội là vinh quang của chúng ta.”[535]

Don Bosco mãnh liệt ao ước là người sinh động cho hạnh phúc của con người. Ao ước ấy xuất phát từ tình yêu ngài dành cho Giáo Hội và lòng nhiệt thành muốn Giáo Hội tăng trưởng và lan rộng. Yêu mến Giáo Hội luôn mang tính chất tông đồ. Khi chúng ta khảo sát tỉ mỉ những bút tích của ngài và lắng nghe lời ngài, ta khám phá ra một thái độ mà có thể dùng như một nguyên tắc thực tiễn cho tất cả những môn sinh của ngài: “Thiện ích của Giáo Hội ưu thắng trên mọi sự khác.”[536]

  1. Cộng tác bất kỳ ở đâu có thể được trong bối cảnh dân sự và xã hội

Loại cộng tác này là một cái gì mới mẻ đối với các cộng thể tu sĩ chúng ta; nhưng đó là một cách thức phục vụ Giáo Hội, dầu không phải dễ dàng gì, dưới diện sự hiện diện của cộng thể ấy tại một nơi chốn, một miền hay một vùng đặc thù. Cha phải cố gắng hiểu và giúp người khác hiểu những lý lẽ cho việc chúng ta can dự vào cảnh vực dân sự và xã hội. Nhu cầu này chính yếu nảy sinh từ việc chúng ta muốn hoàn thành kế hoạch giáo dục của chúng ta.

Trừ phi chúng ta hoàn thành cảm thức về tính sáng tạo trong một dự phóng thực tiễn vốn đáp ứng được những nhu cầu của dân chúng sống trong một bối cảnh và lãnh thổ được xác định rõ ràng, thì cộng thể sẽ chẳng bao giờ đáng là gì cả và cũng không giúp hoàn thành ý Thiên Chúa. Tình yêu đối với giới trẻ khiến chúng ta mau mắn như Don Bosco đối với những dấu chỉ chúng ta phân định được trong xã hội dân sự. Tình ưu ái dành cho chúng khiến chúng ta chia sẻ những vấn đề nền tảng của cuộc sống của chúng là tình yêu và lao động.

Và vì thế, bất kỳ nơi nào có thể được, chúng ta trở nên thiết thân với bối cảnh xã hội và dân sự hầu có khả năng cộng tác và thực thi một ảnh hưởng Kitô giáo trên việc lập pháp. Nếu lập pháp không nhằm bảo về phẩm giá con người và cổ võ tình yêu cuộc sống, nó có thể tác hại đến người trẻ, đặc biệt những người yếu đuối nhất.

Ngày nay chúng ta không thể nói rằng chúng ta trung thành với ơn gọi theo nghĩa xã hội trừ phi chúng ta tham gia vào những ủy ban của khu vực (ở đâu có những ủy ban đó), đặc biệt qua sự hiện diện mang tính chất giáo dân của các sư huynh hay tốt hơn cả là những nhóm khác trong Gia Đình Salêdiêng, trừ phi chúng ta làm cho người ta cảm nhận được sự hiện diện của mình trong những trung tâm văn hóa địa phương; trừ phi chúng ta tích cực tham gia vào những nhóm nghiên cứu, tìm tòi khác nhau.

Nếu chúng ta nhận là có công vì đã có lúc nhấn mạnh nhu cầu phải có những khế ước cho các em tập nghề trẻ, và rồi xao nhãng để duy trì một truyền thống quan trọng như thế, thì chúng ta phạm tội chối bỏ quá khứ của mình và tới một mức nào đó, quên đi cội nguồn của chúng ta. Ta phải làm cho rõ rằng chúng ta tích cực quan tâm đến những vấn đề xã hội này bởi vì chúng ta nhắm đến sự thiện của giới trẻ; và vì thế chúng ta quan tâm đến nền giáo dục của chúng cũng như đến những vấn đề việc làm, và gia đình của chúng. Chúng ta quan tâm đến những khía cạnh khác nhau này của cuộc sống họ. Chúng ta muốn có thể cộng tác và mang lại sự hướng dẫn cho những lãnh vực này.[537]

3.5 Những giao tiếp bên ngoài cộng thể[538]

Giáo huấn của Thông điệp Redemptor Hominis về con người và Giáo Hội (tìm thấy sứ điệp của mình là phục vụ con người) đòi hỏi một sự cộng tác giữa tất cả những người chân thành làm việc để cổ xúy phúc lợi của con người.

Ta phải ghi nhớ những nhận xét sau đây của Tổng Tu Nghị Đặc Biệt : “Cộng thể tham dự vào tính năng động của Giáo Hội. Cộng thể nhắm đến và rộng mở trước việc phục vụ những người trong Giáo Hội, đang khi cống hiến cho mọi người phúc lộc là những ân huệ mà Thiên Chúa tuôn xuống trên Giáo Hội. Bằng đức tin của mình, cộng thể vui vẻ vun trồng và làm phấn chấn những mối tương giao nối kết cộng thể với dân chúng thuộc những bối cảnh khác nhau, hoặc qua quan hệ họ hàng, niềm hứng khởi, công việc, cái lý tưởng hoặc trên nền tảng của bổn phận, tài sản, tình bạn hay đức ái.”[539]

Bằng cách này cộng thể Salêdiêng tiếp tục tinh thần và hành động của Don Bosco dù trong một thế giới rất khác biệt với thế giới của ngài. Do đó ngày nay “giúp tạo nên một phong trào có tính cách Giáo Hội và dân sự rộng mở trước các sức mạnh thích đáng và trước mọi thiện chí, có thể chia sẻ những quan tâm chung, dầu có những động cơ rất khác biệt” là một điều còn cấp bách hơn nữa. Thật là quan trọng để một mức nào đó chia sẻ vào việc hiện thực công việc chung hoặc là thuộc về những cơ quan khác nhau hoặc làm việc trong sự liên kết mật thiết.”[540]

Qua những cuộc tiếp xúc với bên ngoài đó, cộng thể của cha đem lại cho cuộc tiếp xúc với thế giới ý nghĩa tròn đầy hơn. Nó cũng được nổi bật bằng những phẩm chất mới; những phẩm chất này được hòa hợp với những hồng ân thiêng liêng và được trợ giúp để chu toàn sứ mệnh tông đồ của mình tốt đẹp hơn.

 

 

 

CHƯƠNG 6

KHUÔN MẪU CỦA CỘNG THỂ ĐỊA PHƯƠNG – NHỮNG PHƯƠNG THẾ SINH ĐỘNG VÀ CAI QUẢN

 

Vì chìm ngập trong một môi trường rất thực, được đặc trưng do những ảnh hưởng văn hóa và những khác biệt tuổi tác cũng như bối cảnh văn hóa của các hội viên, nên Giáo hội và Tu hội ký thác cho giám đốc một số phương thế. Những phương thế này được Giáo Hội và Tu hội theo sự khôn ngoan của mình, xét là hữu ích. Giám đốc được khích lệ dùng những phương thế này cách khôn ngoan và sáng tạo để cai quản và sinh động cộng thể mình.

Một vài phương thế này phải liên hệ đến mối tương quan hữu vị và cá nhân (chẳng hạn cuộc nói chuyện thân tình và linh hướng). Những phương thế khác quy chiếu về cộng thể (chẳng hạn việc linh hướng được ban qua các bài huấn đức, huấn từ tối, duyệt xét đời sống, những cuộc xét duyệt, việc thận trọng và khôn ngoan sử dụng thông tin). Những phương thế này cũng hữu ích cho các cơ quan sinh động và cai quản trong cộng thể thực thi chức năng riêng của mình (ban cố vấn của cộng thể và hội nghị hội viên).

Mặc dù giám đốc tin tưởng nơi những phương thế sinh động hóa này và chuyên chăm sử dụng chúng, thì ngài ý thức rõ về sự kiện là sự hiệp nhất và sự hữu hiệu tông đồ của cộng thể được xây dựng từng ngày một do nỗ lực kiên nhẫn, khiêm cung giữa sự va chạm không thể tránh né được và những khác biệt ý kiến. Ngài biết rằng chính mình phải trả giá.

Khởi điểm của ngài là một tinh thần đức tin sâu xa. Nó khiến ngài phục vụ Đức Kitô nơi các anh em. Ngài chấp nhận một sự cô đơn nào đó, đến từ việc ngài kinh nghiệm được những giới hạn và từ việc nhận thức rõ là dễ bị hiểu lầm biết bao và khó hiểu tha nhân biết mấy. Ngài cầu nguyện để có thể vượt xa những kỹ thuật xuông và thắng vượt cám dỗ là nghĩ rằng có những ‘đơn thuốc’ cho từng trường hợp và chúng đem lại những kết quả chắc chắn. Ngài khẩn xin Thiên Chúa ban ơn này.

Có những phương thế sinh động và cai quản khác nhau và đã được canh tân do truyền thống Salêdiêng và Giáo Hội cống hiến. Chúng thật hữu ích và thậm chí còn tuyệt đối cần thiết. Trên những bình diện cai quản khác nhau, những phương thế này rất hữu ích trong việc kiến tạo những tương quan cá nhân và cộng thể theo kiểu loại được Don Bosco mong muốn, nghĩa là, những tương quan được đặc trưng bằng sự thông cảm, tính thân thiện, tín nhiệm, tình bạn chân thành và đức ái. Don Bosco viết cho cha Bonetti: “Hãy đối xử với những người khác theo một cách thức đến nỗi hết thảy những người con tiếp xúc, sẽ thành bạn hữu của con.”[541] Nhưng trước hết, trong tiến trình đào luyện liên tục mà khung cảnh ưu đãi của nó là trong cộng thể, những phương thế này đòi hỏi phải càng nhất quyết tìm kiếm ý Thiên Chúa và gắn bó vững chắc với thánh ý ấy.

Mục tiêu Don Bosco đặt ra cho cha không phải là một mục tiêu dễ đạt tới. Nó can dự đến đời sống nội tâm, nhiệt tình, tính khả tín và uy tín của cha. Tuy nhiên không cần quá quan tâm đến những kỳ vọng phi lý của một số hội viên. Điều cần thiết là những phương thế này thực sự giúp cha làm cho mọi cuộc gặp gỡ những con người mà cha can dự tới thành một kinh nghiệm thật sự nhân bản và đầy đức tin. Những cuộc gặp gỡ của chúng ta đừng bao giờ đơn giản là những biến cố vô ngã và có tính cách quản trị mà thôi.

Cha sẽ thấy trách vụ của mình dễ dàng hơn nếu cha luôn lưu ý đến tình trạng cụ thể. Các hội viên của cha tất yếu bị tác động do một vài ảnh hưởng văn hóa. Họ khác nhau về tuổi, bối cảnh văn hóa và sự trưởng thành; và họ có những giới hạn của mình bất chấp những ân điển và tài năng của họ.

  • NHỮNG ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA

Có một vài thái độ và nhạy cảm vốn thiết thân với thế giới lao động và thương mại tân tiến và nhất thiết ảnh hưởng đến cuộc sống hiện nay. Cha dễ dàng cảm nhận điều gì trong chúng có thể có giá trị cho đời sống tu sĩ và hoạt động tông đồ của chúng ta; nhưng cha cũng phải cảnh giác và tỉnh thức để chống lại những ảnh hưởng không tương hợp với Tin Mừng và với phẩm chất Salêdiêng của đời sống chúng ta.

  • NHỮNG LOẠI NHĨM KHC NHAU

Với những giới hạn và tài năng của mình, các hội viên hiển nhiên tác động đến tác vụ của cha. Thật khó sinh động một nhóm tuổi hỗn hợp. Tuy nhiên, theo một nghĩa khác, các hội viên làm cho việc ấy thành dễ dàng hơn nhờ ân điển và những tài năng của họ. Cha có nhiệm vụ giúp họ lợi dụng những ân điển này.

2.1 Những Salêdiêng trẻ gần gũi hơn với thế hệ đang lớn lên; họ có thể dễ dàng hiểu biết lề thói của chúng hơn, sinh động chúng và khơi động nhiệt tình của chúng.[542]

Nhưng chắc chắn các Salêdiêng này lại cần được hướng dẫn để soi đường dẫn lối sự quảng đại của họ cách thích đáng và để trưởng thành. Đề tài này được bàn kỹ càng ở tài liệu “đào luyện Salêdiêng” (FSDB), và vì thế ta không bàn đến ở đây.

Nói một điều gì đó về những người Salêdiêng già cả và lớn tuổi nhắm tới họ cần được đào luyện liên tục hình như khẩn cấp hơn. Trong khi họ vui hưởng sự hiện diện của những người Salêdiêng trẻ và nhiệt huyết chung quanh mình, họ cũng phải đóng góp thành quả là kinh nghiệm và những thái độ trưởng thành của họ.

2.2 Các Salêdiêng lớn tuổi hơn thì tự đủ hơn và được hòa hợp tốt đẹp vào môi trường thực sự của họ; họ lý luận sự việc đúng đắn nhưng không coi thường sự đóng góp tích cực mà những cảm xúc tạo nên. Họ rộng mở trước những giá trị của thế giới, nhưng không duy tâm ấu trĩ, cũng không phản loạn theo cách thức gây hấn. Họ tích cực mà không xao xuyến hay qui kỷ; họ quân bình và giữ được thế vững bền căn bản, trong khi vẫn có thể thay đổi khoé nhìn theo một mức độ lớn hơn hay ít hơn theo thời gian trôi qua (dĩ nhiên ở đây chúng ta đang nói theo lý tưởng). Những Salêdiêng lớn tuổi có những quan tâm và lo lắng vốn làm cho họ rộng mở trước những cam kết mới; chẳng hạn, họ quan tâm đến việc phát triển khả năng để hoàn thành các sự việc; họ quan tâm đến việc cải thiện mình; họ muốn học những điều mới mẻ, nhưng không bỏ đi kiến thức họ đã có. Họ quan tâm đến sự thông giao sâu xa hơn và tốt đẹp hơn giữa những phần tử của cộng thể họ, giữa trung ương và những tỉnh dòng trên bình diện thế giới, và giữa những nhóm khác nhau có những mối quan tâm khác.

Tuy nhiên họ bắt đầu kinh nghiệm một số những khó khăn. Tới một mức độ nào đó họ cảm thấy rằng tri thức và khả năng của họ không đạt được mức những đòi hỏi mà công việc của họ tác động trên họ; và điều này khiến họ đau khổ nhiều.

Họ dễ dàng ốm yếu bởi vì năng lực của họ suy giảm đáng kể. Trí nhớ của họ bắt đầu yếu dần; động lực của họ thay đổi; năng lực thích ứng những môi trường mới bị giảm thiểu; họ trở nên phòng thủ; họ thấy rất khó để thay đổi nếu không cố gắng vượt bực.

Cha sẽ biết phải nhấn mạnh điều gì và dùng phương thế nào trong những cuộc giao tiếp có tầm quan trọng hơn đối với những hội viên già hơn trong cộng thể, nếu cha nhạy cảm với những lợi ích của họ và hiểu biết những giới hạn của họ.

Mục tiêu căn bản phải nhắm tới là nhu cầu đào luyện liên tục của họ phải rõ ràng và được tiếp nhận. Đối với phương pháp cha có thể dùng, điều thứ nhất phải làm là tạo nên một bầu khí thuận lợi và rồi hết sức có thể sử dụng những tài năng và khả năng của họ, khởi đi với những gì họ quan tâm. Đừng để mất mục tiêu căn bản của cha: họ thay đổi cõi lòng và tâm trí. Cha hãy nhớ rằng phương cách duy nhất để hoàn thành điều này là do những kinh nghiệm sâu xa, cá vị trong bối cảnh của cộng thể.

2.3 Những Salêdiêng già cả

Đây là những Salêdiêng sống lâu năm. Mặc dù nhiều người trong họ có thể vẫn làm được công việc có giá trị, cha vẫn phải giúp họ chấp nhận sự kiện là họ phải trở nên già cả cách duyên dáng.

Khi thời gian trôi qua, một người từ chối chấp nhận sự kiện là họ đang trở nên già, thì một cách bất khả tránh né và bất khả cảm nhận, họ phải buộc mình giữ được một mức độ cao của hoạt động chuyên nghiệp, không kể đến những hy sinh cần thiết; hoặc bằng không, họ cố bù lại việc thiếu an toàn của họ bằng cách tìm kiếm sự thoải mái trong sự nghiêm khắc và gàn bướng. Thậm chí, họ có thể rơi vào sự cô độc đau thương hoặc dấu đi sự thiếu tín nhiệm của mình bằng cách trở thành giáo điều và hằn học. Giải đáp thật sự nằm ở việc chấp nhận tình trạng của mình và dần dần tạo nên một phong cách mới mẻ và quí báu để sống tích cực trong cộng thể và trong thế giới. Một con người ở trong ngưỡng cửa của tuổi già có nhiều điều để cống hiến. Họ có thể có ít năng lực và nhiệt huyết hơn, nhưng lại có một chiều sâu quân bình và lớn lao hơn. Họ có thể không có khả năng để hoàn thành nhiều việc như trước nữa, nhưng họ bền bỉ hơn.

Những người trong nhóm tuổi này có một sự khôn ngoan nào đó, một sự suy tư về kinh nghiệm họ thâu lượm được. Họ trở thành có khả năng để suy nghĩ sự việc sâu xa, trong sự trân trọng điều gì thật sự là đáng giá, trong ý nghĩa thiêng liêng của đời sống họ.

2.4 Những hội viên cao niên

Tuổi già là thời kỳ của cuộc sống biểu hiện và thông truyền tốt nhất sứ điệp của đời sống tu sĩ chứa đựng nơi chính mình. Đời sống ấy còn lại như một sự cô tịch và từ khước (thanh khiết); như mất mát sự hữu hiệu bề ngoài (nghèo khó) và như sự sẵn sàng chấp nhận ý Thiên Chúa (vâng phục).

Nó có thể có những lợi điểm của một tinh thần chiêm niệm sâu xa, một sự chấp nhận người khác vui tươi hơn, và một kiểu kết hợp với Thiên Chúa được tôi luyện và chân thật.

Nhưng khả năng sống tuổi già theo cách này không phải là một cái gì xảy ra tức thời. Một người đã thân thiết với những thành tựu và những hoạt động của chính mình có nguy cơ cảm thấy hoàn toàn vô ích. Một tu sĩ sẽ hưởng được quà tặng là sự chiêm niệm trong tuổi già chỉ nếu trước kia họ đã là một người chiêm niệm trong hành động và do đó đạt được sự đồng nhất với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Chúa.[543]

2.5 Bằng cách nào cha thực thi tác vụ của chính cha đối với những hội viên lớn tuổi, đặc biệt nếu cha là một giám đốc khá trẻ tuổi?

Cha hãy lấy khen ngợi, kính trọng và phục vụ làm những đặc nét cho lối tiếp cận của cha. Đây là ba cách biểu lộ tinh thần gia đình của chúng ta.

Cha ca tụng Thiên Chúa cũng bằng cách khen lao con người, nhất là khi họ cần đến. Khen con người có nghĩa là làm mọi sự cha có thể để giúp họ rộng mở cõi lòng, để an ủi, chữa trị, kích thích và nâng họ lên. Nó có nghĩa là cho họ niềm hy vọng, làm cho các sự việc trở nên dễ dàng hơn cho họ, khích lệ họ và cho họ sức mạnh; nó có nghĩa là giúp họ vui tươi và xóa đi mọi đau buồn và phiền muộn.

Khi cha tỏ ra kính trọng con người, cha kính trọng Thiên Chúa. Đối với nhiều hội viên già cả, nguyên nhân lớn nhất gây ra đau khổ cho họ là bị đối xử như các đồ vật.

Những người khác quyết định về họ mà không tham khảo họ. Có lẽ người ta chỉ nghĩ đến những nhu cầu thể lý của họ, chứ không xét đến những nhu cầu thiêng liêng, xã hội và văn hóa. Tuổi già là tuổi nghỉ ngơi, nhưng không phải hoàn toàn không hoạt động (vô vi). Có nhiều việc phục vụ bé nhỏ mà các hội viên cao tuổi có thể làm, nhiều người chỉ mong giúp được một tay, nhiều niềm vui họ có thể mang đến cho người khác.

Và sau cùng cha cũng được kêu gọi để phục vụ Thiên Chúa qua con người, nhất là những người thiếu thốn nhất. Phục vụ có nghĩa là làm ý muốn của một ai khác; nó có nghĩa là tìm ra những nhu cầu của người khác. Phục vụ có nghĩa là mỉm cười và dùng một cung điệu thân hữu. Hơn nữa, nếu cha thực sự muốn phục vụ, cha phải để cho mỗi người tự do chết cái chết của chính mình. Nói tóm lại, cha phải giúp từng hội viên hy sinh đời sống để thế giới được sống trong Chúa Giêsu và với Chúa Giêsu. Khi cha cố gắng phục vụ, cha đừng quên rằng người trẻ thích một lối tiếp cận triệt để, nhưng người già lại thích sự thanh thản. Người già có một cơn đói về đức tin. Vào giai đoạn này của cuộc sống, nhiều lắng lo và quan tâm đã biến tan và Thiên Chúa thế vào chỗ ấy.

Bất cứ ai đọc bản miêu tả về những nhóm khác nhau này, có thể có ấn tượng rằng họ thuộc về nhóm này hoặc nhóm khác ở một mức nào đó; nhưng không thấy mình hoàn toàn hợp với bất kỳ một nhóm nào. Tuy nhiên, chúng ta ý thức rằng một mức nào đó, chúng ta kinh nghiệm một vài giới hạn hoặc sự thúc đẩy, hoặc những ao ước hay những ân điển của Thiên Chúa theo tuổi tác và tính khí.

Kinh nghiệm thường nhật của cha chắc chắn đủ để làm cha thâm tín rằng khi các hội viên thẳng thắn chấp nhận sự thật về chính mình, họ rộng mở hơn với những quyết định và những đề nghị của cha; và những cuộc nói chuyện bằng hữu định kỳ với họ và các cuộc hội họp sẽ hữu ích hơn và kết quả hơn.

  • HƯỚNG DẪN CÁ NHÂN HỘI VIÊN: ĐÀM THOẠI VỚI BỀ TRÊN VÀ LINH HƯỚNG

Một phần nghệ thuật thiêng liêng của giám đốc là cổ xúy sự thiện của cộng thể và đồng thời cổ xúy phúc lợi cá nhân của từng hội viên theo một phương cách đến nỗi để làm cho trách vụ hiểu biết họ là ai như một Salêdiêng và trách vụ tăng trưởng trong chân tính ơn gọi của mình nên dễ dàng. Ở đây chúng ta đang bàn đến vấn đề hằng ngày là mối tương giao cá nhân và cộng thể.

Ngày nay có một nhấn mạnh mới về những vấn đề và phẩm giá của từng người và điều ấy chính đáng.[544] Ta phải đặt tầm quan trọng thích đáng cho sức khỏe của mỗi người, sự đào luyện tri thức, đời sống thiêng liêng, nhu cầu riêng tư và nhu cầu diễn đạt chính mình. Trong bối cảnh này giám đốc phải thực sự gặp gỡ từng hội viên trên nền tảng cá nhân, hiểu biết tình trạng của họ và cung cấp những gì họ cần thiết. Giám đốc phải hoàn toàn kính trọng ân điển cá nhân của mỗi người, trong khi đồng lúc phục vụ thiện ích chung của các hội viên.

Hai vai trò này không phải không tương hợp nhau được. Giám đốc có thể bảo vệ thiện ích chung và thiện ích từng hội viên cùng một lúc. Trên bình diện lý thuyết chúng ta có thể hiểu rằng qua “sự sinh động thiêng liêng của mình” giám đốc có thể cổ xúy sự thiện của từng cá nhân trong khung phúc lợi toàn diện của cộng thể, bởi vì công việc của Thánh Thần được sắp đặt một cách khách quan vì sự thiện của cộng thể. Khi ta làm việc vì phúc lợi chân thật của mình, ta đồng thời đóng góp vào sự thiện của cộng thể, và bằng cách đóng góp vào sự thiện của cộng thể, ta thật sự cổ xúy sự thiện của chính mình.

Đây là những chân lý không thể chối cãi và một giám đốc lại mất khoé nhìn ấy là không thể tưởng được. Một tình trạng đặc thù thậm chí có thể đòi hỏi một loại tu đức mà đòi hỏi hy sinh vì thiện ích chung: “Mỗi người đặt những khả năng và những ân điển đặc biệt của mình nhằm phục vụ sứ mệnh chung. Được cộng thể trợ giúp, bề trên có trách nhiêm phân định và sử dụng chúng cho đúng. Nếu những nhu cầu tức thời của đức ái và việc tông đồ đòi hỏi hy sinh những dự tính và kế hoạch tự nó chính đáng, thì mọi hội viên hãy chấp nhận trong đức tin và kiên nhẫn điều mà đức vâng phục đòi hỏi.”[545]

Thực sự có nhiều trường hợp mà những mâu thuẫn hằng ngày không thể né tránh. Ở đây không phải là một vấn nạn về những mâu thuẫn thuộc về đời sống tu sĩ đúng nghĩa. Chúng thật thông thường trên bình diện xã hội. Và cha không thể chỉ mãn nguyện lập lại những nguyên lý quan trọng rồi không làm gì nữa, với hy vọng rằng thời gian và những hoàn cảnh sẽ dẫn cha có những quyết định đúng đắn. Không có những câu trả lời làm sẵn. Đối với từng vấn đề giám đốc cần phải tìm tòi giữa những giải đáp khả thi một giải đáp dường như đáp ứng lại những nhu cầu khác nhau cách tốt đẹp nhất.

Ngài sẽ phải khảo sát những ý kiến thuận – nghịch trong mỗi trường hợp, phải dùng đến trí tưởng của mình, và giữ đôi chân trên đất bằng; ngài hãy là một con người cầu nguyện và quân bình và đồng thời hãy chân thành và nói năng rõ ràng.

Một cuộc đàm thoại thật sự nhằm tìm kiếm chân lý, hay nói cách khác, một nỗ lực thực sự để phân định can dự tới giám đốc, cộng thể và cá nhân liên hệ, là phương cách tốt nhất để đảm bảo tính khách quan của một quyết định và sự vui vẻ lớn lao hơn để theo điều được quyết định, mặc dù nó đòi hỏi hy sinh nào đó.

3.1 Đàm thoại với Bề trên

  1. Một khủng hoảng và những nguyên do

Đối với việc đàm thoại cá nhân với giám đốc, chúng ta vừa trải qua giai đoạn xác định lại và canh tân, cũng như đã xảy ra với những điểm căn bản khác trong đời sống tu sĩ. Nếu tới một mức nào đó việc thực thi này hầu như ở mọi nơi bỏ đi không dùng đến, thì điều này trước tiên do sự kiện là một hiểu biết về bản chất đích thực của nó đang nổ ra và cũng gồm những yếu tố khác nữa.

Cha sẽ chắc chắn ghi nhận rằng không có sự canh tân nào xảy ra trong Tu hội mà không có đau thương.

Điều này càng là thế trong một thời kỳ lịch sử như hiện tại này; nơi đây những ý tưởng thịnh hành chắc chắn không cổ xúy cho việc thực thi tình cha của giám đốc, hay cũng không giúp hội viên tin tưởng ngài.

Hơn nữa, những yếu tố bên ngoài có một ảnh hưởng trên phong thái sống của chúng ta đến nỗi giám đốc đã phải đảm nhận một vài trách vụ và trách nhiệm có khuynh hướng kéo ngài ra khỏi trách vụ đệ nhất của ngài- chăm lo cho các hội viên- và điều ấy không để lại một chỗ cho một sự bình lặng tâm lý và thiêng liêng cần thiết nếu cuộc đàm thoại với bề trên phải xảy ra trong một bầu khí thích hợp.

  1. Đàm thoại với bề trên như một việc thực thi sự hoàn thiện

Chúng ta có một ghi chú không đề ngày tháng do Don Bosco viết. Trong đó ngài đề ra năm chuẩn mực để một nhà Salêdiêng chạy ngon trớn. Chuẩn mực đầu tiên là “tuyệt đối cần phải đàm thoại với bề trên.”[546] Đối với Don Bosco, đàm thoại với bề trên là một “trong những chuẩn mực cơ bản cho các nhà Salêdiêng.”[547] Nó là “chìa khóa cho trật tự và luân lý.”[548] Vì thế bề trên phải chu toàn nhiệm vụ này “với sự chuyên chăm lớn lao bao có thể;”[549] Chuyên chăm thông thường mà thôi thì không đủ.[550]

Đấng Sáng Lập thánh thiện có nhiều lý do để nói như thế. Một số là những động cơ thực tiễn thuộc về tinh thần gia đình của chúng ta, về việc điều hành thích đáng cộng thể đào luyện và quan tâm đến những nhu cầu của cá nhân theo nghĩa là dành một tình yêu đặc biệt cho từng hội viên hợp với đức ái mục tử được chính Đức Kitô tỏ lộ.[551]

Nhưng những lý do quan trọng nhất là những lý do có bản chất siêu nhiên. Đàm thoại thân tình với bề trên có nguồn mạch trong bầu khí siêu nhiên của Nguyện xá, trong môi trường là sự đơn giản và tín nhiệm được tạo nên trong bí tích Giao Hòa và được trải rộng ra đời sống thường nhật với khát vọng hướng đến sự hoàn thiện và thánh thiện vốn thúc đẩy những thanh thiếu niên tốt lành hơn “tỏ cho bề trên hay tất cả những bí mật của chúng với một lòng đơn sơ ngay thẳng của một đứa trẻ, khi em vạch cho người mẹ xem những vết cào, những vết thâm xước và những nốt ong chích của nó.”[552]

Theo Don Bosco nghĩ, đàm thoại với bề trên không bao giờ muốn là một hành vi quản trị hình thức. Nó luôn là một hành vi siêu nhiên, một thời khắc đặc biệt quan trọng trong đời sống chúng ta như những tông đồ được thánh hiến. Trong truyền thống chúng ta, nó được nối kết với Dọn Mình Chết Lành hàng tháng[553] và được coi là “một trợ giúp mạnh mẽ để tiến bộ trong nhân đức,”[554] hay chính xác hơn, là trường học chân chính dạy các nhân đức, schola virtutum, chứa đựng “một phần của tuổi thơ ấu thánh thiện; tuổi thơ ấu này được Chúa chúng ta căn dặn nhiều; nhờ đó và do đó tâm hồn được bảo đảm bình an chân thật.”[555]

Don Bosco gán cho cuộc đàm thoại với bề trên một vai trò được nhiều sự trợ giúp thiêng liêng thực hiện mà một tu sĩ chiêm niệm tìm được trong sự bình an và thinh lặng của tu viện: “Rendiconto hữu ích cách đặc biệt cho chúng ta, những người có rất ít cuộc sống chiêm niệm.”[556] Và Don Albera đúng với tư tưởng của Don Bosco khi viết: “Sự chăm sóc và đào luyện của chính cá nhân là quan tâm hàng đầu (của giám đốc), và để đạt được mục đích ấy, không có phương thế nào tốt hơn là rendiconto.”[557] Chiều kích thiêng liêng của nó mặc lấy thêm một ý nghĩa nếu cha ý thức rằng nó đã khởi đầu như một cuộc linh hướng và được tiếp diễn như thế một thời gian dài. Sau này người ta ấn định sự phân biệt tòa trong và tòa ngoài. Sự phân biệt này là nguyên nhân của nhiều căng thẳng khá mãnh liệt. Nhưng nay chúng đã được vượt qua trên bình diện pháp lý và thực tiễn cũng như trong thái độ của các hội viên.[558]

Mới đây trong một nghiên cứu về chính mình do Tu hội thực hiện trong Tổng Tu Nghị 21 ta đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng, bổn phận, phong cách của cuộc đàm thoại với bề trên: “Bề trên hãy coi như một trong những bổn phận chính yếu của mình là việc luôn sẵn sàng để phục vụ cộng thể, đặc biệt trong việc tiếp nhận và lắng nghe các hội viên. Cuộc đàm thoại thân tình này là một thời khắc ưu tiên để đối thoại. Nó giúp ích nhiều cho sự tăng trưởng thiêng liêng của cá nhân lẫn cộng thể. Trong bầu khí tin tưởng lẫn nhau mỗi hội viên phải năng gặp gỡ giám đốc, cho ngài biết tình trạng sức khoẻ của mình, việc tông đồ tiến hành ra sao, những khó khăn mình đang phải đối diện trong đời sống tu sĩ và bác ái huynh đệ, và tất cả mọi điều có thể đóng góp vào lợi ích của cá nhân hội viên và cộng thể.”[559]

  1. Phong thái đàm thoại với bề trên

Đối với Don Bosco, cuộc đàm thoại với bề trên xảy ra ngay sau khi thú nhận tầm quan trọng như một sự diễn tả của tình cha thiêng liêng và sự tín nhiệm lẫn nhau. Ngài tuyên bố điều này trong chúc thư thiêng liêng của ngài: “Giám đốc hãy hết sức đừng bao giờ bỏ việc rendiconto hàng tháng. Trong dịp đó mỗi giám đốc hãy trở nên người bạn, người anh và người cha của những người thuộc quyền mình.”[560] Trong sự thân mật của cuộc đàm thoại thân hữu này, cha đại diện Don Bosco. Nhưng khuôn mẫu thực sự của cha là Đức Kitô, như Ngài đã mặc khải tình yêu của Chúa Cha cho chúng ta và là Đấng đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ.[561] Loại phục vụ này là một nghệ thuật mà ta không bao giờ học cho đủ được. Nó là một đặc sủng của Thánh Thần ta phải triển khai. Cuộc “đàm thoại với bề trên” tự thân không hiện hữu. Điều hiện hữu là cuộc gặp gỡ cá nhân của cha với những hội viên cá vị và loại biệt của cha, trong sự khác biệt của họ và những hoàn cảnh đặc thù của đời sống họ. Mỗi ngôi vị đều khác nhau và cha phải hiểu họ và giao tiếp với họ như chính họ, nếu cha muốn cuộc đàm thoại mang lại những kết quả tích cực. Thực vậy, cuộc đàm thoại với bề trên nhắm cổ võ sự tự do của người hội viên, nghĩa là, giúp họ hiểu được chính mình và những nguyên lý của mình đầy đủ hơn hầu dần dần có khả năng tổ chức cuộc sống dấn thân và phục vụ của họ cách tốt đẹp hơn. Điều này đòi hỏi nơi phía cha một toàn bộ của những đường nét và thái độ mà nếu xao nhãng chúng thì quả thực là thiếu khôn ngoan:

  • Hiểu biết, hầu thích ứng với từng cá nhân

Là bề trên, cha thường tiếp xúc với các hội viên của cha, nhưng phần đa những giao tiếp này đều ngắn ngủi và thực tế. Còn đàm thoại thân tình thì hoàn toàn khác. Nó là cuộc gặp gỡ làm phát huy những giá trị của đời sống Salêdiêng và đời sống cá nhân của người hội viên. Nó phải liên quan đến những nhân đức, thái độ, giới hạn của họ, tới thành công và thất bại, niềm vui và nỗi buồn cùng những nhu cầu sâu kín nhất của họ nữa. Cuộc đàm thoại thân hữu cho cha dịp “hiểu biết các hội viên từng người một,” như Don Bosco diễn đạt. Tất cả chúng ta đều có một vài nét chung, nhưng “mỗi ngôi vị đều độc đáo bởi vì những tính chất đặc biệt của họ và nhịp điệu tăng trưởng của họ; bởi vì những luồng ảnh hưởng họ gánh chịu và những khả năng họ có thể phát triển; bởi vì đau khổ và niềm vui đang liên lỷ nhào nặn tính khí của họ và tiếng gọi độc đáo mà Chúa ban cho họ.”[562]

Cha được mời gọi để đi vào thế giới nội tâm này với sự run rẩy và tín thác, dù không chút xoi mói[563] và luôn kính trọng tự do của cá nhân. Cha phải thực sự hiểu biết trạng huống và cách thức người hội viên nhìn xem và kinh nghiệm trạng huống ấy. Cha phải để ý đến kinh nghiệm về tuổi tác của họ, đến những quan tâm của họ, những cam kết tông đồ và những nhu cầu sâu xa của họ. Thánh Bênêdictô viết: “Regere animas est multorum servire moribus.”

Loại nói chuyện chung chung với bề trên, trong đó điều họ nói có thể áp dụng cho bất kỳ ai thì tác hại hơn là gây ích. Thiên Chúa biết và kêu gọi chúng ta đích danh.

  • Biết cách lắng nghe để đạt được một sự hiểu biết đúng đắn.

Giám đốc là một người lắng nghe giỏi. Giúp một hội viên, nếu người đó nhút nhát, diễn tả chính mình mà không ngắt lời họ quả là tốt đẹp. Cha hãy tìm ra một chốn im lặng nơi đó cha sẽ không bị quấy rầy và lo sao tránh làm bất kỳ điều gì khi một hội viên đang tâm sự với cha. Cha đừng nói xen vào cách không suy nghĩ và tạo ra ấn tượng là một người biết mọi sự và có mọi giải đáp. Chúng ta đọc biết rằng khi Don Rua tiếp đón một hội viên, ngài kính cẩn nghiêng về phía hội viên đó, hoàn toàn chú tâm đến điều người đó phải nói. Don Bosco thường quen làm giống như vậy. Chỉ nguyên việc có thể diễn tả mình hoàn toàn tự do đã tạo cho một người tình cảm về sự thành tựu. Nếu cha quá bồn chồn đến nỗi phải bắt đầu đưa ra những giải quyết trước khi người hội viên kết thúc điều họ muốn nói, cha liều mình đưa ra những giải đáp sai lạc đối với những vấn đề không được diễn đạt đầy đủ. Chắc chắn điều này không có lợi cho hình ảnh của cha là một người đem lại những giải đáp có thẩm quyền.

  • Biết làm thế nào để đồng cảm với người khác hầu chia sẻ những vấn đề của họ

Giám đốc phải tránh sai lầm và lắng nghe một hội viên và đối thoại với họ chỉ trên bình diện thuần lý mà thôi, bỏ qua bình diện tình cảm mà luôn luôn đang được thịnh hành hơn nhiều. Cha không nên bị tình cảm ảnh hưởng quá, nhưng chắc chắn người hội viên có quyền kỳ vọng cha hiện diện với họ cách huynh đệ, bạn hữu và toàn diện. Cha có thể hiểu rõ rằng đằng sau những lời và kỹ xảo biện hộ vốn bộc lộ ra một sự căng thẳng nào đó, có những nhu cầu sâu xa và tình cảm phong phú kêu gọi đến một sự thông cảm và một sự đáp trả hữu ích.

  • Hướng dẫn hội viên

Don Bosco nói: “Trong rendiconto, giám đốc nên dành cho mỗi người trọn thời gian họ cần thiết để nói lên điều họ muốn nói, để diễn tả những nhu cầu và ước muốn của họ”[564] và “ngài phải tiến hành cách kiên nhẫn và trong tinh thần cầu nguyện.”[565]

Bây giờ chúng ta hãy coi xem cách ‘tiến hành này’ mà Don Bosco nói đến. Dưới diện những kỳ vọng của các hội viên, giám đốc có thể đảm nhận một trong những thái độ sau:

- Ngài có thể đóng vai trò của một chuyên viên và trả lời cho hội viên bằng cách cho họ một ý kiến rõ ràng (“con đúng”) hoặc (“con sai”) và cố gắng trực tiếp ảnh hưởng những quyết định của họ.

- Ngài có thể từ chối vai trò chuyên viên và đảm nhận một thái độ khích lệ, thâm tín vững vàng rằng người hội viên có thể và phải đạt tới độ là có khả năng tự mình quyết định. Giám đốc cho phép họ tìm kiếm và quyết định.

- Ngài có thể từ chối vai trò chuyên viên nhưng cộng tác với người hội viên cách huynh đệ khi họ cùng nhau khám phá những nguyên lý mà một quyết định phải dựa vào đó. Những nguyên tắc này sẽ chạm đến chính ý nghĩa và ơn gọi của người hội viên.

Giám đốc nên lấy thái độ nào? Ta không thể đưa ra một câu trả lời đơn độc nào, bởi vì trạng huống thật khác biệt nhau! Nhưng ta có thể thêm một ít tư tưởng về vấn đề này:

- Giám đốc không có quyền từ khước vai trò của mình là một người hướng dẫn, nhưng cách thức tốt nhất để hướng dẫn và chỉ đạo không nhất thiết là góp ý hay khuyên bảo hoặc ra các chỉ thị.

- Điều quan trọng là tìm được một cách thức thực thi một tổng hợp giữa sự hướng dẫn bên ngoài, thông truyền những nguyên tắc và làm cho cá nhân chín muồi tận bên trong.

- Từ quan điểm này, thái độ hòa hợp tuyệt hảo nhất hai nhu cầu này là thái độ cộng tác vốn có một vài hàm ý:

+ Nó có nghĩa là được thúc đẩy do một ước vọng chân chính là hiểu được cách nói của người hội viên, là nghĩ theo hạn từ của họ, là khám phá thế giới của họ. Nói cách khác, là nắm bắt điều trạng huống muốn nói với họ.

+ Nó có nghĩa là chân thành tin tưởng vào khả năng của các hội viên để chính mình quyết định. Do đó nó muốn từ bỏ bất kỳ cố gắng nào để làm cho người hội viên có thay đổi theo cách tư duy của cha và áp đặt những giá trị của cha trên họ, hoặc bằng cách công khai hay gián tiếp.

+ Nó có nghĩa là chân thành cộng tác với họ bằng cách sẵn sàng giúp họ phân định được những đòi hỏi chuyên biệt nào đó mà Thiên Chúa muốn được thực hiện trên họ, hầu họ có thể chu toàn tiếng gọi của Ngài.

  1. Những đề tài cho cuộc đàm thoại với bề trên

Theo đúng phong thái hiền phụ của Don Bosco, có một số đề tài biệt loại phải được nói đến trong cuộc đàm thoại với giám đốc. Chúng liên quan đến con người và những hoạt động của hội viên. Trong bầu khí tin tưởng và tín nhiệm lẫn nhau, họ được khích lệ để nói cho cha biết “tình trạng sức khoẻ của họ, cách thức tiến hành công việc tông đồ, những khó khăn họ gặp trong đời sống tu sĩ và bất kỳ điều gì có thể đóng góp vào hạnh phúc của từng cá nhân hội viên và của cộng thể.”[566]

  • Sức khoẻ

Sức khoẻ của các hội viên là một trong những tài sản quí báu nhất của Tu hội.

Mặc dầu mỗi người chịu trách nhiệm về sức khoẻ của mình thì cha vẫn có trách nhiệm quan tâm trực tiếp đến vấn đề này. Don Bosco không “khuyên hãm mình hay phạt xác”, nhưng “làm việc, làm việc hơn nữa.”[567] Nhưng ngài cũng nói: “Hãy làm việc nhưng chỉ tới mức mà sức khoẻ của con cho phép mà thôi.”[568] Ngài nói cho các giám đốc: “Mỗi đêm cha hãy ngủ nghỉ 7 tiếng. Cha có thể du di trong khoảng một giờ khi có một lý do đặc biệt nào đó, và cũng áp dụng điều này cho các hội viên.”[569] Hãy coi xem để các hội viên không quá đầu tắt mặt tối với công việc.” “Mỗi người hãy chăm sóc sức khỏe của mình ... hầu họ có thể làm được nhiều việc.”[570]

Vì thế cha hãy để ý đến các hội viên trừ phi họ không thận trọng và làm việc quá độ, và vì thế trở thành vô ích trong cuộc sống sau này, bởi vì họ đã kiệt sức trong thời kỳ trước. Cha hãy luôn luôn thúc đẩy họ làm việc, nhưng hãy nhớ điều Vatican II nói: “Điều kiện thể lý và tâm lý ngày nay của con người nói chung không còn như xưa nữa.”[571]

Một vài sự nhượng bộ mà chỉ một ít năm trước đã được coi là không thể tưởng được, thì ngày hôm nay lại cần thiết vì những lý do sức khoẻ. Tất cả các hội viên thường không thể theo cùng một khuôn mẫu về nhịp điệu của công việc tông đồ. Một số người có những nhu cầu loại biệt trong đồ ăn, nghỉ ngơi và những nhu cầu khác. Cha hãy liệu sao cho cộng thể hiểu và chấp nhận những nhu cầu cá nhân này nhưng không nhượng bộ cho tính ích kỷ và việc tìm kiếm tiện nghi an nhàn từ phía bất kỳ hội viên nào.

Cha hãy chăm sóc đặc biệt những hội viên đau ốm. Mặc dầu có thể bất tiện, cha hãy đến thăm họ mỗi ngày nếu họ ở trong cộng thể, như Don Bosco mong muốn; và mặc dù họ phải ở nhà thương, cha hãy lo liệu sao cho họ được an ủi bởi những cuộc thăm viếng thường xuyên. Một hội viên không nên có lý do để phàn nàn rằng họ ít được săn sóc và quan tâm về phần thiêng liêng hơn là họ nhận được từ gia đình họ. Don Bosco viết trong Những kỷ niệm thân tình dành cho các giám đốc: “Cha hãy tiết kiệm trong mọi sự, nhưng hãy chắc chắn rằng những người đau ốm không thiếu gì cả. Tuy nhiên cha hãy làm cho mọi người nhớ rằng chúng ta đã tuyên khấn khó nghèo.”[572]

  • Những nhu cầu tri thức

Trong một xã hội nơi đó những nhu cầu cá nhân trở thành càng chuyên biệt và cá nhân hơn, giám đốc không thể bỏ qua những nhu cầu mà một hội viên có thể có đối với đời sống trí tuệ của họ. Lý trí của họ phải tìm thấy của ăn tương xứng theo sáng kiến được Giám tỉnh đem lại. Đây là sự đầu tư tốt nhất mà người ta có thể thực hiện được nơi một hội viên, trong khi việc làm cho tâm trí của người hội viên teo lại và khiến họ không thể thực thi công việc tông đồ cách xứng đáng và hữu hiệu thì không phục vụ gì cho Thiên Chúa cả.

Trong những buổi đàm thoại thân tình, cha có thể nhận ra những nhu cầu thuộc loại này và dùng những phương thế thích hợp để đáp ứng. Bao có thể và với một chút ít sự khôn ngoan nhìn xa trông rộng, cha hãy cố gắng khuyên nhủ các hội viên tham gia vào những khóa học và những cuộc họp cập nhật, và hãy quảng đại cung cấp sách vở và những trợ giúp khác để họ có được một loại văn hóa sẽ giúp ích cho họ trong công việc.

  • Những nhu cầu thiêng liêng

Thật không bao giờ dễ dàng để chu đáo và kiên trì trong việc sống những bổn phận của đời sống tông đồ chúng ta. Những mâu thuẫn có thể nảy sinh từ việc có nhiều ý kiến khác nhau, có sự ghen tương không nhậ